VCOMTech

Monday
Sep 01st
Text size
  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size
Home Lịch Sử Lịch sử VIệt Nam Sử Việt, đọc vài quyển - [4]

Sử Việt, đọc vài quyển - [4]

Email In PDF.

1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 

III
Đại Việt Sử Ký Toàn ThưSEX và TRIỀU ĐẠI (tiếp)


GIỐNG GIỮA: TÔI ĐÒI và QUYỀN LỰC

Hoạn quan là chỉ một tầng lớp quan chức tôi đòi nằm trong cung đình Trung Quốc và các nước chung ảnh hưởng: Việt Nam, Triều Tiên. “Hoạn” có nghĩa là thiến. Thiến là một hình phạt, trước khi có tình trạng con vật bị thiến được đem ra sử dụng. Điều này có vẻ như chứng minh tính chất ưu thế đàn ông trong mọi tổ chức xã hội loài người. Người có quyền lực thiến kẻ thất thế hơn để bảo vệ giống cái của mình, để trừng phạt kẻ kia sử dụng cái quyền của giống đực mà mình được hưởng.

Hình luật của xứ Assyrie (1450-1250 tCn., khoảng vùng Irak ngày nay) cho phép người chồng bắt gặp vợ ngoại tình thì có quyền, hoặc giết cả hai hoặc cắt mũi vợ và thiến tình địch. Trung Quốc có luật thiến kẻ phạm tội hình sự, gọi là “cung hình”. Quan chức nổi danh bị thiến là tác giả Sử kí, Tư Mã Thiên (145- khoảng 90 tCn). bị đưa vào “tàm thất” vì tội bênh Lí Lăng hàng Hung Nô. Hình luật của người Do Thái có cách dùng đá đập nát hoặc cắt bỏ bộ phận sinh dục. Ảnh hưởng truyền đến Kinh Thánh, cho rằng những người ấy “không xứng đáng đứng vào hàng ngũ dân Chúa” (Deuteronomy). Có lẽ một phần vì vậy mà giáo hội Thiên Chúa thường không dùng người thiến (trừ trong một dàn đồng ca bị Giáo hoàng Leo XIII bãi bỏ năm 1878). (Sex..., tr. 146-254). Tuy nhiên các quan quyền, vua chúa lại thấy người nam mất khả năng sinh dục là phương tiện hiệu quả để giữ gìn gia đình mình, cần thiết đến nỗi khi không được cung cấp đủ nhu cầu thì bắt dân thuộc quốc, dân bại trận kiếm người điền thế như Darius đối với dân Assyrie, nhà Minh đối với Trần, Hồ (1395, 1407).


...Thị ngóng, thị trông, thị không cái ấy

Tổ chức vốn phát xuất từ Trung Quốc nên ngoài chữ hoạn quan, thái giám, trong sử sách ta còn gặp các tên nội quan chỉ chức trách chung bên trong cung đình: người áo xanh/thanh sam chỉ quy chế y phục, trung quan, trung quyên để chỉ tình trạng lơ lửng của cái giống, cũng ẻo lả mà không phải là thuyền quyên, đàn bà con gái thực sự. Chức phận tôi đòi hầu hạ khiến người ta mượn tính cách đồng âm của chữ để diễn ra cả một vế câu đối trong đó chỉ được tính cách đích thực của loại người mất khả năng làm loạn cung đình về phương diện sinh lí để vua an tâm cai trị thần dân: thị không cái-ấy. Trong thực tế thì hoạn quan không phải chỉ là người bị thiến mà đúng còn là kẻ bẩm sinh có phương tiện sinh dục của đàn ông không hoàn hảo, những kẻ được gọi là có “ẩn cung” như trường hợp Lê Văn Duyệt. (Có thể Tống Phúc Đạm cũng vậy nếu ta bám vào chữ của sử quan được dùng là “tật ngầm” chứ không phải là “bệnh” – nhưng ông này không phải kẻ hầu trong cung cấm). Trường hợp gọi là “ẩn cung” này cũng gây nên lầm lạc do kiến thức yếu kém của thời đại: Đời nhà Nguyễn có một viên đội thị vệ bị tử hình vì ăn nằm với một hoạn quan khiến người này có thai, sinh con – đây là một người phụ nữ thật sự! (A. La Borde “Les eunuques à la Cour de Hue”, Bulletin des Amis du Vieux Hue 1918, tr. 121-122. Tác giả có thấy một hoạn quan vú vê to sồ!) Và như sẽ thấy, có dấu hiệu những người được gọi là “thái giám” đầu Lê không hẳn là “hoạn” quan. Nhưng thông thường, hoạn quan là kẻ bị hay được thiến để vào hầu hạ trong cung cấm. Cửa cung là “cửa vàng” do hoạn quan trông coi nên chức danh này có tên là Hoàng môn lệnh. Hầu hạ cung đình dẫn đến những đặc ân cho bản thân và cả gia đình. Cho nên ngay từ đời Lí đã có chiếu cấm tự hoạn (1162). Cổ Hi Lạp, ở đảo Chios có chuyên viên thiến người rồi đem bán cho nhà quyền quý. Cung cấm vua chúa Hồi Giáo có hàng bảy tám trăm nô lệ da đen bị hoạn, hầu hạ các bà.

Hoạn quan nổi danh nhất trong lịch sử Việt là Lí Thường Kiệt, “khi còn ít tuổi vì vẻ mặt tươi đẹp được sung làm Hoàng môn chi hậu”. Sử quan chép chuyện năm 1105, khi Lí Thường Kiệt chết, mà né tránh chỉ để ý nghĩa bị thiến trong chức tước nêu ra, trong lúc Phan Huy Chú về sau dùng chữ “tự thiến” trong đó không phải không ngầm có ý nghĩa hạ thấp tư cách của ông (Lịch triều...Nhân vật chí, tr. 308).

Ý nghĩa cao quý của việc hầu hạ Con Trời nằm trong tên quyển sách được ông Kim Dung kiếm hiệp hoá mà lớp người ở Miền Nam những năm 60 của thế kỉ vừa qua ai cũng nghe tên, có điều không biết đó là sách chỉ phương cách thiến an toàn: Quỳ hoa bảo điển. Lâm Bình Chi, Nhạc Bất Quần, Tả Lãnh Thiền, Dương Giáo chủ... ai cũng phải qua cái cầu “giơ dao chém phăng một cái” mới có thể bắt đầu tập luyện võ nghệ tuyệt luân, và chắc chắn sẽ trở thành võ lâm minh chủ. Chỉ có điều bất tiện là các bậc anh hùng cái thế này sau đó râu rụng sạch, tiếng nói eo éo, chạy xa vợ, hay như Dương Giáo chủ võ nghệ cao cường hơn thì ru rú trong phòng kín đan thêu, mê trai. Quỳ hoa bảo điển là “sách báu khuôn thước của hoa quỳ”. Vua là mặt trời để hoa quỳ hướng theo phía mặt trời mọc, mang tên khác: hướng dương. Lòng quỳ một dạ hướng hương. Ý nghĩa trách vụ và tâm cảm của hoạn quan cũng tương tự. Một linh mục qua Trung Quốc, viết về các mặt sinh hoạt không thường được nói ra, trong đó có cả chuyện về Cái bang gần gần như thứ ông Kim Dung làm mê thanh niên Việt. Tên sách âm theo lối latinh nhưng dễ nhận ra, và tấm hình kèm theo cho thấy “chuyên gia” mà R. Tannahill biết người La Mã gọi là “barbers”, đã làm thật gọn (“shave”) (LM. ?, ?, Bibliothèque Payot, 1949, 1950?).

Ở vùng quê miền nam Trung, trước 1945 vẫn thường có những người đàn ông làm nghề đi dạo thiến gà trống, chó, heo. Tiếng rao “heo, THIẾN... đây” có khi kèm theo tiếng ống tiêu thổi đã làm cho chó chạy theo sủa vang cả xóm làng, trẻ con chạy trốn vì sợ, khiến sản sinh ra câu mắng: “Mặt như thằng thiến...!” Họ dùng lọ nghẹ, nghệ và muối bôi lên vết mổ để cầm máu, và xong! Đôi khi vừa mới luồn tay dưới bụng, gà kêu “ót” một tiếng, lăn quay ra. Cũng có lúc vài ngày sau con heo mới chết. Không hề gì, rủi ro của khoa giải phẫu lúc nào cũng có. Thợ thiến người hẳn có chuyên môn cao cấp hơn, tuy ta không nghe nói đến. Người La Mã còn để lại cho đời một loại dụng cụ thiến hoàn hảo, dọn sạch cả hai phần. Người bị thiến nằm nghỉ nơi được sưởi ấm, không có gió máy, vì thế ta mới thấy Tư Mã Thiên thọ phạt mà được gọi là gởi vào “tàm thất” (nhà nuôi tằm). Trần Nhân Tông đi dạo, thấy người trong mộng, bảo hoạn để vào hầu, đặt tên là Phạm Ứng Mộng (1254). (Hành trạng người này được chép sai có vẻ giống như của Mạc Hiển Tích đời Lí, vì thấy ông ta còn sống đến hơn một trăm năm sau, cuối đời Minh Tông, đòi chết thế thân cho vua, 1357). Sử ghi rằng tiền cho để thiến lên đến 400 quan. Đó là một số tiền khá lớn, vì Lê Tắc cho biết (An Nam chí lược, tr. 222), chắc là cùng thời với ông quan hoạn (“đời gần đây”, Tắc hàng Nguyên năm 1285), gian phu bị bắt gặp muốn khỏi bị giết phải nạp 300 quan chuộc mạng. So sánh ra thì thấy việc thiến có vẻ không bảo đảm thành công cho lắm!

Vì là tập tục truyền từ Trung Quốc nên chắc hoạn quan Việt cũng đối xử tương tự với “bảo vật” họ phải chia lìa. Một thuyết cho rằng tu sĩ thờ Nữ thần phồn thực Sybèle ở La Mã, sau khi tự thiến liền cầm bảo vật chạy tung ngoài đường cho đến khi mệt đuối mới ném qua cửa sổ một ngôi nhà gần đấy. Nhưng thông thường hơn, là họ kiếm một chỗ chôn theo nghi lễ. Người Trung Hoa lại giữ gìn thật kĩ trong một hộp kín, để trên kệ, chờ ngày chết chôn theo cho thân xác tròn vẹn. Mãi đến cuối thế kỉ XIX, hoạn quan còn phải đem trình diện cho Trưởng thái giám làm bằng cớ trong những dịp thăng thưởng.

Thị là hầu... thị mang cái ấy

Thông thường, khi nói đến người hầu hạ trong cung là người ta nghĩ ngay đến người bị thiến. Sai lầm từ bên ngoài dân chúng vốn cũng là do sử quan mà ra. Phê bình chuyện Giản Định Đế nghe lời “nội nhân” giết công thần (1409), Ngô Sĩ Liên nói rõ đó là “hoạn quan”. Chữ “nội thị” cũng mang lại cùng một lầm lạc.Từ hải không cho thấy có chữ “thị” nào nghĩa là hoạn quan cả. “Người trong nhà”, “người hầu cận” đều được sử gia cho hiểu là “người bị thiến” trong lúc thực tế không phải lúc nào cũng như vậy. Sứ giả Tống Cảo thấy Lê Hoàn đánh đòn người hầu, đuổi ra, cho phục chức, những người này không phải lúc nào cũng bị thiến. Tước Phúc Hầu của Đỗ Thích đời Đinh mang chữ “hoành” đi theo cho thấy đó là “quan nô bộc”. Cho nên, lại cũng như chuyện “cắn cu”, chỉ có sử quan trước Ngô Sĩ Liên mới “thực thà” hơn để chỉ rõ như thế nào là hoạn quan: “Mùa đông (năm 1184), sách Tư Nông, sách Trịnh, sách Ô Mễ làm phản, vua sai quan Thái phó là Vương Nhân Tử đánh dẹp. Vương Nhân Tử sai người trong châu là Phạm Phẩm đóng giữ nơi ải Ông Trọng, Trương Nhạn và Phạm Đỗ đóng giữ làng (sách?) Bái, Đoàn Tùng đóng giữ Khả Lão. Rồi Vương Nhân Tử đánh thẳng vào hai sách Đăng Bái và Vạn Mễ mà san bằng đi. Lúc tiến quân đến trại La Ao thì bị rợ Lão đánh lén, quan quân thua to. Vương Nhân Tử chạy về núi An Cối thì bị công hãm chỗ bùn lầy và bị giống rợ Lão đâm chết. Bọn Sơn Lão nói với nhau rằng: ‘Ngày nay có một người đàn bà bị ta đâm chết’ rốt cuộc mới biết đó là Vương Nhân Tử. Tìm riêng trong khoảng đầm lạch ở trên núi thì được cái thây ấy.

Vương Nhân Tử là hoạn quan nên giống người đàn bà”. (ĐVSL, tr. 222). Từ “thái giám” cũng gây nên lầm lẫn như vậy. Tên thần Bạch Mã Thái Giám là từ cách hiểu thông thường đó khi dân chúng Việt gán cho một hình tượng con ngựa Balaha. Nhưng thật là sai lầm khi nhìn vào một số quan chức đời Lê trong chiến tranh chống Minh, lan qua buổi đầu xây dựng triều đại. Các “thái giám” Lê Khả, Lê Khuyển, Lê Chửng, Lê Nguyễn được nhắc trong các năm 1426, 1427, 1428. Sau chiến tranh, các công thần được ban quốc tính để họ Lê có vây cánh đông giữa Thăng Long của họ Trần. Đến khi chỗ đứng chân đã vững, Lê trả lại họ cũ cho con cháu các công thần, nhờ đó ta thấy được họ gốc của vài người. Khả họ Trịnh, sau này có tên trong những người tôn Bang Cơ (Nhân Tông) lên ngôi, đánh Chiêm (1446), cuối cùng bị giết (1451), hành trạng như những người khác trong sự tranh chấp của các nhóm thân tộc giúp Lê Lợi. Lê Khuyển có lẽ là Thái giám Đỗ Khuyển, người được lệnh soát nhà Lê Ngân năm 1437. Vẫn biết rằng thái giám / hoạn quan cầm quân được (chính vì là hoạn quan thân tín mới cầm quân như Lí Thường Kiệt, Vương Nhân Tử nói trên) nhưng xét các chức phong cho những “thái giám” của Lê thì không có ý nghĩa gì về nhiệm vụ của hoạn quan cả. Năm 1434, Lê Khuyển làm Nhập nội Thái uý, vẫn kiêm Hải Tây đạo chư vệ quân sự Tháigiám. Năm 1439, Trịnh Khả có chức rất lớn: Hành quân tổng quản coi các việc quân của Xa kị vệ, quản lĩnh (kiêm) Thiết đột hậu dực thánh quân, thái giám ngự tiền lục quân, coi các đội Ngự tiền võ sĩ, Ngự tiền trung quân! Rõ ràng ở đây “giám” chỉ có nghĩa là trông coi, kiểm tra xem xét. Vấn đề khiến ta phải xét đến gốc của chức tước và thực tế của gia đình họ Lê tù trưởng, cả hai liên hệ trong một tình trạng tiếp nhận văn hoá ở Đại Việt.

Khởi đầu, chức Thái giám không phải xuất phát từ các triều đại Hán Trung Quốc mà của một triều ngoại tộc chịu ảnh hưởng Hán: Liêu là nước đầu tiên đặt hai chức Thái giám và Thiếu giám. Bắt chước theo cũng là một nước ngoại tộc, đã vào cai trị hẳn Trung nguyên: Nguyên. Triều Minh của dân Hán có chức Chưởng ấn Thái giám của Nội quan, lại là một triều mà nội quan có quyền thế lấn lướt từ trong ra ngoài, cho nên thái giám trở thành đồng nghĩa với nội quan / hoạn quan.

Xét các nhân vật “thái giám” của Lê nói trên, ta thấy họ thuộc thành phần gốc gác phần lớn là những đầy tớ của Lê Lợi vốn nhan nhản trong triều. Trịnh Khả và Lê Khuyển được xếp vào bậc công thần hạng 5, trong đó cùng hạng là Nguyễn Xí, người đóng vai trò phù trợ quan trọng cho Lê Thánh Tông sau này. Chức tước của Lê Ê (công thần hạng nhất – 1428) sau khi thành công (1434) cũng còn chứng tỏ tính cách đầy tớ sai phái như thế: Điện tiền đô kiểm điểm, đồng Thái giám nội giám, nội ngoại chư dịch,chức vụ và vị trí đúng với lời Trung hưng kí của Thánh Tông chê Lê Ê “không biết một chữ!” Đại đô đốc Lê/ Đỗ Khuyển làm việc lục soát nhà Lê Ngân như đã nói, bị đời tiếp theo chê: “như thỏ khôn giữ mệnh”. Làm ông tù trưởng thì đầy tớ không cần phải thiến nên những “thái giám” nói trên không phải là hoạn quan. Có thể nghĩ rằng tuy đời Minh, ngang với Lê, đã thông dụng từ thái giám có nghĩa là hoạn quan, nhưng để tổ chức triều đại giúp họ Lê phụ đạo vừa xuống đồng, các nho sĩ Trần Hồ vốn học sách xưa, chưa up to date, nên vẫn dùng tên quan chức cũ. Điều này cũng là hợp với thực trạng của ông chủ Lê mới mà không làm ngượng các người đương chức. Tất nhiên là với sự phát triển triều đại sẽ có những hoạn quan thực thụ, tuy ta không thể nào biết rõ trong số nội quan của Lê ai là người đáng được “chính danh”.

Nội quan thực thụ cũng không phải toàn là người bị/được thiến. Có những người nhờ có sự bất toàn của cơ quan sinh dục mà được tuyển vào cung. Tả quân Lê Văn Duyệt lúc chưa cầm quân là một. Chúng tôi không rõ bản chữ Hán là gì mà người dịch Đại Nam liệt truyện (Q. 22) chuyển chữ theo kiểu e dè, là ông “sinh ra không dái”, còn lời loan truyền trong dân chúng thì phân biệt rõ hai phần của cơ quan sinh dục, nên cho rằng ông chỉ thiếu phần chính, bị thu nhỏ, theo lối nói kín đáo là có “ẩn cung”.

Chứng nhân ngoại quốc đương thời, John Crawford (1822) đã nghe được “tiếng nói hơi nhỏ và dịu như một phụ nữ”, và chúng ta thì nhìn bức tranh ở Lăng Ông Gia Định cũng thấy dáng mặt mai mái mà đoán hùa theo điều đã hiểu. Vì là người của thời đại gần, nên ta nghĩ tiếng đồn ông có bộ phận sinh dục nhỏ là điều xác thực.

Vua chúa dùng người có khuyết tật vào cung khỏi cần phải thiến thì cũng tiện, nhưng khi có kẻ moi móc ra thì lại giật mình. Triều Càn Long (1736-1796), Tể tướng xung đột với hoạn quan, liền tâu với Hoàng đế: “Các hoạn quan tuy bị cắt nhưng lâu ngày có thể mọc ra lại. Thần nghe chuyện đó từng xảy ra trong triều Minh, và đã phát sinh những chuyện xấu xa trong cung cấm, nên để đề phòng tái phát, xin đem các hoạn quan ra kiểm tra để cắt lại”. Hoàng đế tuy thường nghe lời cận thần hơn quan triều nhưng trong trường hợp này thì phải chọn lựa “entre le meilleur et le pire”, giữa đầy tớ và “vợ”, nên cho lệnh thi hành ngay. Kết quả ông tể tướng tha hồ “cắt” và có hoạn quan đã chết vì vụ kiểm tra này. R. Tannahill, dẫn theo người khác, kể như trên và ngờ rằng không có chuyện “mọc lại” mà chỉ có chuyện về những mảnh đầu thừa đuôi thẹo của các thợ hoạn chủ tâm làm lấy năng suất, không kĩ nên còn sót mà thôi. Nhưng chúng tôi nhớ đã đọc trong một quyển truyện Tàu mỏng thì đó là chuyện cắt các ông có ẩn cung được chọn vào hầu từ lúc nhỏ, nghĩa là chuyện mọc lại (lớn theo tuổi) là điều tự nhiên, và trong truyện có chi tiết đè ông trưởng Thái giám ra, cắt bằng dao tre!

Theo quan niệm truyền dòng, hoạn quan phải có con để nối dõi tổ tông, thờ cúng mình sau khi chết đi. Thế là họ phải nuôi con nuôi, hoặc từ người xa lạ đượcchọn lựa, hoặc ngay ở bà con thân thuộc. Hoạn quan Phạm Bỉnh Di bị Lí Cao Tông giết (1209) cùng lúc với con là Phạm Phụ. Hoàng Ngũ Phúc (1713-1776) của Trịnh Sâm có con là Hoàng Ngọc Bảo. Lê Văn Duyệt lấy cháu gọi bằng bác làm con thừa tự, nuôi Lê Văn Khôi (Bế Văn Khôi, Nguyễn Hựu Khôi) gốc là người Nùng của tù binh từ miền Bắc. Vinh hiển của hai lớp người đó, nối nhau cũng có mà khổ nhục cũng không chừa khi phải thất thế.


Quyền lực đầy tớ

Hoạn quan trước tiên là để phục vụ trong cung cấm, trong gia đình nhà vua. Chính vì vai trò đó mà họ bị khinh miệt nhưng cũng chính nhờ đó mà họ có quyền uy. 

Với một tổ chức quyền bính còn nhỏ thì người chủ tể phải tin ở kẻ thân thuộc trước hết, trong đó có tay chân trong nhà. Ông Quách Tuấn kia nếu không chịu hoạn thì không thể nêu danh trong sử sách với tên Lí Thường Kiệt được. (Hữu Ngọc - Nguyễn Đức Hiền, La Sơn Yên Hồ Hoàng Xuân Hãn. Nxb. Giáo dục 1998, tập II, tr. 496). Trần Thái Tông muốn trao chức Hành khiển (điều hành việc nước, có lúc, có người như Tể tướng) cho Phạm Ứng Mộng nhưng bảo phải thiến, vì triều mới còn vướng tục lệ cũ của Lí, buộc người được trao quyền phải là hoạn quan. Cho nên, khi tổ chức chính quyền phức tạp hơn, cần có nho sĩ vào làm việc trong các sảnh, hình, viện của chính phủ vào tháng 4âl. 1267, sử quan TT coi việc bổ nhiệm lấn át vào địa hạt của hoạn quan như thế là một thay đổi trọng đại. Nhưng ngay cả khi cần phải có một tổ chức ngoại quan để toả rộng quyền hành trong phạm vi cả lãnh thổ thì hoạn quan là người gần gũi vua, trung tâm quyền bính, vẫn giữ vị thế đáng kể, có khi khuynh đảo cả triều đình.

Tất nhiên vị trí gần vua là lợi thế nhưng tính cách riêng của hoạn quan, nằm trong sự bất toàn của cơ thể – và ảnh hưởng nảy ra từ sự bất toàn đó, không phải là không quan trọng trong sự phát sinh những cung cách hành xử vượt thường, quái gở nữa, của hoạn quan. Trước nhất, tâm tình của hoạn quan cũng nằm trong tâm tình của người bị thiến nói chung. Tám năm sau khi bị thiến, Tư Mã Thiên còn cảm thấy đau đớn: “Mỗi khi nghĩ đến mối nhục đó thì mồ hôi còn thấm ướt cả lưng áo. Tôi chỉ đáng được làm kẻ canh cửa phòng cho đàn bà, tốt hơn là nên vào ẩn tận sơn cùng núi thẳm...” Sự bất toàn đó khiến cho người ngoài nhìn hoạn quan như một khối thịt dị dạng, có bộ mặt buồn thảm. Chắc là cho dù tự nguyện, họ cũng mang mối bất mãn với hệ thống chính trị xã hội đã khiến cho họ phải thiệt thòi trong một khía cạnh sống. Trong hệ thống phương Đông thì họ luôn luôn bị lớp nho sĩ ganh ghét, khinh miệt. Hàn lâm Đinh Củng Viên chơi khăm, viết chiếu không đưa cho hoạn quan Lê Tông Giáo chuẩn bị trước để ông này lòi sự dốt nát trước triều đường (1288). Sử quan nho học xưa cứ mỗi lần đặt bút xuống là chê hoạn quan dốt nát, ngay cả khi có dịp khen thì cũng chỉ nhìn theo vị trí đầy tớ của họ mà thôi. Phan Phu Tiên phán xét về những người theo họ Hồ liên quan đến việc mất nước, tuy có khen về những gương tử tiết nhưng vẫn hài tội bỏ Trần theo Hồ, là “phường ác giúp nhau”, là “ăn lộc của ai chết vì người ấy (tuy) là nghĩa mà không biết người ấy là bất nghĩa”... Chỉ có các hoạn quan là được ông không hài tội thờ chủ mới: “Ngô Miễn, Nguyễn Lệnh, Kiều Biểu vốn là kẻ hoạn quan, cái chết của họ là điều nên lắm”. Vì hoạn quan “vốn là” đầy tớ nên được ông sử quan này nhìn ở tầm mức tương quan chủ tớ ngắn hạn: Lúc kẻ nô đã trao qua chủ mới thì chỉ cần biết chủ mới là đủ. Một tên khác của Lí Thường Kiệt cho ta thêm một gợi ý về địa vị đó của hoạn quan.

Ông Hoàng Xuân Hãn trong Lí Thường Kiệt, khi đối chiếu với sách Trung Quốc, thấy ông danh tướng của Lí cũng được gọi tên khác là Lí Thượng Cát. Do cách phiên âm qua một thứ chữ không thể sát với âm vận bản xứ nên khó có thể biết tên nào là đúng nhưng ta hãy đoán ra theo cung cách bình thường. Chữ “thượng”/“thường” gần cận, thường được thấy phiên âm cho chữ “thằng”. Và nó không phải lúc nào cũng có ý nghĩa khinh miệt. Nguyễn Ánh gọi tướng Tây Sơn là “thằng Sâm”, “thằng Hưng” nhưng bia 1210 đời Lí chỉ chủ đất hẳn là theo tiếng gọi thông tục đương thời, cũng như “thằng” ngày nay còn có ý nghĩa thân mật là khác. Với chữ “cát” thì ta có câu chuyện tranh chấp binh quyền cũng đời Lí về Vũ Cứt, Vũ Đái (chuyện năm 1150)... Trong chuyện chửi mắng ở triều đình năm 1189, ta cũng gặp các từ “lồn”, “cứt”. Vậy thì Thượng Cát có thể là “thằng Cứt”. Ông Hoàng Xuân Hãn cho biết Thường Kiệt là tên “tự”, và dẫn bia Nhữ Bá Sĩ đoán tên tự có từ lúc xuất thân, hiểu một cách khác, là lúc vào cung, làm hoạn quan. Tựthằng Cứt” là một thứ nickname trong cung gọi ông danh tướng tương lai nọ như ngày nay trong dân gian còn gọi “thằng Bò”, “thằng Cu”..., có vẻ còn dễ nghe hơn tên của đám nô Trần Quốc Tuấn là “Voi rừng”, “Chó săn / Cồng cộc”.

Nhắc lại ý nói trên về sự khó khăn có thể dẫn đến sai lạc trong việc phiên âm một tiếng bản xứ (Việt) qua văn tự Hán do bởi hai lớp người (Trung, Việt) để đề ra một ý kiến chủ quan. Nickname “thằng Cứt” là theo liên hệ bằng chứng sử liệu, nhưng chữ “kiệt” lại khó có thể là từ phát âm của “cứt”. Cát” là phiên âm của sử quan Hán, chắc không đúng bằng lỗ tai của sử quan Việt đã chuyển sát hơn bằng chữ “kiệt”, không lầm lẫn được, đó là chữ “cặt”/cu. Cũng như kích/kít/cát/cứt, trong phát âm đùa bỡn, né tránh, người ta còn gọi con cu là “con kẹc”, rõ ràng là “kiệt”nếu phóng tay văn hoa viết ra chữ Hán! Tên huý là Tuấn của ông cũng gợi nên một liên hệ nhỏ với “thằng Cặt”. Hãy nhớ lại tính chất Trung Quốc của cung đình, triều đình Lí giữa cả tập đoàn Hán, bản xứ lẫn lộn. Và tập đoàn này nhìn tập đoàn nọ có thể chỉ giản dị ở chỗ phân biệt giới tính là đủ. Cũng như bà chủ một nhà hộ sinh Việt ở Chợ Lớn đã tự động khai sinh cho các cô cậu bé người Hoa ra đời ở đây là Tửng (Tuấn), Muối (Muội) khiến cho cả một khu vực có toàn thằng Tửng, con Muối, mặc kệ cho các cô cậu này khi đi học mang giấy tờ Trần (Thị) Lan Anh, Lí Hùng Dũng... cũng chẳng sao! Vậy thì anh thanh niên Tuấn/Tửng vào cung đình Lí phải được gọi là Thằng Cặt đúng như chỉ danh phái tính của anh, chứ không thể mang tên Thằng Cứt. Lại cũng có thể nghĩ đến chữ “thằng Cu” thường dùng bây giờ nhưng rõ ràng nó mang dấu vết tránh né thô tục, nghĩa là “thằng Cặt” xưa hơn, đúng với tên gọi đương thời hơn.

Và như đã nói, cách nhìn của xã hội bên ngoài như thế cộng với sự bất toàn của thân xác không phải không ảnh hưởng đến hành vi của hoạn quan, nhất là khi họ ở vào vị thế có thể toả rộng quyền hành, dù là quyền hành nấp bóng quân vương, chế độ. Người bị thiến Tư Mã Thiên cố bù đắp nỗi nhục mất danh tiết bằng những trang Sử kí để đời. Sử quan Nguyễn ghi rằng: “(Lê Văn Duyệt) năm 14, 15 tuổi thường tự than thở rằng sinh ở đời loạn, không dựng cờ trống đại tướng, chép công danh vào sách sử, không phải là trượng phu”. Không hẳn đó là nguyên văn lời ông, nhưng ý đó đúng là của một người muốn vượt khỏi bản thân. Chế độ vương triều của Trung Hoa, Đại Việt có rất nhiều dẫn chứng về sự lộng hành của hoạn quan.

Triệu Cao làm việc phế lập trong triều Tần. Hoạn quan làm nhục vua trong triều Hán. Họ lộng hành nhiều nhất là dưới triều Minh. Theo quân đánh họ Hồ, cũng như trong các cuộc hành quân các nơi khác, cứ một ông tổng binh là có một hoạn quan theo kềm giữ: Tổng binh Trương Phụ đi có Nội quan Mã Kì báo cáo hành vi gọi là âm mưu vây cánh nên bị vua Minh rút về (1417); Nội quan Lí Lương đi theo Tổng binh Lí Bân (1426), giữ thành Đông Đô đến phút cuối với Tổng binh Vương Thông. Nội quan Sơn Thọ, người được ghi là Thái giám, bắt voi ở Quảng Ninh năm 1418, có mặt dài dài trong cuộc chiến. 

Sự xung đột giữa nho thần và hoạn quan có lúc đi đến chỗ khôi hài điếng người như trong câu chuyện xảy ra dưới triều Càn Long đã kể. Tuy nhiên sự khinh miệt của nho thần cũng dẫn đến phản ứng của hoạn quan khi thấy những người kia có thành kiến quá quắt, không hiểu cả lí lẽ bình thường. Trong cuộc tranh chấp về lễ nhạc giữa nhóm Nguyễn Trãi và Lương Đăng (1437), Tham nghị Nguyễn Liễu chê hoạn quan không đủ khả năng, không hiểu phép xưa (như của Chu Công), phép nay (như của nhà Minh), nên làm sai lệch cả. Lương Đăng, với quan điểm ngày nay thì chắc là làm theo “tinh thần dân tộc có sáng tạo” chế biến, nên nhũn nhặn xin dành quyền quyết định cho vua. Nguyễn Liễu sợ Thái Tông nghe lời, liền phản kháng trước: “Từ xưa đến nay chưa bao giờ có cảnh hoạn quan phá hoại thiên hạ như thế này”. Thế là tranh chấp tổ chức văn hoá trở thành sự kèn cựa phỉ báng riêng tư tập thể. Đinh Thắng từ trong bước ra mắng: “Hoạn quan làm gì mà phá hoại thiên hạ? Nếu phá hoại thiên hạ thì chém đầu ngươi trước”. Ông văn quan đa sự hay chữ, hú hồn vì thoát khỏi bị chém đầu, nhưng mang chữ thích vào mặt, những ngày tàn nằm ở châu xa hẳn phải ân hận về cơn cường ngạnh bảo vệ Thánh giáo của mình. Cũng nên lưu ý rằng Đinh Thắng là người đã có lòng can ngăn Nguyễn Trãi chớ đem Thị Lộ vào cung làm vây cánh, hành động đã khiến ông thái giám này chết (1442) theo ông Hành khiển đối thủ trong cuộc tranh cãi trên.

Giám ban của Trịnh

Nhưng hoạn quan nổi bật trong lịch sử Việt là vào thời Lê Trung hưng, đặc biệt vì đã có vua còn có chúa, nên có hẳn hai lớp hoạn quan, trong đó người của Lê không đáng kể nhưng người của Trịnh lại rất cần thiết cho gia đình, có thể nói là đóng vai trò khá quan trọng để giữ gìn cho nhà chúa được vững vàng.

Trịnh xuất thân là tướng soái nên nắm binh quyền trong tay, thuộc hạ tuân theo, đương nhiên được lên làm chúa. Nhưng họ phải nấp bóng vua, với danh nghĩa “phò Lê” và phải luỵ vì danh nghĩa ấy, chưa kể vì thực tế có những phe phái khác cũng muốn giành giật, từ đám dân cùng nổi loạn đến họ Nguyễn cường ngạnh một phương ở Đàng Trong. Nho sĩ được học Kinh sách tuy phục vụ Trịnh theo cơm áo nhưng vẫn hướng về ông vua Lê bù nhìn. Sử quan nối tiếp Ngô Sĩ Liên vẫn để các vua Lê làm đầu. Hồ Sĩ Dương (tiến sĩ 1652) viết Trung hưng lục ghi chuyện Lê Cập Đệ bị Trịnh Tùng giết (1572) vì phù Lê chứ không phải vì ganh ghét với Trịnh Tùng như trong TT, bộ sử chính thức, đã kể. Tinh thần đó không phải chỉ có ở những nhân vật khoa bảng. Trịnh Tạc (làm chúa từ 1657-1674) muốn phá vỡ hình thức tôn quân, nhân ngày nguyên đán, định bắt các quan mặc triều phục chầu vua, cứ mang nguyên phẩm phục ấy sang chầu mình. Vũ Duy Chí làm tể tướng (1669), vốn bị đồng liêu chê là từ chân lại thuộc mà ra, nhưng vẫn lên tiếng can ngăn vì cho là “trái với chế độ cũ”, khác với truyền thống “nhà Chúa... một niềm tôn phục hoàng gia”. Tuy năm 1673, Trịnh Tạc dời việc nước vào bàn ở phủ mình, nhưng loạn kiêu binh ngay năm sau chứng tỏ là quyền chúa vẫn còn lung lay. Sự khinh miệt hoạn quan thấy rõ trong trước tác tuy xuất hiện về sau nhưng của một người trong dòng họ phục vụ Trịnh Lê: Phan Huy Chú với Lịch triều hiến chương loại chí. Ông này kể các danh nhân đều là nho sĩ, tướng gia văn thần. Không thể loại trừ Lí Thường Kiệt, Hoàng Ngũ Phúc nhưng thêm chữ “tự thiến” để tỏ rõ sự cầu cạnh. Và vì có lẽ không biết (hay tránh né?) Lí Thường Kiệt còn được ghi với tên Lí Thượng Cát nên trong truyện Lí Đạo Thành, tác giả tha hồ mượn tên đó để kể tội hoạn quan: “Lí Thượng Cát là chức ngự tụ, cậy được thương yêu, bàn chõ vào việc chính”.

Ngay bên trong gia đình, Trịnh vẫn không yên tâm. Trịnh xuất thân từ vùng thượng du Thanh Hoá cũng thuộc các nhóm “thiểu số” hoạt động nổi bật theo sự hưng khởi của nhóm Mường Lam Sơn. Điều chắc chắn là gia phả họ Trịnh không giấu sự thấp kém của ông tổ Trịnh Kiểm vốn từng đi ăn trộm [7]. Ông này có bạn thân đến mức hi sinh giúp nhau làm cả những việc nguy hiểm, là một người gốc Chàm. (Hữu Ngọc - Nguyễn Đức Hiền, “Gốc tích các chúa Trịnh và một bức thư nôm của Trịnh Kiểm”, La Sơn Yên Hồ ..., tập II, tr. 649-669). Và ông tổ dẫn đến dòng vua Nguyễn sang cả, lúc đó cũng chịu gả con cho một tên trộm.

Tất cả chứng cớ đều nói lên một mức độ sàn sàn như nhau của các dòng họ cầm quyền về sau của nước Việt, không có dáng gì như các nho gia Thăng Long, Huế cao tiếng rao giảng theo truyền thống tôn phù. Vì thế, riêng về họ Trịnh, các “thế tử”, “công tử” anh em chú cháu tranh giành địa vị của nhau không nhân nhượng chút nào, và người thắng giết người bại cũng không nhẹ tay thương xót. Để xử trí chuyện gia đình thì trước hết Trịnh sử dụng đầy tớ riêng. Trịnh Tùng dùng “nội giám” Bùi Sĩ Lâm giải quyết Trịnh Xuân, “sai người chặt chân cho chết”. Vào cuối đời, Trịnh Sâm giao Thế tử Trịnh Cán cho Hoàng Đình Bảo, cháu/con nuôi hoạn quan Hoàng Ngũ Phúc chăm sóc. Rồi cũng một mực như thế, Trịnh đã đem người trong nhà xử trí việc nước. Năm 1603, chưa yên vị ở Đông Kinh, Trịnh Tùng đã dùng Chưởng cung giám Bùi Sĩ Lâm tra xét tướng Nguyễn Khải vì ngờ có âm mưu phản loạn. Năm 1683, trong việc tiếp nhận tù binh Mạc do Thanh trao trả, Thượng thư Vũ Duy Đoán cùng với hoạn quan Thân Đức Tài đi theo, mang công văn với tên Tài đứng đầu y như sổ năm trước. Ông thượng thư không chịu cái nhục làm quan triều mà thua tên đầy tớ nên gân cổ cãi, rốt cục bị Trịnh Căn bãi chức, lấy người khác thay thế với quan chức lớn hơn, Bồi tụng (Tể tướng) Nguyễn Quai, qua biên giới giải quyết công việc – tất nhiên công văn vẫn để tên hoạn quan đứng đầu. Có cái đuôi hơi lạ trong câu chuyện tiếp nhận tù binh này: Sứ bộ bị quan Thanh đòi hối lộ, Đặng Đình Tướng, chức sắc nhỏ trong đoàn, phải đi nộp bạc, lúc về triều đình tiếc tiền, bắt giáng chức, nhưng tha cho tể tướng với lí do “bị bệnh không dự vào việc giao nộp”, trong lúc không nhắc gì đến vai trò của ông trưởng đoàn hoạn quan cả. (Cương mục, tập II, H. 1998, tr. 350). Điều này cũng thật dễ biện minh, rằng việc xử lí kia là của triều đình, phép nước, hoạn quan chỉ là “người trong nhà”, không phải chịu trách nhiệm đó!

Là người-trong-nhà-Chúa nên hoạn quan có tiếng tôn xưng khác. Sau vụ tiếp nhận tù binh Mạc đó, có sứ đoàn của Thanh sang làm lễ tấn phong vua Lê. Ngày tiễn sứ ở quan ải, quan Trịnh Lê phải cực nhọc vì sứ Thanh kì kèo chê ít tiền tiễn biệt góp vào lộ phí đi đường (gọi là quỹ tẫn) nên phải cò kè gượng bỏ thêm ít lạng bạc. Do đó tờ trình sự việc của các quan cho chúa Trịnh về sau có câu phân trần: “Bấy giờ cũng có Cậu Chu vệ tống tẫn lễ ấy. Cậu ấy cũng có xem sóc...” (La Sơn Yên Hồ..., II, tr. 807). Rõ ràng “Cậu Chu” không phải là quan chức triều đình mà là hoạn quan, xét theo các sự việc đã thấy. Tiếng tôn xưng “cậu” cho người quyền quý mà không có chức vị chính thức của quyền bính còn sót lại thời gần đây là trường hợp của “Cậu Cẩn”, tuy Ngô Đình Cẩn không phải là hoạn quan!

Điều đáng chú ý khác là có những nội giám gốc thiểu số giáp Trung Hoa trong phủ Trịnh. Vì sử quan TTcoi thường nội giám nên ta không thấy rõ nguồn gốc quê quán của các ông này, nhưng sử quan Nguyễn với nhiều chú thích khiến ta biết vài điều thích thú. Cùng với nhiều hoạn quan gốc vùng đồng bằng họ Phạm (Xuân Đỉnh), Nguyễn (Đình Huấn), Lê (Trung Nghĩa)... cũng có người họ Hoàng như Hoàng Công Kì (+1745). Tất nhiên họ Hoàng đã phục vụ Trịnh Lê có rất nhiều người gốc trung châu, vì đã trung châu hoá, nhưng Hoàng là họ lớn trong các nhóm thiểu số tây nam Trung Quốc kề cận Đại Việt mà ngày nay được gọi chung là Choang/Tráng, có khu tự trị riêng ở Quảng Tây. Hoàng có lẽ phát sinh từ quan niệm Trung Quốc của các tộc đoàn muốn lên làm lãnh chúa: hoàng, màu vàng, của hoàng đế, Hoàng Đế. Trong sự tranh giành ảnh hưởng, Lí Trần đã dùng nhiều họ Hoàng trong việc giao tiếp với Trung Quốc cũng như phải khổ nhọc xử lí về việc họ nghiêng ngả lúc theo phe này, lúc phe khác trong thế đối phó với Thiên triều. Thổ tù Hoàng Văn Đồng cai quản mỏ đồng Tụ Long đã có cung cách như tổ tiên xa đời của họ (1779). Và đã có những hoạn quan cùng gốc gác như thế nổi bật nhất trong phủ Chúa, theo một cung cách phục vụ không thường thấy của những người quen “khuôn phép”. Hoàng Công Phụ (Bắc Giang) nắm quyền dưới thời Trịnh Giang (1729-1740), Hoàng Ngũ Phúc (Yên Dũng, Lạng Sơn) tung hoành cuối đời Trịnh nên để lại nhiều chi tiết đáng lưu ý. Phan Huy Chú cho biết Hoàng Ngũ Phúc “tự thiến”, những ông họ Hoàng dân tộc Tày, Thái, Nùng khác có làm như vậy không?

Chuyện bắt đầu từ tháng 2âl. 1743 khi ông hoạn quan Hoàng Ngũ Phúc vốn chỉ loanh quanh lẩn quẩn trong Hình phiên của Trịnh, bỗng nảy ra ý muốn chơi trội, đem dâng cho Trịnh Doanh 12 điều binh pháp để dùng dẹp biến loạn đang xảy ra khắp nơi. Cũng tưởng chỉ là để loè kiếm chút ân huệ, không ngờ Chúa tưởng thật có người tài ẩn danh mà lâu nay không được biết nên cho phép ông hoạn quan ra trận chống với tay Quận He Nguyễn Hữu Cầu kiệt hiệt đương thời. Nên chép nguyên văn của sử quan Nguyễn để thấy khởi đầu của một danh tướng: “(Hoàng) Ngũ Phúc mới được nghe mệnh lệnh, rất lấy làm lo, vì từ trước chưa từng đi chiến trận bao giờ. Có người khách khuyên: ‘Nên vay một vạn quan tiền công để mộ lấy những tay tráng sĩ’. Ngũ Phúc nói: ‘Nay vay tiền công, một ngày kia bắt phải nộp trả, thì lấy tiền đâu mà trả được?’ Khách nói: ‘Tục ngữ có câu: Tướng vô tài, sĩ bất lai, nghĩa là người làm tướng mà không có của thì không bao giờ dũng sĩ tìm đến. Nếu ông thật lòng theo kế của tôi thì những tráng sĩ đều hết sức với ông, quyết thắng được địch, từ đấy sẽ được vừa sang vừa giàu, có lo gì cái món tiền vạn quan? Nếu nhỡ ra vấp váp đến chỗ không thể nói được thì còn ai trách cứ món nợ ấy vào đâu được nữa?’” (Cương mục, II, tr. 563-564). Câu chuyện cho thấy cái liều lĩnh lưu manh trong thực tế của một anh thương buôn: Phải có của mới có quyền lực, có quyền lực thì tìm ra tiền rất dễ, lỡ không được tiền thì với chút dư danh của tướng soái, cũng không ai dám đòi nợ! Nhưng điều đáng chú ý là, Hoàng Ngũ Phúc, chắc thuộc sắc tộc Nùng nên dễ quen thân để vấn kế ông lái buôn Con Trời kia.

Chúng ta cũng có thể đoán là cùng sắc tộc, một ông hoạn quan khác sống gần hơn thế kỉ trước: Hoàng Nhân Dũng. Ông hoạn quan được Trịnh Tráng yêu quý, cho đổi họ Trịnh, lấy tên là Trịnh Lãm, nhân việc Thanh đánh Minh, đã từng được sai dẫn thuyền chiến qua cướp Quảng Đông (1647) không thành, nhưng có lẽ cũng là chứng cớ để Trịnh Tráng kể công với nhà Minh, và được phong làm An Nam Phó quốc vương (1651). Nhưng Trịnh Lãm rốt lại bị giết (1652) vì “kiêu ngạo càn dỡ... mưu nổi loạn”. Đoán là gốc Nùng (Cương mục không có chú về gốc gác người này) vì thấy sử thần Lê kể tội “vụng trộm nuôi người có tà thuật”. Không rõ hoạn quan Trịnh Lê là người bị thiến hay có ẩn cung, nhưng sự việc có người thiểu số trong cung Trịnh chứng tỏ nguồn cung cấp ở đồng bằng đã không đủ cho nhu cầu trong khi con đường thăng tiến cao vòi vọi khiên người thiểu số dễ chấp nhận hi sinh.

Thêm nữa, sự thiên ái đến mức thân thiết ngay từ thời gian dựng nghiệp vững vàng ở Đông Kinh như thế cũng có thể là do sự tương đồng về nguồn gốc thiểu số của chính họ Trịnh mà ra. Hoạn quan Nùng thời mới khởi nghiệp Trung hưng chưa kịp thích ứng (có thể là từ cả phía người chủ Trịnh) nên bị giết, nhưng hơn một thế kỉ sau, Hoàng Ngũ Phúc đã biết phối hợp sự uyển chuyển luồn lọt với khả năng phục vụ để nổi bật trong triều chính họ Trịnh.

Vai trò hoạn quan của Trịnh nổi bật nhất từ khi Trịnh Giang làm chúa (1729-1740) đặt ra giám ban (4âl. 1739) ngang hàng với văn, võ ban đương thời. Lại cũng vì sử là của nho thần viết ra nên ta không thấy chi tiết tổ chức: “Theo chế độ cũ, các quan chỉ có hai ban văn và võ. Đến nay bọn hoạn quan lộng quyền, (Trịnh) Giang mới đặt thêm giám ban. Hạ lệnh: ai thi khảo trúng cách sẽ được trao cho quan chức. Các quan lấy làm hổ thẹn nhưng không ai dám nói”. (Cương mục, II, tr. 503). Nắm quyền chính là ông Nùng Hoàng Công Phụ, trước tiên đã củng cố sự ổn định bên trong với việc Trịnh Giang giết hoạn quan Đỗ Bá Phẩm (1734), rồi dèm pha giết Trương Nhung (1736), ông-cậu của Giang, thuộc phe nghịch. Tiếp theo, Phụ tìm cách giải toả sự cô lập bằng cách xúi Trịnh mở khoa thi ngay trong phủ Chúa (1736), lấy riêng Trịnh Tuệ, người trong họ, đỗ trạng nguyên, để ông này vào làm tể tướng (6âl. 1739) “kẻ trong người ngoài xướng hoạ với nhau”, tạo mối liên kết văn, giám ban. Hoàng Công Phụ có vẻ còn nhiều toan tính to lớn hơn, vì đã từng nuôi Nguyễn Tuyển, một lãnh tụ của cuộc loạn Ninh Xá. Hoạn quan Trịnh không đủ lực lượng như của Minh nên chính biến cung đình nổ ra với sự liên kết của văn quan và phe ngoại nhà chúa rõ ràng mang dấu vết trung châu (đầu năm 1740). Hoàng Công Phụ bỏ trốn, nhóm thủ hạ bị diệt trừ, văn quan có vẻ đắc thế nhưng không được lâu.

Họ Trịnh vẫn cần hoạn quan, nên chỉ ba tháng sau khi cầm quyền, thấy cần người chống Nguyễn Tuyển, thay Hoàng Công Phụ đã bỏ trốn, Trịnh Doanh bổ nhiệm Hoàng Công Kì làm Thống lĩnh chinh tây đại tướng quân khiến cho Tự Đức phải la lên: “Trịnh Doanh cũng không phải là người có tri thức” (?). Trịnh Doanh không thể làm gì hơn như khi ông thất bại trong việc trao cho văn quan điều hành tài chính, thuế khoá vào giữa năm 1741: Văn quan muốn nắm quyền kiểm soát tiền bạc từ trong tay hoạn quan nên xin cho tập trung về bộ Hộ, tức là của chính phủ. Trịnh Doanh đã bổ nhiệm Lê Hữu Kiều trông coi, nhưng “quyền lớn lọt vào bọn tín thần đã lâu, bộ Hộ cũng chỉ biết được con số hão mà thôi vì thế không bao lâu lại bãi bỏ”. (Cương mục, các năm trên). Thế lực của họ như thế nên mặc sử quan khinh thị, họ vẫn đủ tiền của để lại dấu tích cho hậu thế trong công tích đối với làng xóm, dân chúng: Các thế kỉ XVII, XVIII trung châu sông Hồng tràn ngập các bia xưng tụng công đức của các thái giám, Nội phủ chưởng giám, Tổng thái giám kèm các chức Đô đốc, Đô chỉ huy sứ... (Văn khắc Hán Nôm,sđd).

Uy thế hoạn quan lớn thêm khi Hoàng Ngũ Phúc lần mò tìm được khả năng của mình trở thành “viên tướng nổi tiếng trong một đời” (Cương mục). “Ngũ Phúc làm tướng nghiêm chỉnh chắc chắn. Khi có việc thì quyết đoán, đối với ai cũng có lòng trung tín. Khi hành quân thì chuộng kỉ luật, giữ vững sự thận trọng mà không cầu may. Hiệu lịnh lại nghiêm minh, không thể cầu cạnh để xin tha. Ông đánh đông dẹp tây, công danh rực rỡ, là bậc đại tướng có công lao danh vọng. Nhà nước cậy dựa nhiều vào ông”. Nghe Phan Huy Chú ca tụng như thế (Lịch triều..., II, tr. 359), chúng ta thấy thật quá xa thời ông hoạn quan vấn kế khách thương. Nhiều nơi đã tôn làm phúc thần vị danh tướng “được phối hưởng trong cung miếu của Chúa” này, kể cả việc làm sắc thần giả để thời Mở cửa bán cho Việt kiều lùng tìm đồ cổ.

Sử xưa đã ghi rất nhiều công lao đánh trận của ông, trong đó có luôn việc chiếm Phú Xuân, không ngại gây tức giận cho nhà Nguyễn. Nhưng trước hết, Hoàng Ngũ Phúc là tôi của Trịnh, chỉ vì phải khen nên Phan Huy Chú đã lờ đi chuyện phục vụ nội cung, ví dụ như khi Hoàng cùng với Trịnh Sâm giam, giết thái tử Duy Vĩ (1769, 1772). Lập công trong vụ này thấy thêm có tên hoạn quan Phạm Huy Đỉnh. Vai trò hoạn quan trên chính trường Trịnh không giảm đi vì giám ban bị loại bỏ mà còn tăng thêm với nhu cầu củng cố dòng họ nhà Chúa. “Hoàng Ngũ Phúc và Đàm Xuân Vực bè đảng nâng đỡ nhau, vì thế người ngoài bàn tán xôn xao. Ngũ Phúc xin Trịnh Doanh đặt lệnh cấm nghiêm ngặt để khoá miệng mọi người nhưng không sao cấm chỉ được”. (Cương mục, II, tr. 654).

Hoạn quan cầm quân, nhất là lại thắng trận, nên văn quan theo hùa cũng là thường. Lê Quý Đôn cùng với hoạn quan Phạm Huy Đỉnh làm cho nội điện vua Lê vắng ngắt từ 1773. Cũng Lê Quý Đôn với hoạn quan Chu Xuân Hán đi kiểm tra mỏ đồng Tụ Long đòi hối lộ 3000 lạng bạc (1779). Cho nên có gì là lạ khi Trịnh Khải muốn chuẩn bị đảo chính (1780) lại hỏi vay 1000 lạng của Chu Xuân Hán! Hoàng Ngũ Phúc khi nên danh phận hẳn phải tự cười thầm mình lúc nhớ chuyện xưa kia đã từng lo không trả nổi nợ.

Những rối loạn về nội cung ở Đàng Trong không cho thấy có vai trò nổi bật của hoạn quan. Có lẽ là do tình hình phát triển ở đây khiến cho những mâu thuẫn không co lại trong nội bộ; các nguồn lợi khai thác với thương nhân khiến cho ai ít nhiều cũng có phần, khỏi tranh giành gay gắt. Ngạn ngữ địa phương còn để lại một danh xưng dân chúng dành riêng cho thái giám: “Đẻ ông Bộ, đẻ cho làng nhờ”. Chứng nhân LM. Koffler thấy (1755) ở Đàng Trong có 3 quan hoạn lớn quyền, một quan trông coi Nhà Đồ tức là tài chính phủ Chúa, hai quan kia trông coi việc thương mại, mua bán vàng bạc, ngà voi... tìm hàng cho Chúa (La Boprde, bđd).

Đến triều Nguyễn thì chiến trận bao nhiêu năm đã đặt hẳn uy tín quyền lực nằm ở ngoại vi cung đình – Lê Văn Duyệt đã là tướng, dù là tướng khuyết tật, chứ không phải là hoạn quan nữa. Thế mà vai trò của ông cựu hoạn quan này cũng là một cớ để cho Minh Mạng ra Dụ 17-3-1836 chận đứng sự lộng quyền của hoạn quan, không cho quan chức để đặt họ vào vị trí tôi tớ trong nhà. Quyền vua do đó thêm xuyên suốt vững vàng, không cần đến vây cánh ngay từ cung cấm, như lời Tự Đức nhận định về đối thủ dòng họ mình ở phía bắc: “Họ Trịnh gian ngoan lấn quyền, sợ người ngoài toan tính đến thân, cho nên phần nhiều dùng hoạn quan làm tai mắt mà quên bẵng đi rằng cái tệ hoạn quan, cuối cùng sẽ đi đến chỗ nhiều việc, không thể ngăn cản được (Khâm định Việt sử thông giám cương mục, bản dịch 1998, tập II, tr. 549). 

Hoạn quan Nguyễn không thể nào nho nhoe, chỉ dừng lại địa vị nô thần, có làm việc gì để bù đắp sự thiếu thốn của mình thì chỉ có thể tìm cảm giác lúc cõng bà phi đi, về hầu vua, hay mua giúp chuối già-hương cho các bà trước khi có thể đặt hàng dụng cụ ở các “bookstores” của Mĩ mà thôi.

11 Tám 02
Văn học (USA) tháng Ba, Bảy, Mười 2002

[1] Momoki Shiro (bđd, chú 60, tr. 190) cũng có thắc mắc tương tự về Mạc Hiển Tích.
[2] Không chỉ có sự liên hệ giữa nơi thờ cúng mang tín ngưỡng thuần tuý Po Yan Dari Chàm chuyển sang Việt với các tên “chùa”, mà hình thức này còn lấn sang đình làng như đồng thời ở hai bia chùa Phúc Hải và đình Hải Trung (nửa đầu thế kỉ XVII) khắc hình “người đàn bà khoả thân ngồi xổm, dạng hai chân ra hai bên... với bụng lớn, hạ bộ...” Rồi nó nằm riêng biệt ở đình Phù Lão (1688) chạm “một người đàn bà khoả thân bụng rất lớn, hạ bộ thể hiện rõ...” Chùa Ông (Hưng Yên) “chạm người đàn bà đội mặt trời, hai chân hai tay mở sang hai bên để lộ rõ ngực, bụng, hạ bộ sung mãn”. Tương tự cũng là bia chùa làng Tứ Liên (Hà Nội), chùa Thổ Hà (Bắc Ninh). Đình Tây Đằng (phỏng doán 1583) có người đàn bà ngồi xổm, dang rộng chân, mặc váy, hai tay nắm lấy cổ và đuôi rắn. (Trần Lâm Biền, Một con đường tiếp cận lịch sử. 2000, tr. 282, 493, 693).
Trong ý thức thanh giáo về nền văn hoá dân tộc, các nhà nghiên cứu trong nước vẫn nhìn các điêu khắc đó như trò nghịch ngợm của dân quê (khắc dồng thời với các hình có vẻ đùa cợt khác), hay biểu hiện tinh thần chống phong kiến của nông dân (khắc hình Bà Banh trên cốn đầu rồng, biểu tượng riêng dành cho vua). (Hà Văn Tấn – Nguyễn Văn Kự, Đình Việt Nam. H. 1998, tr. 45). Nhưng người ta sẽ nghĩ sao trước phác giác của khảo cổ học của thế kỉ mới, về đình Yên Bồ (XVII, Hà Tây) nơi có tục cầu tự, với hình (Bà Banh) mặt bầu bĩnh, đầu vấn khăn, mắt mơ màng nhìn xuống, sống mũi cao, thân mình tròn lẵn, đôi tay và đôi chân dạng ra, cùng cây gậy gỗ tròn khắc chữ “hỉ” (vui mừng) sơn son thếp vàng, có dấu sử dụng nhiều nên đã cũ? (Những phát hiện khảo cổ học mới năm 2001, tr. 44). Cho nên cổ và đuôi rắn ở đình Tây Đàng có thể là tượng trưng cho cái linga gậy gỗ.
[3] Chúng tôi thật ngạc nhiên khi Trần Lâm Biền (sđd, tr. 29, 59, 67) cho biết cột chùa Giạm cao đến khoảng 5 mét. Ông cũng nghi ngờ, nói đến linga, mukhalinga, nhưng không thoát được trào lưu chung, vẫn liên hệ đến cột bảo tràng của Đinh Lê, trụ biểu của Nguyễn. Ông không thấy sự thể rõ ràng là hình rồng tượng trưng cho Lí Nhân Tông (như mặt người ở các mukhalinga Chàm), và cột nằm ở nền thứ hai, nghĩa là nằm bên trong tháp. Như ông chỉ rõ, cách thức thờ Phật đời Lí, chủ yếu là tháp, chỉ gồm một tượng Phật (như chùa Quỳnh Lâm, theo bia cổ, cao 6 trượng đặt trong toà điện 7 trượng, đầu tượng sát mái điện). Hãy tưởng tượng cột “chùa” Giạm xây cất trong 6 năm cũng chỉ chứa cái mukhalinga Việt Hán của Lí Nhân Tông kia. Ngôi “chùa cổ” Tùng Sơn có cái linga nghiêng, hẳn nhiên là một kiến trúc từ lâu đời, cũng là một chùa Giạm cũ! Tất cả giống in như các tháp Chàm của họ, trải dài trong lịch sử, còn lại đến nay. Hai bản hình chụp Cột đá chùa Giạm in trong Mỹ thuật thời Lý. Nxb. Văn Hoá, Hà Nội 1973.
[4] Theo chủ quan của chúng tôi, các luận cứ này có thể giải thích được sự phân vân của Momoki Shiro (bđd, chú 47, tr. 189) về hai tên Thiên Cực Công chúa.
[5] Nhà văn Chu Tử còn thấy ở gần quê ông (Sơn Tây), phụ nữ vẫn tắm truồng và có lần cậu bé Chu Văn Bình (lén đi coi) đã bắt quả tang ông thầy khả kính của mình cũng lảng vảng gần đó!
[6] Sống ở Mĩ mà chúng tôi không đọc Hợp Lưu để biết nỗi nghi ngờ của bà Chân Quỳnh về giả thuyết gần như xác quyết của Hoàng Xuân Hãn. (Nguyễn Thị Chân Quỳnh, “Thư ngỏ gửi anh Nghiêm Xuân Hải” trong Hồn Việt. H. 2003, tr. 212- 229, phần bàn về Chinh phụ ngâm). Như đã thấy, sự đòi hỏi một chứng nhận bản quyền rành rẽ cho các tác phẩm ngày xưa, thật là khó. Có điều, những chứng cớ phụ bồi đắp cho nhau cũng có thể làm một luận cứ trở nên đáng tin hơn. Ví dụ ông Hoàng Xuân Hãn có nói tới tính cách nhuần nhuyễn trước sau của bản (cho là) Phan Huy Ích và bản (cho là) của Đoàn Thị Điểm cũng là điều phải lưu ý. Có thể ghép thêm với Ai tư vãn được cho là của Ngọc Hân mà có dáng Phan Huy Ích thì thấy rõ.
[7] Antoshchenko, Ul. (“Dòng họ các chúa Trịnh ở Việt Nam từ thế kỉ XVI đến thế kỉ XVIII” trong Các nhà Việt Nam học..., tr. 80) cứ tưởng Trịnh là một họ – gia tộc nên không phân biệt các người họ Trịnh giúp Lê Lợi và Trịnh Kiểm, người còn để lại tông tích rõ ràng mà con cháu không cần bám vào “ông cha” của thế kỉ XV.

 

IV
“TIỀN BẠC”, VĂN CHƯƠNG VÀ LỊCH SỬ

 

(Trước 1975, nhân chạy quanh tìm được mấy đồng tiền xưa – không xưa lắm nhưng cũng đủ gợi liều lĩnh để kẻ hèn này viết lếu láo được một tập sách nhỏ mà một phần sau 75 sửa lại đăng trong Văn học (USA) và in thành sách [Những bài dã sử Việt. Thanh văn 1996]. Nay còn một phần nữa, tủi phận, cũng muốn đòi ra tuy tác giả chờ mãi mà vẫn thấy chắc chẳng bao giờ được đi nghiên cứu ở Miền Bắc, khu vực chính yếu của đề tài này. Lại thêm sách vở cũng chẳng có bao nhiêu, không muốn làm kẻ “đọc [duy nhất] một quyển sách”, quyển Đại Việt sử kí toàn thư, nhưng cũng không dám hù doạ người mà đành phải lôi giấy tờ cũ ra viết lại, coi như chứng tích đam mê một thời đã thoát nạn phần thư thì cũng nên lợi dụng thời thế để xuất hiện. Mặt khác, vì thói quen nhập cuộc thời thế hỗn mang, lại đi lấn đất nhà văn nhà thơ thì cũng phải sửa sang làm sao núp bóng cho được, nên xin các bậc đại-học giả chớ chê cười).

Với đề tài trên thì có thể bàn đủ thứ chuyện trên đời, từ lãnh vực đã trở thành cổ điển của Kiều “Có ba trăm lạng việc này mới xong” đến chuyện ngoài giang hồ “Tiền tài như phấn thổ, nhân nghĩa tợ thiên kim”. Đành chỉ nói chuyện nho nhỏ vừa với túi tiền của mình, về đồng tiền-đồng, đơn vị trung gian trao đổi nhỏ nhất trên xóm chợ làng quê ngày xưa, vào thời mà, nghe nói lại, đổ cả đống trên lẫm thượng trong nhà, cứ mỗi lần đi chợ là bà bác lấy rổ xúc một cái, mang đi.

ĐỒNG TIỀN ĐỒNG

Về hình thức thì đồng tiền có dạng tròn vành, vuông lỗ với ý nghĩa trời tròn, đất vuông, căn bản của kiến thức địa lí, thiên văn học ngày xưa, thật là xưa, được chuyển sang quan niệm siêu hình về sự an bình, hạnh phúc thường tục: mẹ tròn con vuông. Ý nghĩa siêu hình ấy lại kèm theo niên hiệu của ông vua cho nên miếng đồng nhỏ ấy có khi trở nên quý giá hơn giá trị thật của nó và được dùng làm “tiền thưởng”:

Vua khen thằng Cát có tài,
Thưởng cho cái khố với hai đồng tiền.

Ông Hoàng Xuân Hãn bảo rằng đó là tiền thưởng (kèm với “cái áo” chớ không phải là cái khố) cho ông Lê Ngô Cát, người viết Đại Nam quốc sử diễn ca. Nhưng kẻ xấu miệng thì lại dựa vào chứng cớ xưa (ghi rõ ràng trong TT) rằng đó là nói về “thằng Cứt”, ý nghĩa cũng như trong vế câu đối: “Trời sinh ông Tú Cát / Đất nứt con bọ hung” vậy.
Thường thì đồng đơn vị có đường kính khoảng 24mm nhưng vì nhiều lí do, kể cả lí do ăn gian, kích thước chuẩn không thể đều đặn khít rịt như đồng tiền Mĩ ngày nay có thể nhét vào bất cứ cái máy kéo bạc nào nó cũng nuốt được hết, không chịu nhả ra, chỉ reng reng ít tiếng nhạc an ủi chủ nhân thôi. Kích thước 24mm xê xích chỉ vì cách thức đúc thủ công đã đành mà còn vì người ta muốn đúc nhỏ để lợi nhiều đơn vị, tạo ra những vấn đề rắc rối nan giải trong hệ thống trao đổi bằng tiền từ khi nó xuất hiện trên thị trường.
Vì muốn ăn-gian cho nên người ta đúc tiền bằng các thứ kim loại dễ chảy như thiếc, chì, hay trộn lẫn với kim loại chính do đó đỡ tốn công, ít hư hao, giá thành thấp rồi tung ra thị trường “mập mờ đánh lận con đen”, cứ tính theo kiểu “đếm đầu chia xâu”: một, hai, ba... một tiền, một quan là... ăn tiền. Tất nhiên người ta cũng thấy được giá trị thấp của chúng nhưng trong thực tế chúng vẫn có lúc qua-mặt được nhiều người:

Đồng tiền chì mua mớ tôm tươi,
Mua rau mới hái, mua nàng [người?] đảm đang.
Tiếc thay đồng tiền trinh mua vội mua vàng,
Mua rau muống héo, mua nàng ngẩn ngơ!

(Nguyễn Văn Ngọc, Tục ngữ phong dao I, Mặc Lâm 1967, tr. 94)

Chất chính nằm trong tiền (đồng trinh/chinh) là đồng, thứ kim loại tạo nên cả một giai đoạn văn minh toàn nhân loại làm mệt công các nhà khảo cứu. Cho nên tiền ngày xưa không phải chỉ là vật trung gian trao đổi mang thuần tính cách ước lệ mà còn chứa chất giá trị riêng nằm trong bản thân của nó nữa. Đại nạn Tam tông của Phật Giáo Trung Hoa là một minh chứng cho tương quan trên bình diện chính trị của giá trị chất đồng nằm trong các tượng và trong các đồng tiền lưu hành ngoài dân gian. Các ông vua sùng mộ đạo Phật đua nhau đúc tượng làm khan hiếm đồng bên ngoài, khiến các chùa trở thành nơi chốn đầu cơ tích trữ, thành cái đích dòm ngó thèm thuồng của nhà chính trị khi còn kém thế; và khi mạnh thế lên thì họ xông vào chùa mang tượng Phật ra đúc tiền, tạo tài sản khuynh loát thiên hạ hay để giữ vững ngôi vị của mình. Gần nhất ở ta là trường hợp Nguyễn Hữu Chỉnh với đồng Chiêu Thống của ông vua Lê cuối mùa. Giá trị chất kim loại nằm ngay trong hình thức của đơn vị tiền tệ xưa khiến cho chữ “đồng” thêm ý nghĩa kinh tế tài chính căn bản, có tầm sử dụng rộng rãi, vượt lên cả các chất kim loại cao giá hơn: đồng bạc, đồng tiền vàng. Rồi kéo dài tới ngày nay, nó trở thành đơn vị tiền tệ Việt Nam, không thấy xu, hào/cắc đâu cả mà chỉ thấy tờ giấy – hình như tờ 500 000 đồng là lớn nhất.
Gốc đồng tiền đồng là của thiên triều Trung Hoa. Cùng là xuất phát từ Trung Hoa mà Cao Li / Triều Tiên / Đại Hàn (rắc rối quá!) và Nhật Bản đều giữ đơn vị “nguyên” của Tàu: wonyen. Chữ nguyên đã thấy ở tập hợp “nguyên bảo” trên tiền đồng nhưng về sau được nâng cấp, chỉ giá trị của kim loại bạc và từ đó đi qua tiền giấy. Trong lúc đó, chữ “đồng” còn lại ở nước An Nam chỉ vì người ta giữ lại tên gọi từ một đơn vị trọng lượng tính cho đồng Khai nguyên thông bảo (đúc lần đầu năm 621 Đường Cao Tổ) được quy định tương đương với 1/10 lượng: 10 đồng Khai nguyên nặng một lượng. Sự kiện này phù hợp với chứng cớ về kiến thức của tầng lớp trí thức Bắc Hà ngày xưa, chỉ biết đến Đường Tống, chưa biết đến Nguyên, thời kì tiền giấy lấn át tiền đồng, về sau làm quên đơn vị “đồng” của Khai nguyên.
Cũng không nên tham lam mà kể chuyện thời Tam Hoàng, Ngũ Đế. Chỉ cần biết đồng tiền trong hình dạng gần với chuyện ta kể là xuất hiện cuối cùng của thứ tiền kim loại thông dụng ở Á Đông trước khi các hình thức Tây Phương đến thay thế. Một mặt đồng tiền có hai chữ là niên hiệu của vua lúc đúc tiền (thường là năm đầu lên ngôi hay đổi niên hiệu), hai chữ khác thường là thông bảo, nguyên bảo... Mặt sau trơn láng, thỉnh thoảng có các chữ chỉ nơi chốn, năm thứ ... của niên hiệu đúc tiền, và có khi chỉ giá trị tương đương với đồng đơn vị: đương nhị, đương ngũ, đương thập (gấp đôi, gấp năm, gấp mười)...
Có sự thống nhất trong phép đo lường xưa giữa một đơn vị tiền và đơn vị trọng lượng, cả đến đơn vị chiều dài. Cho nên từ chữ Hán đã có sự lẫn lộn, qua tiếng Việt sự phức tạp càng tăng thêm. Về phương diện trọng lượng, chữ tiền (Hán), đồng (Hán) chỉ một đơn vị nặng bằng 1/10 lượng. Đồng tiền làm cục cân, đồng tiền xếp nối nhau làm đơn vị chiều dài, vì thế mới có cân non, cân già, thước non, thước già! Về phương diện tiền tệ, tiền (Việt) là chữ tương đương với mạch (Hán), đồng là chuyển sang Việt của văn (Hán), chỉ một đồng tiền. Và vì lẽ dùng chữ “tiền” để chỉ một đơn vị tính đếm nói trong một bài viết về tiền bạc bằng tiếng Việt thì dễ lẫn lộn, nên ở đây, khi nào có thể được, chúng tôi chuyển qua cấp bực quan cao hơn để khỏi gây rối rắm đầu óc. “Văn” được dịch sát là “chữ”, sinh ra biến giọng “trự” của dân Nghệ Tĩnh. Cho nên anh đồ Nguyễn Công Trứ đánh bạc gặp hên, mừng rơn:

Tưởng làm dăm trự mà chơi vậy,
Bỗng chốc nên quan cũng sướng đời!

Lại cũng là một câu chuyện về giọng ngông nghênh của nhà nho lỡ thời tự an ủi – cái loại tâm tính khẩu khí huênh hoang truyền qua cả đám dân thường chẳng biết gì là thơ với thẩn. “Quan” là đơn vị cao nhất của tiền đồng, có đến ba chữ Hán chỉ về nó: quán, mân, cưỡng.
Trong hệ thống tính đếm tiền xưa, như đã nói, thứ tự từ nhỏ tới lớn là văn / đồng tiền, mạch/tiền, quán/quan. Chữ (đồng) trinh Việt có vẻ là lấy từ nghĩa của chữ “trinh” Hán chỉ phần nền của vách nhà, cột nhà chuyển qua đơn vị thấp nhất của hệ thống xếp đặt tiền. Việc tính đếm Trung Hoa cũng có căn bản là hệ thống thập phân (nhất, thập, bách, thiên.., một tuần có 10 ngày). Chính chữ mạch lúc ban đầu được mượn làm chữ bá/bách (một trăm). Và một mạch có đủ một trăm như vậy gọi là mạch đủ. Song ít khi đủ lắm: Năm Đại Thông thứ 11 (Hậu Tề, 537) có chiếu bắt buộc một mạch ăn một trăm mà dân không chịu, đến cuối đời chỉ còn có 35!
Chúng ta phải lưu ý là chuyện bớt số lượng chỉ nằm giữa sự chuyển đổi từ cấp bực thấp nhất (văn / đồng tiền) qua cấp bực thứ nhì (mạch/tiền), còn qua cấp bực thứ ba thì vẫn theo hệ thống thập phân (một quan có 10 tiền). Điều đó cho ta nghĩ rằng sự thay đổi nhất thiết phải là từ trong dân chúng, trong sinh hoạt hàng ngày, nơi sự trao đổi chỉ cần đến số lượng tiền thấp, của những hàng hoá có giá trị thấp.
Thật cũng lạ. Các tên văn, mạch, quán chỉ là những quy ước tính đếm, còn giá trị thật để trao đổi nằm trong chính các đơn vị đồng tiền, vậy thì nếu chưa đủ trăm thì cứ không gọi là mạch, không đủ ngàn thì chưa gọi là quán, gọi là: tám, chín... chục đồng tiền, gọi bảy, tám mạch, mấy mươi đồng, không được sao? Có lẽ chỉ có thể giải thích bằng một thứ tâm lí giấu chịu thực tế tầm thường, thấp thỏi, thấp kém đằng đẵng để ném mình vào ảo tưởng no đủ, cao sang trong thoáng chốc, để có thể sống được. Chưa có một trăm đồng tiền trong tay mà cứ nghĩ mình có một mạch, chưa đủ ngàn đơn vị mà cứ xỏ xâu vào dây lạt, dây mây để chứng tỏ mình có một quan đây! Đó là dạng của một thứ tâm lí vây vo, ngậm tăm xỉa răng khi không có gì trong bụng – và thành “truyền thống” vẫn ngậm tăm khi đã no đủ.
Tiền không-đủ mà vẫn cho là đủ có đầy dẫy trong lịch sử Trung Hoa. Cuối thời đại Lục Triều có Đông tiền một mạch ăn 80 đơn vị, Tây tiền chỉ có 70 đồng (đông, tây lấy ranh giới là kinh đô của nước Sở cũ). Nơi Kinh sư dùng Trường tiền: 90. Đời Kim Thế Tông chỉ có 80 gọi là Đoản tiền. Đất Ngô có tên riêng gọi là Lục thân (60), Thất thân (70). Với nho sĩ Việt thì Trung Quốc là Tứ thư, Ngũ kinh, Nghiêu Thuấn... nhưng “vùng trời Hoa hạ” của dân chúng chỉ có một khoảnh của hạ lưu sông Dương Tử xuôi về nam, nơi phát xuất của các vua Lí, Trần, nơi có một nước Ngô trở thành quen thuộc trên cửa miệng dân chúng miền Bắc: “thằng Ngô, con đĩ” “chẳng ra ngô ra khoai gì cả” – cây ngô trong câu chuyện gần-như-tiếu-lâm về hột bắp giấu trong đít của viên sứ thần Việt đem về trồng, cho nên không thể dùng để cúng kiếng được. Vậy thì việc Trần quy định (1226) nộp cho “quan gia” phải đủ 70 đơn vị mới là một tiền (mạch), sau hồi Minh thuộc thiếu tiền đồng, Lê Thái Tổ chịu tính tiền chỉ có 50 đồng (1429) nhưng đến lúc ổn định, số đơn vị được tăng thành 60 (Thiệu Bình 1439), tất cả cho thấy rõ ràng dấu vết Lục thân, Thất thân của đất Ngô. Tuy nhiên dù đã là quan-không-đủ, nước ta vẫn không chịu thua Tàu, vẫn có trường tiền, đoản tiền riêng: tiền quý / cổ tiền và tiền gián / sử tiền.

TIỀN QUÝ và TIỀN GIÁN

Chứng cớ rành rẽ là của Lê Quý Đôn (Vân Đài loại ngữ, Phạm Vũ – Lê Hiền dịch, Sài Gòn 1973, trang 444):

-Một mạch sử tiền (tiền gián) có 36 đồng tiền đồng;
-Một mạch cổ tiền (tiền quý) có 60 đồng tiền đồng;
-Mười mạch sử tiền bằng 6 mạch cổ tiền, bằng một quan sử tiền;
-Mười mạch cổ tiền bằng 1 quan 6 mạch 24 đồng sử tiền.

(Vì chép lại nguyên văn bản dịch, chúng tôi giữ lại tên gọi “sử tiền” để rồi sẽ bàn sau về “sử” hay là sứ”).
Hai vế sau chỉ là suy diễn từ trên – một cách làm tính giùm cho độc giả của người xưa. Riêng hai vế đầu cũng đủ xác định tương quan đơn vị của hai loại tiền: tỉ lệ đơn vị tính đếm trên cấp bực mạch/tiền, quán/quan của quan-thiếu (tiền gián) và quan-đủ (tiền quý) là 3/5 (36/60 hay 360/600). Vấn đề đặt ra ngay ở đây là tại sao có con số 36, tại sao không là 30, 40? Có lẽ dân chúng căn cứ ngay trên con số 6 (đã trở thành quen thuộc) từ trên triều đình mà làm thêm một tầng cấp khác (6x6) cho hợp với tình hình thực tế thiếu thốn của mình. A. Schroeder (Đại Nam hoá tệ đồ lục – Annam, Etude numismatique. Paris 1905, trang 61) hẳn sử dụng một bản Vân Đài loại ngữ khác, cho biết quy định trên là từ tháng 10âl. niên hiệu Quang Thuận thứ 8 của Lê Thánh Tông (1467). Tại sao có quy định như thế? Đương thời ở Đại Việt đã xảy ra chuyện như thời Hậu Tề trước kia chăng? Dân không theo lệnh năm 1439, đã dùng một thứ đoản tiền cho riêng mình và Lê Thánh Tông trong cố gắng thể chế hoá phép nước nên đành công nhận thói tục bằng một văn bản chăng? Sử sách của ta vốn hà tiện lời thì đành phải dừng lại ở chỗ phỏng đoán vậy.
Ta lại còn phải suy đoán thêm về các từ ngữ được sử dụng. Lê Quý Đôn là người của thế kỉ XVIII, các danh từ chỉ các loại tiền đó vẫn thường được thấy trong thế kỉ XVII, XVIII nhưng người của thế kỉ XV có dùng chữ tiền gián, tiền quý, tiền cổ, tiền sử giống như những nhóm từ định-loại đó vào thời gian sau không, bởi ta thấy trong đó có những nhóm từ mang nghĩa rất mơ hồ? Cho rằng chúng đã được sử dụng từ thế kỉ XV, nhưng nội dung của chúng có biến đổi theo năm tháng – hay có khi đã chuyển đổi cả hình thức tên gọi trong trường hợp này không? Lại thêm một chữ Hán có thể đọc thành hai, nhiều lối, trong một trường hợp trên nên đọc là sử tiền hay sứ tiền? Phần rất lớn các dịch giả đều đọc là “sử tiền”, chỉ gần đây mới thấy Hà Văn Tấn (chú thích Dư địa chí) dùng chữ “sứ tiền”.
Cổ tiền, tiền cổ, tiền xưa, tưởng là dễ nhận ra ý nghĩa nhất, nhưng như thế nào để được gọi là “tiền cổ”? Lê Thái Tông khi quy định một quan ăn 600 đơn vị hẳn là để chỉ trước tiên vào các đồng Thuận thiên của cha mình, các đồng Thiệu bình, Đại bảo của chính mình, nghĩa là các thứ chẳng có thể gọi là “cổ”. Nếu muốn chỉ chung tiền niên hiệu của các vua trước, vơ vào cả các niên hiệu của Thiên tử phương Bắc (tiền chắc chắn là tốt) thì khá đúng với thực trạng rất nhiều tiền Trung Quốc trong các lô tiền còn tốt thấy được từ trong đất ngày nay. Nhưng sao trong mộ cổ Gò Mun, người ta sắp từng cọc 36 đơn vị của Thái bình thông bảo, tiền của Tống Thái Tông? (Ta suy đoán mà biết chắc chủ nhân của chúng tuy báo cáo khai quật không nói rõ). Con số trên là đủ cho một tiền gián tiền. Cổ tiền đấy, sao không sắp từng cọc 60 đơn vị? Tiền chôn theo người chết là để ăn đường, để hối lộ khi qua Quỷ Môn Quan mà đưa tiền-thiếu thì hàng quán nào nhận, quỷ sứ nào bỏ túi rồi không quất thêm một roi? (Coi hàng quán, quỷ sứ của Âm ti là thứ của nhân dân [ma] cũng được, nhưng lỡ phải nộp thuế cho Ngọc Hoàng thì có phải xỏ xâu lại từng 600 đơn vị không?)
Chữ tương đương với cổ tiền là quý tiền / tiền quý. Thấy tương đương với tiền cổ, người ta dễ dàng nghĩ quý là “quý giá” nhưng không phải. Trong hoàn cảnh riêng lúc này, chúng tôi chỉ thấy nó xuất hiện năm 1625 trong sử với bản chữ Hán kèm theo (Toàn thư, bản Chính Hoà, phần của Phạm Công Trứ, tập III, trang 328, 329, tập IV, 8b, 9a. Phan Huy Chú cũng có nhắc trong Lịch triều hiến chương loại chí, Quốc dụng chí, tr. 229. Tất cả đều căn cứ trên một lệnh, chi tiết hơn, may còn văn bản được dịch trong Lê triều chiếu lệnh thiện chính. Sài Gòn 1961, trang 68-71. Phần chữ Hán kèm theo giúp chúng ta điều chỉnh các lời dịch sai, sót). Nội dung lệnh đó nói về thuế thân nên các dịch giả có khi dùng chữ thuế thân thay vào. Và đó là chữ quý chỉ tam cá nguyệt, mùa. Vì đó chúng ta có thể nghĩ rằng tiền quý không phải chỉ riêng thuế thân mà còn là thuế ruộng, nói rộng ra, tất cả các thứ thuế nộp cho triều đình. Phỏng đoán không phải là vô căn cứ và nhân đó ta có thể suy ra lí do ghép-đôi với cổ tiền còn mãi đến về sau.
Từ thời Lê trung hưng (thế kỉ XVII, XVIII), những quy định về thuế má, tặng thưởng có lúc nói sóng đôi tiền quý, tiền gián, hoặc chỉ nói riêng đến việc thu tiền quý cho nhà nước thôi. Lệnh năm Thiệu Bình thứ 1 (1434), Hồng Đức thứ 17 (1486) tuy chỉ là cấm người coi kho, người thu nhận không được chọn lựa tiền quá gắt, nhưng rõ ràng không có phân biệt loại tiền đồng nào, miễn bằng đồng là được. Và cũng cho ta ngầm hiểu là nhà nước thu theo quan-đủ (600 đơn vị). Từ 1226, Trần đã quy định tiền tỉnh mạch trong dân chúng là 69, còn tiền thượng cung, dâng lên trên, phải đủ 70, thì không lẽ ông Lê Thánh Tông chịu thiệt, cứ để dân chúng theo thói tục riêng mà nộp chỉ có 36 đồng một tiền? Căn bản lợi tức của nhà nước ngày xưa chỉ có ruộng đất và thân xác người dân, vậy thì cách thu đủ như vậy đã khiến cho chữ tiền quý đi vào trong cấp bực quan-đủ.
Chuyện thắc mắc về cách xếp đặt tiền cổ theo quan-thiếu trong mộ cổ Gò Mun ở trên chứng tỏ vào lúc đó người ta chỉ quan tâm đến cách tính đếm tiền mà không nghĩ đến sự phân biệt phẩm chất của loại tiền sử dụng. Điều này đã khác đi theo với thời gian. Chữ tiền gián với nghĩa rõ ràng là “tiền xấu” xuất hiện trong sử vào năm 1528, khi sử quan nói về việc Mạc Đăng Dung đúc tiền đồng pha kẽm, sắt sau khi đúc Minh đức thông bảo theo kiểu tiền xưa, không được thành công. Không thấy Từ hải ghi chữ “gián tiền”. Chữ “gián” có nghĩa là “xen lẫn”, “lẫn lộn”, “chỉ cách nhau một tí”. Những người của thế kỉ XVI có thể sử dụng một từ Hán cũ cho mang ý nghĩa mới, tệ hơn, từ “cách nhau một tí” không đáng quan tâm, đã chuyển sang “lẫn lộn” để chỉ loại tiền xấu đó theo với sự đồng thuận của thời đại. Tiền gián đến đây có thể nói là thuộc về một thứ tiền hầm-bà-lằng, miễn có sắc đồng, vành tròn lỗ vuông, của chính thống cũng được, nguỵ cũng xong, chính tà khó phân bởi vì người dân đúc lậu thì gọi là tiền giả, nhưng chính nhà nước cũng đúc tiền lấy danh xưng của các thứ đang lưu hành, nấp dưới uy tín có sẵn của chúng. (Trong lệnh 1743 cho thấy Lê Trịnh đúc tiền Tống mà, nói theo kiểu ngày nay, lại còn ép dân chúng phải chấp nhận sự sang đoạt “bản quyền” đó khi buộc người ta không được loại bỏ). Chắc cũng hiểu thứ tiền rắc rối đó được dân chúng chấp nhận, nên các dịch giả ngày nay thường giải thích, chuyển âm sử tiền / tiền sử ra nghĩa “tiền thường”, “tiền thông dụng” (tuy vẫn có sự lộn xộn là chính văn đôi khi vẫn dùng chữ “thông dụng tiền” để chỉ cả tiền cổ lẫn tiền sử).
Vậy có lẽ từ khi Lê Thánh Tông chấp nhận (1467) lối tính quan-thiếu (360 đơn vị) của dân chúng chỉ ở sự khác biệt về số lượng đối với quan-đủ (600 đơn vị) thì đến thế kỉ XVI, XVII, XVIII, loại tiền nằm trong quan-thiếu đã có sự chênh lệch về giá trị tự thân (giá trị chất đồng) đối với tiền nằm trong quan-đủ. Cả hai ý nghĩa quan đủ, quan thiếu, vừa theo lối tính đếm đơn vị vừa theo cách xác định giá trị, thấy trong câu chuyện “đùa bỡn văn chương” của hai nhân vật sống ở thế kỉ XVIII, XIX: Phạm Đình Hổ và Hồ Xuân Hương. Ta không cần minh định tính xác thực lịch sử của loại chuyện tiếu lâm này. Chúng chỉ là dấu vết ẩn ức tình dục, không phải chỉ riêng cho Hồ Xuân Hương như nhiều người nghĩ đến và có khi mượn S. Freud đưa ra làm luận thuyết, mà là chung cho cả nhiều thế hệ nho sĩ vốn chịu đựng một thứ Khổng Giáo mang tính duy lí từ chương gay gắt trong lúc bản thân vẫn sống trong một xã hội thôn dã tràn trề tính dục. Trong câu chuyện trên, “bà” hỏi mượn “ông” năm quan, ông chắc vừa tiếc tiền (“Bắc thang lên hỏi ông trời, Những tiền cho gái có đòi được không?”) vừa sợ mất “gái”, nên chỉ đưa có ba quan. Đến khi bị bà vặn hỏi:

Sao nói rằng năm lại có ba?
Trách người quân tử hẹn sai ra.
Bao giờ thong thả lên chơi nguyệt,
Nhớ hái cho xin nắm lá đa.

ông cũng núp bóng nhân dân, truyền thống, nhưng vặn vẹo truyện tích chú Cuội, trả lời khêu gợi, dẫn dụ khích động:

Rằng gián thì năm, quý có ba,
Bởi người thục nữ tính không ra.
Ừ, rồi thong thả lên chơi nguyệt,
Cho cả cành đa lẫn củ đa.

Nếu chọn theo lối tính đếm đơn vị thì đưa 3 quan-đủ cũng tức là đưa đủ 5 quan thiếu, quan nào cũng là quan, có dối trá chút nào đâu! Nếu chọn theo lối tính giá trị thì 3 quan tiền quý (tốt) đã là 5 quan (tiền gián) rồi, nay tôi đưa “người thục nữ” 3 quan tiền tốt, giá trị cũng bằng số lượng hỏi mượn (quan nào cũng là quan), có thiệt thòi chút nào đâu! Còn muốn vơ hết về mình để được cả hai đằng (tiền tốt đồng thời với số lượng nhiều) thì hãy cứ có dating để bù phần thiệt thòi cho tôi! Lối tính toán này không phải chỉ có trong chuyện tiếu lâm mà đã được nhà nước Lê Trịnh thu xếp với nhân dân rất là cửa quyền, đầy tính năng động, sáng tạo. Nhưng trước hết hãy xét vì sao có sự kiện đậm thêm tính chất tiền xấu trong ý nghĩa về loại tiền gián. Muốn hiểu được điều này lại phải nhờ “người nước ngoài”.
Giáo sĩ A. de Rhodes (A. Schroeder, sđd, trang 323, 324) thuật lại: “Những đồng tiền lưu hành ở Tunquin [Đàng Ngoài] gồm có hai loại lớn và nhỏ. Loại lớn được tiêu dùng đồng loạt khắp nơi trong xứ và phần lớn được mang vào do thương buôn Trung Hoa cùng thương buôn Nhật Bản hồi trước. Nhưng loại tiền nhỏ chỉ lưu hành trong kinh đô và 4 tỉnh chung quanh, và không dùng ở các tỉnh khác trong xứ; xứ Cochinchine [Đàng Trong] cũng không dùng. Tiền này chắc là đem vào khi 4 tỉnh chính này cách biệt với các tỉnh khác bởi cuộc loạn mà tôi đã nói ở trên [phân tranh Lê Mạc]…” “... Ba đồng tiền lớn giá bằng 5 đồng loại nhỏ... (Tiền lớn) xỏ trong dây... theo đó mỗi xâu có 600 đồng hay 10x60, được đánh dấu rõ ràng sau 60 đồng như vậy”.
May mắn làm sao, khi phối hợp thêm với bằng chứng của Lê Quý Đôn lấy từ sự kiện ở Đàng Trong, ta biết được cỡ tương đối của ba loại tiền. Ông Tham quân vào lo liệu việc hành chính ở Phú Xuân vừa chiếm được, có nhận xét (1777) về tiền Hà Tiên, đã gọi chúng là “tiểu gián tiền”. Tiền An pháp, Thái bình của Mạc Thiên Tứ nay còn lại có đường kính khoảng 20, 21mm, tiền niên hiệu Trung Quốc mà A. de Rhodes ghép vào “loại lớn” (cổ tiền) có cỡ xê xích 24mm, vậy thì tiền gián ở Đàng Ngoài của các thế kỉ XVI, XVII, XVIII là ở giữa hai giới hạn kia.
Có thể nhìn kĩ hơn về giới hạn đó. Tiền niên hiệu Việt, có lẽ vì xuất thân ở nước nghèo nên thường không lớn như tiền đồng loại của Trung Quốc. Giới hạn 23mm là thường thấy nhất. Vậy có lẽ phải đẩy giới hạn kích thước của tiền gián Đàng Ngoài về phía 21mm của An pháp. Tuy Lê Quý Đôn gọi An pháp là “tiểu gián tiền” nhưng có thể thấy hai loại không xê xích nhau bao nhiêu. Hoặc Lê Quý Đôn nghĩ tới loại An pháp nhỏ (20mm), hoặc tiềm thức của ông quan chiếm đóng khiến ông hạ giá chúng, nhìn thấy chúng nhỏ hơn tiền Đàng Ngoài chăng? (Ông đã từng chê bai quan quyền, dân chúng Đàng Trong xa hoa, phung phí rất mực). Dù sao thì đối chiếu với những bằng chứng phát hiện ngày nay, ta thấy tiền nhỏ Đàng Trong cũng đồng cỡ với tiền gián Đàng Ngoài. Nếu không như vậy thì làm sao ta lại thấy có đồng An pháp trong mộ ở Mường Thanh xa xôi, heo hút, cùng với những đồng tiền ngày nay xuất hiện trên Miền Bắc mà tuy không thấy hạng hình tả vẽ nhưng chỉ nghe đến tên, ta đã biết là tiền cỡ nhỏ: Chính nguyên pháp bảo, Trị bình thánh bảo, nguyên bảo, Thánh nguyên thông bảo... (“Tiền đúc ở Đàng Trong....”, Những bài dã sử Việt, sđd, trang 284). Chúng tôi cũng từng thấy đồng Vĩnh định thông bảo mà chúng tôi cho là của Đàng Ngoài, cùng dạng hình với một số có danh hiệu khác, các tiền đó cũng không lớn hơn An pháp, tuy là kiểu thức đúc đẹp hơn. Dạng hình của tiền gián đến lúc này có vẻ đã rõ rệt đối với chúng ta hơn rồi vậy.
Vì thấy có sự chuyển dịch ý nghĩa của tiền gián qua nhiều thế kỉ, nên ta cũng táo bạo xem thử có sự chuyển đổi nào ở cách nhìn sử tiền, một tên khác của gián tiền, của dân chúng các thế kỉ XVII, XVIII không. Nếu phỏng đoán của chúng ta đúng thì trong trường hợp này sự chuyển đổi có vẻ phức tạp hơn, cho thấy có sự thay thế từ ngữ chuyển đổi nội dung ý nghĩa đi theo với xuất xứ hiện vật. Ta biết những “tỉnh” (province) mà A. de Rhodes nói tới là những vùng chung quanh thủ đô Thăng Long: Hải Dương, Sơn Tây, Sơn Nam, Kinh Bắc, (“bốn tỉnh chính”) và Thanh, Nghệ (“các tỉnh khác”). Danh xưng công quyền gọi chúng là “trấn”, nhưng dân chúng đến gần đây vẫn gọi là “xứ” theo vị trí phương hướng: xứ Đông (có làng Cổ Trai – Dương Kinh của nhà Mạc), xứ Đoài, xứ Nam, xứ Bắc, và đặc biệt: xứ Thanh, xứ Nghệ. Lê Quý Đôn khi nói về tiền Đàng Trong cho biết dân Nghệ gọi cổ tiền là “thư tiền”, tiền cái, tiền to, như vậy cũng nối tiếp – mà không biết đến ý của A. de Rhodes, là tiền nhỏ “không dùng ở các tỉnh khác” (nghĩa là Thanh Nghệ). Vùng này trong phân tranh Lê Mạc thuộc riêng về Lê. Thăng Long cùng với Tứ trấn, cách biệt với Thanh Nghệ vào thời kì có loại tiền nhỏ lưu hành mà khởi đầu dung dưỡng là từ trên triều đình với Mạc Đăng Dung đúc và cho dùng loại kém giá trị (pha tạp chất mà căn bản vẫn là đồng) khiến sử quan phải dùng đến chữ tiền gián để chỉ chúng. Vậy có phải sử tiền / tiền sử đến lúc này đã trở thành xứ tiền / tiền xứ của các xứ Đông, Đoài... khởi xướng với quyền trung ương nên tiền nhỏ, tiền xấu dồn dập phồn tạp ảnh hưởng đến tên gọi có trước không?
Đã nói, dịch giả ngày nay gọi sử tiền là tiền thông dụng, đúng với một nghĩa của chữ “sử” Hán (使) nhưng chữ này cũng còn được đọc là “sứ” (giả). Chữ “xứ” Hán (處) viết khác nhưng cũng lại được dùng cho chữ “xử” (trí). Hai tập hợp từ Hán dù có cùng sự chuyển biến về cách đọc, nhưng vẫn dẫn đến những từ chỉ hai sự việc khác nhau. Nhưng trong dân chúng thì vẫn có sự lẫn lộn âm của sx, nghĩa là sử, sứ, xử, xứ được phát ra ngoài cửa miệng lúc đầu, vẫn giống nhau. Có thể nào dân chúng Đàng Ngoài của thế kỉ XVII, XVIII khi chỉ một loại tiền hiện diện trước mắt, đến từ Tứ trấn, đã gọi là “tiền xứ” mà nhà nho, người cầm quyền cứ dùng chữ cũ, hoặc bởi thói quen không chịu thay đổi, hoặc bởi thấy giọng đọc không có khác nên không cần thay đổi chữ viết cho đúng với nội dung mới?
Vậy thì sự phức tạp đã xảy ra từ quy định của quá khứ và thực tế đương thời khiến cho tương quan giữa tiền quý và tiền gián ở các thế kỉ XVII, XVIII càng thêm phần phức tạp, không phải chỉ dừng lại ở sự chênh lệch về tổng số tính đếm, mà ngay cả khi được quy định tương đương giá trị rồi, vẫn có sự thiên ái về loại tiền lớn, nhất là dưới mắt nhà cầm quyền. Lê Quý Đôn phân biệt trong Vân Đài loại ngữ: “Công tư tiêu dùng, ban thưởng hay cấp phát đều kể theo sử tiền, mà thu nộp thuế thì kể theo tiền cổ; tiền sử chỉ dùng về việc mua bán trong dân gian mà thôi”. Tuy các lệnh của các năm Vĩnh Thọ thứ nhất (1656), Cảnh Trị thứ 8 (1669) có nói rõ: “ Quan dân mua bán thông dụng tiền cổ, tiền sử...”, “... đều dùng tiền cổ, tiền sử, trừ tiền chì, thiếc, gang, sắt...” nhưng rõ ra là có sự dè bỉu tiền sử/gián, như ví dụ ở chuyện quy định tiền thưởng thi bắn năm Chính Hoà thứ 10 (1669): Tiền gián chỉ để thưởng cho những người bắn súng hạng bét, còn các hạng trên đều được thưởng cổ tiền. Và triều đình cũng chỉ kể cổ tiền / tiền quý khi thu vào kho đụn: Nha môn xét kiện lấy tiền công gọi là “lễ đảm” (1659); làng xã theo hương ước không theo lệnh triều đình cho lính về hưu sớm, phạt (1681); quan được thăng chức phải có lễ tạ (1720); nạp kiện mà bỏ ngang không đi hầu, phạt (1718); lính nhập ngũ rồi mà được vào hầu hạ (phủ Chúa) phải nạp tiền (1733); tất cả đều là tiền quý, cổ tiền.
Chính quyền Lê Trịnh dùng tiền gián cấp tiền tuất cho các quan văn, vũ, giám ban, tôn thất, quận chúa, cung tần, nghĩa là những người trong và quanh Phủ liêu. Đó là các năm Bảo Thái thứ 2/1721, Bảo Thái thứ 5/1724, Vĩnh Khánh thứ 4/1732, Vĩnh Hựu thứ 5/1749. Tiền thờ cúng cấp ở các năm Bảo Thái thứ 3 (1722), Vĩnh Khánh thứ 4 (1732) cũng bằng gián tiền nhưng đến năm 1767 thì lại phát bằng cổ tiền. Có vẻ điều này trùng hợp với lúc tiền đồng (tốt) dồi dào nhờ khai thác lại mỏ Tụ Long (1757), khai thác các mỏ ở Thái Nguyên, Hưng Hoá, ở Lạng Sơn (1759), thu thuế hai mỏ đồng ở Hưng Hoá (1759).
A. de Rhodes có mặt ở Đàng Ngoài từ 1627 chắc thấy đang thi hành một lệnh đóng thuế thân đưa ra hai năm trước đó (Vĩnh Tộ thứ 7, 1625). Theo đó, tiền thuế thân của dân Tứ trấn Sơn Tây, Sơn Nam, Kinh Bắc, Hải Dương, hạng “lánh” đóng mỗi năm 3 quan 5 tiền, hạng “quân” 1 quan 5 tiền, hạng “dân” 1 quan 2 tiền 30 đồng, hạng (ưu đãi) 1 quan, hạng “bất cụ” 8 tiền. Chữ “ưu đãi” trên là của chúng tôi dùng để tạm chỉ một lớp người trong làng xóm mà cả ba tài liệu có phần không đồng nhất với nhau, nhưng đó không phải là điều đáng quan tâm ở đây. Lệnh trên ghi từ hai sử gia Phan Huy Chú và Phạm Công Trứ chỉ nói trống trơn về một loại tiền phải nạp, tuy ta có thể chắc chắn đó là tiền quý, cổ tiền. Lê triều... cho ta thêm bằng cớ, vì ngoài việc thêm chữ “cổ tiền” có nói rõ số tiền gián các hạng phải nạp: hạng lánh 7 quan (gián tiền), hạng quân 3 quan 3 tiền, hạng dân 2 quan 5 tiền, hạng ưu đãi 2 quan, hạng bất cụ 1 quan 6 tiền.
Nhìn sự tương đương quy định các hạng phải nạp thì, trừ hạng quân, con số chỉ tiền gián gấp đôi con số chỉ về cổ tiền (ví dụ 3 quan 5 tiền cổ tiền và 7 quan gián tiền..). Nhưng nếu chiếu theo quy định gấp đôi đó áp dụng cho hạng quân thì họ chỉ phải đóng có 3 quan tiền gián, chứ không phải là 3 quan 3 tiền. Cứ theo suy nghĩ bình thường, một điều luật phải có tính cách nhất quán trong từng phần một, có biệt lệ tất nhiên phải được dành riêng, hoặc giải thích, nếu cần. Vậy có thể là Lê triều... đã bị chép sai ở đây: hạng quân chỉ phải đóng có 3 quan gián tiền mà thôi. Cái đuôi 3 tiền có thể theo đà quáng mắt, lỡ tay mà chui vào văn bản thôi. Chúng ta có thể thấy một chứng cớ khác: Năm Thịnh Đức 6 (1657), có lệnh về nộp tiền cho toán duyệt tuyển (điều tra hộ khẩu), “nếu không có cổ tiền 1 quan thì nạp sử/gián tiền 2 quan”.
Thường trong các bản dịch người ta dùng ngay chữ “lính” thông dụng ngày nay để dịch chữ “lánh hạng” của văn bản cũ khiến dễ gây lầm lẫn, nhất là khi kề sau đó có hạng “quân” với chữ ngày nay cũng có nghĩa là lính. Chữ “lính” ngày nay có thể xuất xứ từ chữ lánh nọ nhưng nếu cho chúng có nghĩa tương đương là ta đã hiểu lệch thời đại. Chữ “lánh” (另) có từ lệnh lập sổ đinh năm 1470 để chỉ một “hạng người riêng biệt” theo ý nghĩa chữ Hán của nó. Lê Thánh Tông lập điển lệ lớn dùng được cả ở đời sau, nhưng cấp thời là vét người chuẩn bị đánh Chiêm Thành năm sau, nên “xếp riêng” một hạng tráng đứng trên đầu các hạng quân, dân, lão, cố cùng khác.
Vậy thì “lánh tráng” không phải là “lính tráng”, có thể bị lôi đi cho chiến dịch 1471, nhưng vào thời bình chỉ là một người dân (hiểu theo nghĩa ngày nay), một thanh niên được xếp vào hạng nhất trong ứng tuyển quân vụ. Vì thế anh ta mới phải chịu thuế thân, chứ nếu đi lính thật sự thì anh ta đã được cấp phát ruộng lính rồi! Phạm Công Trứ viết rõ “lánh hạng vô tòng chinh nhân” bị người dịch chuyển qua “hạng lính không tòng chinh” trở nên vô nghĩa với người ngày nay. Lính không tòng chinh sao gọi là lính? Còn nếu nói “lính không tòng chinh” (TT dịch) hay “lính không đi trận mạc” (Nguyễn Sĩ Giác dịch) có nghĩa là lính đồn trú, lính chưa gặp giặc, phân biệt với lính đang hành quân hay đang giáp trận, thì chắc người thâu thuế phải điên cái đầu!
Các lệnh trong Lê triều... có viết rõ “binh” hoặc “lánh binh” là theo nghĩa “lính” ngày nay. Và anh lánh trừ bị này phải là con nhà, nếu không giàu thì cũng phải có tiền của. Ngày xưa, cả đến thời Nguyễn (ít ra là trên giấy tờ chỉ dụ chính thức), làng xã không được bắt người nghèo đi lính, chứng cớ là có hạng “cố cùng” để riêng trong lệnh kiểm tra người của Lê Thánh Tông kia. Và vì thế ”quân” là hạng trừ bị số 2. Lệnh phân loại người của Lê Thánh Tông (mà thời Lê trung hưng còn theo) có chi tiết cho thấy rõ sự phân biệt trước sau, nặng nhẹ của hai hạng lánh, quân này.
Tính cách tính thuế nặng nhẹ cho họ chứng tỏ vai trò quan trọng khác nhau giữa hai loại lánh, quân đó. Vậy mà tương quan tiền quý, tiền gián còn bị khủng hoảng vì một loại tiền khác: tiền kẽm. Đây là nói chung để chỉ loại tiền khác chủng loại đồng, hiện diện thường xuyên nhiều nhất, chứ từ lâu trong nước vẫn có các thứ tiền gang, sắt, chì cùng lưu hành. Kim loại kẽm (và hợp kim của nó) có độ nung chảy thấp nên dễ có việc đúc trộm, và chính triều đình trong quá khứ cũng từng tham gia. (Lệnh đình chỉ năm 1325 của Trần Minh Tông). Lê Trịnh trong thế kỉ XVII theo truyền thống từ Lê sơ, đã ra nhiều lệnh không công nhận các loại tiền khác ngoài thứ “có chữ đồng” (Lệnh 1658). Lệnh 1662 kèm các chỉ thị thi hành kiểm tra trên dưới trong ngoài, cấm dân các xã có phép đúc tiền đồng không được nhân dịp mà đúc các loại khác. Năm sau (1663) gắt gao hơn, không những cấm mà còn bắt buộc thu đổi, bù lại bằng một số tiền đồng ít hơn để lệnh tiêu huỷ tiền kẽm có hiệu quả hơn. Thế mà triều đình không những không buộc được dân chúng theo đúng chính sách đề ra mà còn bị lôi cuốn theo làm tình hình tiền tệ đương thời rối rắm thêm.
Chúng tôi từng suy đoán Lê Trịnh có đúc các đồng Vĩnh trị (1676), Chính hoà (1680), nhưng chỉ có thể dựa vào các mẫu thấy được ở Đàng Trong. (Những bài dã sử Việt, trang 335). Chứng cớ tiền kẽm còn lưu hành ở lệnh năm 1741: “Cấm kén chọn tiền kẽm (vì triều đình)... mới đúc tiền lớn nhỏ không đều, nhiều đồng mỏng quá... dân gian không cứ lớn nhỏ, đều chê là tiền xấu...” Điều này là để nói về các đồng Vĩnh trị, Chính hoà kẽm ở trên còn lại chăng? Nhưng rõ ràng là tiền kẽm tốt được nhà nước công nhận lưu hành tương đương với tiền đồng. Các lệnh không rõ ràng, lại qua bản dịch (Phan Huy Chú, Lịch triều..., II, tr. 244) nên chúng ta chỉ có thể suy đoán mà thôi. Triều đình “mới đúc tiền” hẳn là tiền đồng Cảnh hưng (niên hiệu bắt đầu 1740). Lệnh năm sau (1742) cho thu hồi tiền kẽm xấu, một quan lấy 5 “tiền tốt”, chữ dùng mơ hồ nhưng thấy trị giá tương đương với lệnh năm trước cho đổi lấy “tiền thông dụng”, nghĩa là tiền đồng. So sánh với lệnh 1663 nói về trước, chỉ cho đổi lấy 2 tiền quý, ta thấy nhà nước đã nhượng bộ dân vì trị giá đã tăng (5 tiền) có lẽ vì đó là tiền kẽm của nhà nước đúc. Lệnh năm 1745 nói rõ các tiền Cảnh hưng, Thái bình, Nguyên thông nên ta hiểu là tiền đồng. Những tiền đồng nhỏ bị đúc trộm chắc sẽ nhập chung vào loại A. de Rhodes chứng kiến. Còn tiền kẽm hẳn là được đánh đồng với loại tiền gián, kém giá trị hơn tiền đồng như sau này vẫn thấy trước khi người Pháp loại bỏ, thi hành khuôn mẫu tiền tệ mới.
Thật ra thì việc rối loạn tiền tệ này từ thế kỉ XVI, không phải bỗng dưng mà có, không thể chỉ trách cứ nơi sự bất lực của nhà cầm quyền Lê Trịnh (theo cách nhìn của người đời sau) hay nơi lòng tham của dân chúng (theo cách nhìn của vua chúa đương thời). Thế kỉ XVII, XVIII là lúc mối giao thương Đông Tây đã mở rộng với sự xuất hiện của các thương nhân Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Anh, Pháp... đến châu Á xin mở thương điếm buôn bán, lấn chiếm đất đai và do đó cũng kích động thêm các mối giao thương có sẵn trong vùng. Nhu cầu tiền tệ trao đổi trở thành vấn đề gắt gao. Chúng ta sẽ bàn đến sự kiện tiền của các vương triều Việt đúc ra vốn nhằm mục đích khác hơn là tính toán cho nhu cầu kinh tế tài chính trong nước.
Số lượng tiền thừa thãi ở Trung Quốc bị đẩy ra ngoài từ khi họ dùng tiền giấy, cũng đủ dùng ở nội địa Đại Việt, trong các chuyến buôn bán trên khu vực Á Đông, dài xuống phía nam, nhưng lại không đủ khi người Tây Phương tới. Chúng ta thấy các chúa Đàng Trong cũng như Đàng Ngoài phải mua tiền của người Nhật, người Hoà Lan đúc bán, trong lúc cũng tự mình cố gắng đúc tiền riêng. Khả năng đồng không đủ cung cấp liền xoay qua đúc tiền kẽm.
Loạn tiền kẽm ở Đàng Trong vào nửa sau thế kỉ XVIII (“Tiền kẽm và sự khủng hoảng tiền tệ…”, Những bài dã sử Việt, 356-369) xét cho cùng không phải chỉ bởi tham tâm của Võ Vương với sự xúi bẩy của một “cố vấn” Thiên triều mà là bởi khả năng kém cỏi trong việc điều hành đất nước trong một tình thế “đổi mới” không còn như khi khép kín trong khu vực nữa.
Tình thế mới đó cũng đã thấy manh nha ở thế kỉ XVI trước, với nhà Mạc, với sự xuất hiện của loại tiền gián mang ý nghĩa kém cỏi của đời sau. Họ Mạc gốc dân chài, vốn người Hải Dương, ở miệt biển, tất quen thuộc với việc giao thương hơn các nơi nào khác ở sâu trong đất liền. Cho nên Mạc Đăng Dung đúc tiền không phải chỉ để khoa trương danh hiệu một vương triều mới mà còn để sử dụng trong lưu thông. Lời sử quan phe đối nghịch (sử thần Lê Trịnh) có ngụ ý chê bai, trút tội nhưng vẫn cho ta thấy ông vua đầu đời Mạc này đã cố gắng đúc thật nhiều tiền. Ý nghĩa cầu phúc, cầu lợi thấy rõ trong việc xây dựng, giữ gìn các chùa Bà Banh vùng biển (và hẳn không quên chùa Bà Banh ở Thăng Long) mang ý nghĩa cúng tế Lỗ Lường, Đĩ Dàng ngày nay còn hiện diện trên đất Chàm cũ. Danh xưng một số chùa Bà Banh đổi dạng thành Miếu Bà Chúa Ngựa với gốc Po Yan Dari, còn thấy ở thế kỉ XVIII, XIX có thấp thoáng bóng ông thần Bạch Mã Thái Giám bảo trợ thương buôn trên mặt biển đã Việt hoá từ con ngựa Balaha của dân đi biển Ấn, Khmer, Chàm. Và do đó cũng không nên lấy làm lạ rằng triều Mạc đã xây dựng, thờ phụng rất nhiều hình tượng Quan Âm, vị Bồ tát cứu nạn quen thuộc mà cũng có liên hệ đến truyện tích cứu người trên mặt biển của thần Bạch Mã. Bia đình Lê Xá ở Hải Dương dựa theo Nguyễn Bính (thế kỉ XVI) ghi việc viên tướng và con ngựa mất cổ, hẳn là nằm trong truyền thống ấy. (Văn khắc Hán Nôm... tr. 136). Cho nên có thể nói triều Mạc đã tiếp tục đi theo quá khứ của dòng họ mình, chủ động phát triển giao thương trên mặt biển hơn các triều trước, và vì thiếu phương tiện nên phải sử dụng một loại tiền nhỏ, kém phẩm chất mà đời sau dù chê bai vẫn không thể chối bỏ được. Đó cũng chính là cơ sở khiến cho nhà Mạc cướp được quyền
bính, tạo dựng được một nền chính thống riêng, đủ sức giằng co đương cự với Lê Trịnh trong hai phần ba thế kỉ giành làm chủ xứ Bắc.
Tóm lại, có thể nói từ thế kỉ XV (trở về trước bao nhiêu thì không biết) tiền quý tiền gián chỉ là cách phân biệt quy định tính đếm cho các loại tiền được coi là ngang giá. Còn có thể là từ thập niên thứ hai của thế kỉ XVI, và thế kỉ XVII, XVIII trở về sau thì đó là sự phân biệt hai loại tiền khác giá trị. Lịch sử tiền gián, tiền quý không phải chỉ là chuyện của hứng khởi hay tham tâm cá nhân, dù là cá nhân cầm quyền mà là của một phần đất nước vậy.

MỘT QUAN TIỀN TỐT

Một quan tiền tốt mang đi,
Nàng mua những gì mà tính chẳng ra?
Thoạt tiên mua 3 tiền gà,
Tiền rưỡi gạo nếp với 3 đồng trầu.
Trở lại mua 6 đồng cau,
Tiền rưỡi miếng thịt, giá rau 10 đồng.
Có gì mà tính chẳng thông?
Tiền rưỡi gạo tẻ, 6 đồng chè tươi.
Ba mươi đồng rượu chàng ôi!
Ba mươi đồng mật, 20 đồng vàng.
Hai chén nước mắm rõ ràng,
Hai bảy mười bốn [2x7] kẻo chàng hồ nghi.
Hai mươi đồng bột nấu chè,
Mười đồng nải chuối chẵn thì một quan.

Giả định rằng người làm bài trên không bị câu thúc vào âm vận để phải làm lệch tình hình thực tế chợ búa, sử gia nào có thể dựa vào các dữ kiện kinh tế khác để tính thời điểm xuất hiện của nó không? Hay, ngược lại, dựa vào yếu tố nào đó để định ra thời gian xuất hiện của bài trên mà xét tình hình giá cả thời đó không? Riêng ở đây ta chỉ có thể làm mỗi một việc là “check” lại sự thật thà của người nội trợ đảm đang kia mà thôi. Cộng lại:

Về đơn vị tiền: 3 gà + 1,5 nếp + 1,5 thịt + 1,5 gạo tẻ = 7,5 tiền;
Về đơn vị đồng: 3 trầu + 6 cau + 10 rau + 6 chè (trà) + 30 rượu + 30 mật + 20 vàng (mã) + 14 nước mắm + 20 bột + 10 chuối = 149 đồng.

Tất cả chỉ có 9 tiền 59 đồng thôi! Còn thiếu 1 đồng nữa mới “chẵn thì một quan”. Người nội trợ giấu mua quà riêng hay thời đó cũng thi hành luật đời Trần (1226) có sửa đổi: tiền dâng lên vua thì một quan đủ 600 đồng còn trong dân chúng chỉ có 599 đồng, một thứ quan-đủ mà thiếu? Nhưng cũng có thể giải oan cho bà nội trợ bằng cách đổ thừa cho ông thi sĩ đồng quê quá câu nệ niêm luật. Giá ông ta chịu phá thể lục bát như điều vẫn có thể xảy ra, nếu ông ta thêm chữ “mốt” (một) vào chỗ tính “hai mươi”, “ba mươi” (ví dụ: Hai mươi mốt đồng bột nấu chè) thì đúng là có một quan đủ. Sự bứt phá khuôn khổ đôi khi vẫn là con đường đạt đến chân lí, đó là điều người ta vẫn thường ít chú ý tới.

5 Ba 2000
Văn học, tháng Mười một 2000


THÊM CHÚT TIỀN CHO TOÀN THƯ

Lê Quý Đôn trong lúc lan man bàn chuyện cổ kim cũng nhận ra đồng tiền Thiên phúc của Lê, nhưng các sử quan Việt lại cũng không làm nổi một thiên Thực hoá chí như ở nơi họ bắt chước việc viết sử để người sau có căn cứ mà lưu tâm đến chúng. Trong các tư gia, người ta giữ vài đồng tiền phòng khi cần xin xăm, thỉnh thoảng một vài nhà giữ được vài xâu tiền tình cờ móc lên từ ruộng vườn, hay cố tình lưu lại một xâu với mỗi đồng tiền một niên hiệu để lấy phước, cái phước bám víu vào danh vị của ông vua, thiên tử. Và thế là theo với sự tăng tiến của thời đại, chúng ta có những nhà cổ tiền học Việt Nam. Nói như vậy cũng không phải là oan, bởi vì họ là những nhà sưu tập trở thành cổ tiền gia chứ không phải là nhà cổ tiền học đi sưu tầm nghiên cứu.
Tất nhiên với tình hình phát triển thấp kém của đất nước, trong đó phải kể thêm yếu tố về quan điểm chính trị có khi gây sự phủ nhận ngay cả trong vô thức, thật khó có thể đòi hỏi sự thành công của hai hạng người ấy đạt đến mức độ cao được.
Những năm gần đây người Việt hải ngoại tương đối có phương tiện nhiều hơn đã chen vào trong những cuộc tìm kiếm, thủ đắc các tiền Việt hiếm cạnh tranh với người ngoại quốc, đã mở những luồng thông tin trên hệ thống internet để trao đổi kiến thức, hiện vật. Do đó lại thấy xuất hiện thêm những đồng tiền xếp vào hạng không rõ nguồn gốc: Tây dương phù bảo, Nam vương cự bảo... có vẻ cũng không xa thời nay là mấy. Tiền quý hiếm đã được định giá cả ngàn đôla trong các cuộc trao đổi; tiền lên giá đến nỗi Thái Lan cho đúc đem vào bán ở Việt Nam! Một người vượt biên mang theo đồng Bảo hưng quý hiếm đã đem cất vào két nhà băng. Một người hình như đã có đủ các loại đồng Thái (Đại) bình hưng quốc của Đinh.
Tuy nhiên căn cứ trên các thông tin nghèo nàn về phía chúng tôi nhận được thì tính chất gọi là nhà sưu tập muốn trở thành nhà cổ tiền học vẫn thật rõ nét tuy không thể phủ nhận thiện ý của những người này. Đáng tiếc nhất là tính chất “phong trào”, muốn làm nhà tiên phong, hay lấy danh vị đã đẻ ra những tác phẩm quái gở, dù có bề dày đáng nể. Một quyển Tiền cổ Việt Nam xuất bản trong nước và những bài đăng rải rác khác cho thấy tác giả chỉ chép sách cũ, không hề bỏ công suy xét trên các tài liệu đó, hay có vẻ như không có sưu tập riêng của mình mà cũng không cần xem xét đến các sưu tập ở viện bảo tàng; sách “tiết kiệm” công đến mức in lại các bản vẽ khắc gỗ tiền của D. Lacroix năm 1900, có vẻ được chọn lựa hơn bản chụp mẫu thật của A. Schroeder vì bản này ít hình hơn. Không chịu suy nghĩ thêm một chút, trong một bài viết, tác giả cứ cho rằng không có đồng Bảo hưng, và tuy không biết đồng tiền này, vốn từ một niên hiệu tận xứ Bắc, đã xuất hiện nơi Quê Hương Đồng Khổ xa xôi, nhưng tác giả lại không nhìn ra rằng chúng đã được nhắc nhở chính ngay trong các văn bản cấm tiền nguỵ của nhà Nguyễn! Lại có quyển được trình bày với dạng một luận án ở Pháp! Một hai bài bàn về tiền thấy trên tập Nghiên cứu Huế gần đây của một nhà sưu tập có danh trong nước tuy nghiêm chỉnh hơn, nhưng vẫn không thoát khỏi những sai lầm đáng lẽ không nên có đến lúc này, chỉ vì cái thói quen lặp lại lời người khác [1].
Nếu không lặp lại thì lại suy đoán theo thiên kiến, ví dụ cho rằng đồng tiền có hai mặt chữ niên hiệu giống nhau là do “các vị vua thường sử dụng các thuật tạo ra yếu tố thần linh đề tập hợp người dân ủng hộ” chứ không phải giản dị vì thợ úp lộn hai khuôn có mặt chữ vào với nhau! Và nếu thợ úp lộn hai khuôn mặt trái với nhau thì ta chỉ có những miếng đồng vành tròn lỗ vuông, không biết của ông vua nào cả.
Trách người ta, nhưng người viết này cũng chỉ có một vài quyển sách và một thời gian tìm tòi hiện vật thu hẹp trên đất nước rồi lại đứt đoạn, cho nên không thể đi xa hơn. Chỉ có thể theo đà làm việc sẵn mà “thêm chút tiền” cho quyển sử xưa, như đã nói rõ về mục đích khi viết loạt bài này, để xem thử quá khứ có hiện ra những gì hơn những dòng chữ trong ấy không.
Trước nhất, về những đời vua có đúc tiền thì TT thật hà tiện lời. Vẫn biết có những lúc gặp biến động thúc bách, sử quan có thể bỏ qua chuyện đúc tiền, nhưng ngay khi ghi lại người ta cũng không cho thấy chi tiết nào hơn là chỉ ra niên hiệu ấy mà thôi. “Mùa thu tháng hai (Giáp Thân – 984) đúc tiền Thiên phúc”, đó là ghi chép đầu tiên về việc đúc tiền của vua Việt. Sử quan đã làm hại đến cả tinh thần độc lập, muốn tách biệt với chủ đô hộ cũ của thời đại đó đã thể hiện rất rõ ràng trên danh hiệu đầy đủ của hiện vật. Tiền Việt xuất hiện muộn trong truyền thống đúc tiền Á Đông nên chỉ ghi có niên hiệu đời vua lúc đúc và phần đi theo tuyệt đối để chỉ “tiền” là hai chữ “thông bảo”. Ở đây, triều đại đúc tiền không những dùng chữ “trấn bảo”, khác, có ý tự phụ, mà còn in thêm chữ “Lê” ở mặt sau để khỏi lẫn lộn, và biết đâu còn có ý nghĩ cạnh tranh với Hậu Tấn, Hậu Hán của thời Ngũ Đại đồng thế kỉ với mình nữa. Sử quan khi quên ghi đồng Thái bình, đã khiến người sau không nhận ra tinh thần độc lập, muốn dứt khoát cắt đứt với quá khứ thuộc địa đã thể hiện rất rõ ngay từ triều đó trong tập hợp “hưng bảo” kèm theo chữ Đinh.
Mãi đến triều Lí, người ta cũng bỏ qua đời ông vua đầu, mà đến ông vua thứ hai cũng bỏ qua niên hiệu thứ nhất để chỉ nói đến tiền của niên hiệu thứ hai: Minh Đạo. Tuy nhiên sử đã ghi rõ thêm một điều: Nguyên cớ đúc tiền là do phối hợp sự kiện ban Hình thư và đổi niên hiệu (tháng 10âl. 1042) mà có. Năm sau, “lại đúc tiền Minh đạo ban cho các quan văn võ”, tuy không thêm chi tiết nhưng ta đoán rằng Thái Tông rải tiền cho thuộc hạ là để chuẩn bị đánh Chàm. Chi tiết đúc tiền lúc đổi niên hiệu ở đây, tuy nhỏ nhưng quan trọng bởi vì tiền Thiên phúc của Lê Hoàn đã đúc vào năm Thiên Phúc thứ 5, sau khi đánh Chàm, cùng lúc với việc xây cung điện nhiều, có lẽ nguyên do là bởi có chiến lợi phẩm dồi dào, kho đụn sung túc hơn. Tuy nhiên nguyên tắc đúc tiền vào đầu đời, đầu năm đổi niên hiệu có vẻ vẫn không được giữ vào lúc sau đó, vì chuyện đúc tiền gần như vắng mặt hẳn trong sử ở các đời sau. Suốt hơn 200 năm của Trần, vài năm ngắn ngủi của Hồ, chỉ có một lần nhắc đến đúc tiền mà lại vào năm Đại Trị thứ 3 (1360). Còn trong thực tế hiện vật thì ngoài đồng Thiệu phong thông bảo có chữ “Trần”, ta còn có Thiệu phong nguyên bảo với “thập ngũ”, chứng tỏ đúc năm thứ 15 của niên hiệu (1356). Hình như các vua, tuy vẫn muốn chứng tỏ sự hiện diện của mình nhưng chỉ có thể đúc tiền vào lúc “có tiền” mà thôi.
Thế rồi, chiến tranh dồn dập dẫn đến sự kiện trong hai năm 1427, 1428 có chuyện đúc tiền Thiên khánh dưới niên hiệu của Trần Cảo và tiền Thuận thiên của Lê Lợi. Nguyên cớ là việc tranh chủ quyền nước Việt của Lê trước áp lực gỡ thể diện của nhà Minh và nguyên tắc chính thống trong nước, khi Lê còn phải núp bóng họ Trần để mua chuộc dân trung châu Đông Đô trong lúc mình còn là nguyên dạng hình của một tập nhóm vùng rừng núi Lam Sơn xa xôi. Tình hình rối rắm đó lộ ra trong lối ghi chép bất đắc dĩ phải quan tâm của sử quan. Lê Lợi đặt Trần Cảo làm vua cuối năm 1426, lấy niên hiệu Thiên Khánh. Một năm sau, ban hành tiền Thiên khánh nhưng Trần Cảo chỉ thọ thêm hơn hai tháng, đành phải chết khi quân Minh rút khỏi Đông Đô. Lê Lợi lên ngôi lấy niên hiệu Thuận Thiên, đúc tiền đến hai lần cách nhau không xa (giữa năm 1428 và đầu năm 1429). Không thấy ghi trọn vẹn tên tiền Thiên khánh, và tiền Thuận thiên thì được ghi là “thông bảo” trong khi đúng là “nguyên bảo” mang tính hiện đại đối với đương thời mà sử quan không theo kịp.
Có vẻ đến lúc này nguyên tắc lên ngôi, đổi niên hiệu và đúc tiền ngay đã thành lệ nên sử quan ghi chuyện “tháng 9 (âl. 1434) ban hơn 600 quan tiền (Thiệu bình) mới đúc cho các quan văn võ”. Bởi vậy tuy bỏ qua các niên hiệu Đại Bảo (1440). Đại/Thái Hoà (1443) (thật có đúc tiền) mà đầu niên hiệu Diên Ninh (1454) lại có ghi chép việc ấy. Không rõ vì sao từ ông Thánh Tông uy vũ đến các con cháu không thấy sử ghi đúc tiền nhưng Nghi Dân cướp ngôi 8 tháng mà cũng có tiền Thiên hưng để lại. Cho nên cứ cái đà quên đó mà sử quan sẽ không hề nhắc chuyện đúc tiền theo niên hiệu trong suốt thời gian còn lại của nhà Lê.
Sử quan tuy không nói đến tên tiền đúc nhưng loáng thoáng chúng ta cũng thấy có ghi dưới đời Trần Minh Tông: “Tháng 11 (âl. 1323) đúc tiền kẽm”, nhưng đầu năm 1225 thì bỏ. Đời Trần các vua có đúc tiền niên hiệu bằng đồng như mẫu vật còn lại cho thấy, vậy tiền kẽm này hẳn lấy tên Đại khánh của niên hiệu Trần Minh Tông lúc bấy giờ. Tiền kẽm dễ hư, dễ bị đúc lại, vậy thì chỉ chờ đến khi ta lấy được một đồng Đại khánh từ các đào bới (khá khó!) mới mong xác nhận được chúng mà thôi. Trong thời kì đầu thuộc Minh, Lê Ngã nổi dậy, “xưng tôn hiệu, đặt niên hiệu (Vĩnh Thiên), quan chức, đúc tiền, đốt thành Xương Giang...” Mạc Đăng Dung lên ngôi (1527), có niên hiệu là Minh Đức, năm sau cho đúc tiền, vậy mà sử quan chỉ ghi “sai đúc tiền thông bảo theo kiểu cách đồng tiền cũ, nhưng phần nhiều không thành. Sau lại đúc các loại tiền gián pha kẽm và sắt ban hành các xứ để thông dụng”. Chứng cớ đó chỉ vừa đủ để thấy căn bản là tiền niên hiệu và cũng bằng đồng. Sử quan Nguyễn đã thoát khỏi sự ràng buộc của TT một thời gian dài (từ 1697) mà viết sử đến năm 1787 mới nói thêm chuyện đúc tiền Chiêu thống thông bảo (Cương mục, bản dịch Hà Nội 1998, tập Hai, tr. 809) có lẽ chỉ vì nhân vật Nguyễn Hữu Chỉnh liên hệ to lớn với thời đại đã được nhắc trong Hoàng Lê nhất thống chí.
Như vậy nếu không kể tiền triều Nguyễn vừa qua thì quả tiền Việt của các triều trước thật hiếm hoi. Sử đã hà tiện lời thì người ta trông chờ vào người sưu tập, phần lớn cho đến gần đây, tiếc thay lại cũng là người ngoại quốc. Chúng tôi hiện nay chỉ có quyển Cổ tiền đại từ điển (ĐTĐ) của Đinh Phúc Bảo (Đài Bắc 1965) và vài thông tin lẻ tẻ mà thôi. Theo đó, về danh hiệu tiền, thật ra các triều vua cũng đúc khá nhiều cho các niên hiệu. Đinh có Thái bình hưng bảo, Lê có Thiên phúc trấn bảo như đã nói. Triều Lí có Minh đạo nguyên bảo, Thiên cảm nguyên bảo. Tiền Trần (trừ Đại trị) vắng mặt trong sử nhưng lại có chứng cớ đúc khá đều trong các đời, qua các hiện vật: Kiến trung, Chính bình, Nguyên phong, Thiệu long thông bảo, Khai thái, Thiệu phong nguyên bảo, Đại trị thông, nguyên bảo. Hậu Lê sơ có chắc chắn các đồng tiền của thời thịnh trị, tuy sự việc kéo dài đến lúc đã bấp bênh nhưng còn chủ quyền để ráng đúc cho niên hiệu mình. Các thời đại rối loạn cũng có một số tiền đúc xác nhận được theo một số chứng cứ tuy không chắc chắn nhưng không có cách nào khác: Đại định thông bảo của Dương Nhật Lễ, xét theo truyền thống của Dụ Tông ngay trước đó và tính chất rất chính thống lúc đầu của ông vua lạc loài trong triều Trần này; Thánh nguyên thông bảo của Hồ Quý Li như tính cách mở đầu triều đại tuy ông này đã chuyển sang tiền giấy; các tiền Mạc; các tiền thời Lê Trung hưng: Nguyên hoà của người Nguyễn Kim đưa lên dấy nghiệp, các tiền Gia thái, Thịnh đức, Vĩnh thọ... Ta không kể đến các đồng Cảnh hưng vì rõ rệt quá, có rất nhiều, đủ dạng hình kể cả dạng hình bắt chước tiền Thanh đương thời. Và thêm nữa là tiền thời đại Tây Sơn, không những còn nhiều trong hiện vật mà còn được nhắc nhở trong các lệnh huỷ tiền nguỵ của các vua Nguyễn nữa.
Tiền như dấu hiệu chính thống trong việc tranh giành quyền lực nên ngoài tiền của các triều đại, ta còn thấy tiền của những tay nổi loạn mà các cổ tiền gia, không có cách nào khác, thường là đem so sánh tên tiền và các niên hiệu tự xưng được ghi trong sử sách. Ví dụ tiền Thiên ứng thông bảo của Trần Cảo (1516), Tuyên hoà hựu bảo của Trần Cung, con Trần Cảo...
Về các loại tiền mù mờ này, nhất là các thứ tiền có tên không ứng vào niên hiệu nào hết, các tiền đúc lại, chúng tôi đã từng bàn qua (Những bài dã sử Việt, Thanh văn, California 1996) nay chỉ thêm vài lời mà thôi. Chứng cớ khá tin cậy là ở các cổ tiền gia Trung Quốc. Họ mang tính cách đồng văn với Việt Nam, nhiều sưu tập, có các sách về cổ tiền trước các tác giả Âu Mĩ nhiều. Tuy một niên hiệu của Lí Thái Tông có đến 4 chữ (Thiên Cảm Thánh Vũ) nhưng khi họ tìm được đồng Thiên cảm nguyên bảo mặt sau có chữ “càn vương” rồi gán cho ông vua đúc tiền vì Thiên Cảm Hoàng hậu và ông con Phụng Càn Vương được phong vương riêng biệt và những chứng tích ưu ái tiếp theo, thì ta có thể tin là sự thể gần chắc chắn như thế.
Một niên hiệu lấy từ tôn xưng của “người thiếp yêu” được phong hoàng hậu hồi 9 năm trước (1035), chuyển qua tên tiền, có một phần tên con của bà hoàng đó, sao không phải là chuyện hữu lí một khi cũng sử kí xác nhận rằng ông vua đã từng đúc tiền (Minh đạo) ban cho các quan? Xét sự yêu chiều của vua cha (Thái Tông) như vậy mà không thấy sử chép năm Phụng Càn Vương chết khiến ta phải nghi ngờ lòng tốt của ông vua tiếp (Thánh Tông) khi nhận nuôi Công chúa Ngọc Kiều con Phụng Càn Vương. Ông này có bị Thánh Tông giết đi để tránh một cái hoạ Tam vương khác không?
Tuy nhiên cũng lại có cách trở địa lí khiến cho dữ kiện về lịch sử Việt của cổ tiền gia Trung Quốc có nhiều sai lệch, chưa kể chuyện đoán ẩu vì thiếu dữ kiện, bình thường như với bất cứ ai khác. Thấy tiền Cảnh hưng có chữ “sơn tây”, họ thắc mắc: “Sơn Tây là đất Trung Quốc mà!” (ĐTĐ, tr. 402). Họ bảo tiền Vĩnh ninh là niên hiệu của Phạm Ngọc người khởi nghĩa đầu Minh thuộc, điều mà chính họ cũng còn ngờ, còn sử ta thì không nói đến chuyện Phạm Ngọc xưng vương, chỉ có người đồng thời là Lê Ngã có niên hiệu Vĩnh Thiên và đúc tiền thì chắc với niên hiệu đó chứ không phải là Vĩnh ninh. Họ bảo đồng Phật pháp tăng bảo là của Trần Cảo (1516) chắc do đoán rằng binh sĩ ông này cạo trọc đầu, khởi binh ở chùa làng mà ra. Tuy nhiên, ông ta chỉ nổi chừng hơn tháng, lấy được kinh thành có hơn mươi ngày đã phải bỏ chạy thì sao đủ thì giờ vừa đúc tiền Phật vừa đúc tiền niên hiệu Ứng Thiên?
Thời chuyển mình qua văn hoá Tây phương khiến các cổ tiền gia Việt hiện nay không đọc được chữ Hán (hay không đủ kiên nhẫn tìm sách Tàu?) nên dẫn chứng theo các tác giả Anh, Pháp từ cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX, và sai bét. Họ không thấy cổ tiền gia Trung Quốc khi nói về mấy đồng tiền nhỏ ngoằn ngoèo đều cho là “giống An nguyên / An pháp” và loại này thì vốn của Hà Tiên, nên cứ tán rộng An pháp, Thái bình... là của triều Mạc, của các tay nổi loạn chống Minh nào đấy. Họ không thấy ông D. Lacroix chẳng hạn chỉ đọc được tiếng Việt không dấu, nên lộn ông này ra ông kia – khá hơn một ông Tây khác, Đại tá, cũng vì đọc tiếng Việt không dấu nên cho tiếng Việt là mẹ cả thế giới (L’annamite, mère des langues). Có một đồng tiền đọc là Trần công tân bảo hay Trần tân công bảo, được A. Schroeder cho là của Trần Công Ninh khởi loạn năm 1516, tuy giống ở cái tên nửa chừng nhưng khó chứng minh được gì vì cuộc loạn Trần Công Ninh rất nhỏ. Không hiểu vì lẽ gì tiền lại được gán cho Trần TUÂN, người khởi loạn ba năm trước đó! Chắc vì cuộc loạn này lớn nên ĐTĐ không đồng ý với A. Schroerder mà thuận cho chủ nhân là Trần Tuân, không kể đến mặt chữ Hán sờ sờ trước mắt. Các gán ghép không cần chứng minh của D. Lacroix có sai cũng không nói làm gì, có điều đến ngày nay mà có “học giả” vẫn bám vào mới thật là đáng tiếc.
Sự suy đoán về chủ nhân các mẫu tiền cũng như chuyện ở các nơi khác, lúc nào cũng phải loại bỏ sự dễ dãi, theo đuôi. Và nhất là, đúng với tinh thần nghiên cứu, phải căn cứ trên hiện vật. Các cổ tiền gia Trung Quốc, sưu tập được nhiều, thường hay tìm ra tính cách chung của một loại tiền Việt, của một thời rồi đối chiếu, tìm ra kết luận. A. Schroeder đã cẩn thận một chừng mực đáng kể so với thời đại. Không phải cứ thấy đồng tiền có tên Đại định, Thái hoà... là nhất quyết phải thuộc về ông vua Việt (hay Trung Quốc) có niên hiệu đó. Sự chiếm hữu có khi bị thôi thúc mạnh vì “tinh thần dân tộc” dâng cao, ví dụ như nhất quyết Thiên đức thông bảo làcủa Lí Bôn/Bí dù rằng vua Mân đã cầu chứng tiền của mình bằng cách khắc thêm mặt sau một loại tiền bằng chữ “Ân” chẳng hạn.
Suy đoán trên hiện vật kèm theo chút nhìn nhận điều kiện lịch sử cũng có thể giải toả nhiều thắc mắc. Năm 1970 gì đó, cầm trên tay đồng Nguyên hoà chữ triện chúng tôi thật phân vân. Nguyên Hoà cũng là niên hiệu của Nhật, của Hán Chương Đế, của Đường Hiến Tông (bắt đầu 806). Tuy nhiên cổ tiền gia Trung Quốc không giành tiền về phần mình vì đời Hán chưa dùng chữ thông bảo, Tân Đường Thư không chép việc đúc tiền nên họ thường ghép vào niên hiệu của Lê Trang Tông (1533-1548). Tiền Lê theo truyền thống bắt đầu từ Minh đã giản dị đi, không đầy lối thảo triện hoa hoè như của Tống nữa, do đó đồng Nguyên hoà này có vẻ lạc loài thời đại. Tuy nhiên nhìn các tiền Tống lưu hành ở Việt Nam đến mức gần như tuyệt đối, phải suy nghĩ, lối đó sao không ảnh hưởng đến chủ ý của người ra lệnh đúc tiền muốn chứng tỏ là minh chủ của một thời “trung hưng”, bình nghịch tặc? Mẫu Nguyên hoà chữ khải giá rất đắt so với mẫu chữ triện, chứng tỏ nếu tiền đúc cho một người thì khuynh hướng chữ triện đã thắng thế, nghĩa là lượng tiền đúc nhiều hơn, đúng với chủ ý muốn nổi bật đã bàn ở trên của người chủ trương. Đồng Ninh dân thông bảo không chứng tỏ một nhân vật, một niên hiệu mà chỉ có nghĩa của một ước vọng tốt đẹp, nhưng khi biết được Nguyễn Tuyển, một người từng ở trong vòng thân cận của vương quyền Trịnh Lê (“khách” của hoạn quan Hoàng Công Phụ), nổi dậy ở Ninh Xá, dựng cờ “Ninh dân”, xây dựng sự nghiệp riêng, thì ta có thể đoan chắc đó là tiền của ông này.
Sự mò mẫm đòi hỏi cực nhọc nhưng một chút thành tựu nhỏ nhoi khiến cho một đồng tiền mù mờ trở nên có danh vị, cũng thật bõ công tìm tòi... Ninh dân thông bảo là một trường hợp chứng tỏ tiền đúc có căn bản là một chứng minh quyền lực hơn là vì nhu cầu lưu thông. Ngay cả một số lớn tiền niên hiệu cũng vậy. Vì ít chúng mới trở thành hiếm. Không phải bởi nhu cầu lưu thông cho nên vua đúc tiền ban cho các quan, cho vợ con cưng, theo một đòi hỏi thoả mãn riêng tư.
Trong đời Trần, tiền đúc dồi dào dạng hình không phải từ các ông vua anh hùng đánh giặc, ngâm thơ mà là của ông vua ăn chơi Trần Dụ Tông. Ông này có hai niên hiệu thì đều có đúc tiền, niên hiệu đầu còn tuỳ thuộc ông Thượng hoàng Minh Tông nên tiền chỉ có một, hai loại, đến khi thoát ra được kềm toả thì niên hiệu Đại Trị sau có đủ thứ kiểu dáng tiền. Vẫn là không nhiều như ngày nay đã chứng tỏ, nhưng điều đó cho thấy khả năng tự phô trương hạn hẹp của ông vua gốc con nhà chủ ruộng, chủ thuyền chài, thu hẹp thành ông vua chủ vườn tỏi bán lấy tiền đánh bạc cho qua những ngày xác thịt thôi thúc mà không được thoả mãn. Tuy nhiên, hình như lối sống “tiền bạc” đó cũng đã khiến ông nhìn rộng hơn về giao thương, tầm nhìn lớn hơn các ông vua anh hùng kiêu ngạo, hay sống đạo đức xa rời thực tế.
Dù sao thì nhìn các đồng tiền Đại trị ta cũng thấy khả năng đúc đương thời không thua của Trung Hoa. Khả năng đó, qua chứng vật, lại cho thấy không tuỳ thuộc sít sao vào biến động ở tầng lớp trên. Hẳn người thợ đúc không phải đợi Trần Dụ Tông ra lệnh mới nảy sinh tài năng.
Trong triều Lê sơ về sau, các đồng tiền tốt cùng một kiểu dáng Hồng đức (của niên hiệu bắt đầu 1470) không những còn thấy ở các đời vua loạn Uy Mục, Tương Dực về sau mà vẫn giữ dáng dấp đến cả đồng tiền của Mạc Đăng Dung. Vậy mà cùng một đời vua, đồng Quang thuận (niên hiệu đầu của Lê Thánh Tông, 1460-1469) thấy kém thua đồng Hồng đức, điều đó chứng tỏ sự ổn định bắt đầu từ lúc ông lên ngôi phải đợi một thời gian mới có kết quả trong niên hiệu sau.
Thật ra thì không phải không có lúc tiền triều đại Việt có mặt trên thị trường với số lượng đáng để ý. Sách tiền đời Tống đã dẫn việc tiền Thiên phúc trấn bảo có chữ Lê xuất hiện trên thương trường, điều này không phải là lạ khi sử ghi rõ việc buôn bán ở châu Liêm và trấn Như Hồng giữa Tống và Việt. Rồi đến thế kỉ XVIII nổi bật với đồng Cảnh hưng. Không phải bỗng dưng mà họ Trịnh đề cao ông vua Hiển Tông nín thở cầu mạng, bằng cách cho đúc tiền đủ thứ dạng hình mang niên hiệu của ông (1740-1787). Đó chỉ là vì tình trạng loạn lạc đương thời “việc quân hao tốn”, nhà nước cần tiêu dùng. Thiếu tiền, người ta cho sử dụng cả tiền kẽm, đổi tiền nát để đúc lại với nửa giá trị (1741-42) trong lúc ở thế kỉ trước thì cấm ngặt, tịch thu, chỉ hoàn lại có 1/5 giá trị (1663). Và công quỹ thiếu, năm 1741, người ta tăng thuế ruộng công tư mỗi mẫu 2 quan tiền (Phan Huy Chú,Lịch triều hiến chương loại chí – Quốc dụng chí, tr. 237, 243, 244). Khi đúc tiền thì tất phải lấy niên hiệu ông vua đương thời, không có cách nào khác, huống chi còn có thể nhân việc này mà tỏ dấu hiệu tôn phù đối với dân chúng để chống đỡ sự phản đối khắp nơi. (Lịch triều.., Lễ nghi chí, tr.58). Tuy nhiên từ tính chất dồi dào dạng hình cũng lộ ra một ý thức khoe mẽ của kẻ yếu. Thay vì cứ đúc Cảnh hưng thông bảo cho nhiều, người ta lại thay chữ thông bằng chi, chí, thái, đại (thật ra chẳng lớn tí nào)... rồi lại thêm dấu hiệu lò đúc trung ương, địa phương... Rồi cũng có dấu hiệu mất kiểm soát của chính quyền, tiền Cảnh hưng có thứ mang dấu ngũ thù nửa chừng, dấu hiệu chữ Mãn bắt chước của tiền Thanh...
Không nên lấy làm lạ về điều này vì như Phan Huy Chú cho biết từ khi trấn Sơn Tây được phép mở trường đúc tiền (1760) thì các trấn khác hùa theo, và mở màn cho các khách thương Trung Hoa bao thầu “giấu diếm gian dối, mưu tính kiếm lợi”. Chữ Mãn Châu ở mặt trái tiền còn xuất hiện nơi đồng Minh mạng. Trong các báo cáo đào bới, cho đến gần đây không thấy có những chi tiết kiểm điểm phân biệt tiền Việt, tiền Trung như A. Schroeder đã làm với mớ tiền ở Quần Ngựa (Hà Nội). Có thể vì lẽ thiếu người chuyên môn trong lúc phải tập trung vào nhiệm vụ chứng minh Bốn ngàn năm văn hiến với các vua Hùng dựng nước. Tuy nhiên nhìn chung thì tiền Việt vẫn là thiểu số trong số lượng lưu hành như chứng dẫn ở bất cứ nhóm tiền nào đào từ trong đất ra. Vẫn biết trong tình hình chung nền văn hoá, đồng tiền đồng mang dấu hiệu chung thì việc sử dụng tiền Trung Hoa không gây thắc mắc ở Việt Nam cũng như ở Cao Li, Nhật Bản nhưng số lượng tiền Tống áp đảo ở Việt Nam cũng là điều đáng lưu ý.
Có giải thích cho rằng từ Nguyên, Minh, Trung Quốc dùng tiền giấy, không đúc tiền đồng (ngay Minh cũng không đúc đủ tiền niên hiệu nữa) cho nên tiền đồng dồi dào đời Tống phải chạy ra ngoài. Đại Việt vốn chỉ đúc tiền niên hiệu để tượng trưng tính cách chính thống cho dân nước nên không có truyền thống đúc tiền cho nhu cầu sinh hoạt, và dễ dàng tiếp nhận loại tiền từ bên ngoài vào.
Trong tình hình giao thương với Trung Quốc, nhà nước Đại Việt có cái lợi là thuộc xứ có sản phẩm nhiệt đới như đã chứng tỏ từ xưa. Cống phẩm của thời phân li không thể dồi dào như cống phẩm thời thuộc trị nên các cuộc buôn bán giữa Trung Hoa và Đại Việt độc lập trở thành như một cuộc trao đổi hàng lấy tiền đồng, một bên lấy hàng đưa tiền đồng đã thừa mứa ở chính quốc và một bên khỏi đúc tiền hẳn là đỡ tổn phí, chắc chắn tốt hơn hàng nội. Số lượng tiền đưa vào đó thường thường đã là đủ cho sinh hoạt kinh tế trong nước. Hồ Quý Li làm cuộc “cách mạng tiền giấy”, sở dĩ thất bại chỉ vì muốn thâu tóm cho dòng họ mình, chính quyền mới, lại cũng chỉ bắt chước Trung Hoa mà không để ý đến thực tế trong nước với tình hình trao đổi bằng tiền đồng không lớn đến mức độ cần đến tiền giấy.
Tiền Tống trở thành quen thuộc trong sinh hoạt đến nỗi khi cần người ta lại đúc tiền Tống. Không rõ điều này đã xảy ra vào năm nào nhưng trong một lệnh chỉ 1745 nói về “(các) đồng tiền Cảnh hưng, Thái bình, Nguyên thông mới đúc”, chúng ta thấy chúng được đúc ít ra là đồng thời với nhau (niên hiệu Cảnh Hưng bắt đầu 1740). “Nguyên thông” rõ ràng là một cách nói gọn về các tiền Nguyên phong, Nguyên hựu... (thông bảo) của Tống, như vậy Thái bình cũng là của Tống (tiền niên hiệu Thái Bình Hưng Quốc của Tống Thái Tông cũng có nhiều trong các khai quật). Và điều này cũng xảy ra đồng thời ở Đàng Trong, chứng tỏ cùng chung biến động thương mại trên toàn vùng.
Thói quen không đúc tiền cho sinh hoạt kinh tế cũng bắt nguồn tâm ý điều hành đất nước của tầng lớp nho sĩ, trí thức đương thời. Vẫn thấy có dòng sinh hoạt thương nghiệp nằm ngoài tầm tay người cầm quyền nơi các truyện Chử Đồng Tử, An Tiêm, nơi các ghi chú về chợ Đông, chợ Tây... Tuy nhiên tính chất của ghi chép lại chứng tỏ thương nghiệp không phải là nguyên cớ chính: Trong các “chuyện đời xưa” kia, An Tiêm là kẻ đi đày, Chử Đồng Tử là anh chàng nghèo hèn gặp may, lúc làm ăn thịnh đạt đã phải biến đi để tránh tội phản loạn, còn các chợ được ghi chỉ vì có cháy lớn, vì là nơi “bêu đầu thị chúng”!
Suốt các triều đại Việt, người ta coi thường thương nghiệp không phải chỉ vì Nho Giáo dạy dỗ. Thời Lí Trần, các ông vua là những điền chủ thực thụ ít nhiều, cho nên thu nhập từ ruộng đất trong nước và với bên ngoài qua hình dạng cống phẩm (thực thụ với Trung Hoa, giả mà quan niệm là thật với các nước Xiêm, Chân Lạp, Chà Và..). cũng là đủ với triều đình rồi. Còn nho sĩ cũng chỉ là gia thần của Trần như đã nói tuy có dấu hiệu có người giàu hơn chủ, nhưng không hẳn vì đi buôn. Phạm Ngũ Lão giàu đến mức coi thường ông con út Trần Thái Tông hẳn vì gốc có ruộng đất, chớ suốt đời đánh giặc như thế ông không rảnh rang mà đi buôn được! Trương Hán Siêu gả con gái cho người bị liệt vào hàng “tam bảo nô” chỉ vì người này giàu có theo với ruộng đất của chùa. (Đến như đầu thế kỉ XIX, nhà nho Phan Huy Chú khi bàn về cuộc tranh luận tiền giấy tiền đồng thời Lê Lợi, còn viện dẫn đời Thương Chu “nước đủ, dân giàu chỉ cần lấy thóc lúa làm gốc” nữa là!) Qua đến Lê với phát triển của Nho học, nho sĩ cũng không thể vượt thoát được tình trạng lệ thuộc mà còn như phải luỵ nhiều hơn vì với ý thức hệ Tống Nho đã thăng tiến cho họ, tương quan gia thần với bậc chủ tể trước kia nay được nhấn mạnh hơn trong tương quan tôi chúa. Cho nên có sự đồng tình liên tục của triều đình trong cách xử trí đối với tầng lớp thương nhân. Nhóm tù trưởng Lam Sơn không biết gì về buôn bán lớn lại có sự xúi giục của nho sĩ trung châu nên cho bày hàng hoá của sứ bộ đem về để bêu xấu họ, và còn định thêm: “Việc này rồi thành lệ thường” (tháng 11âl. 1432).
Kinh sách xâm nhập vào nho sĩ đến mức có người đã quên sự tủi nhục của chính bản thân chính vì kinh sách đó. Đào Duy Từ không được Lê Trịnh cho đi thi vì bản thân “con nhà xướng ca vô loài” thế mà khi vào phục vụ Đàng Trong thấy chúa Hiền muốn tự thân nắm lấy mối lợi buôn bán với bên ngoài, ông quân sư đã mặc áo thương nhân để khuyên can chúa đừng hạ giá dù là làm người đứng đầu giai cấp (1632). Nho sĩ thấm nhuần lâu trong môi trường đất nước nuôi dưỡng không thể thấy rằng ngay nơi xứ sở nhồi nhét kiến thức cho họ, cũng chỉ bắt chước Mạnh Tử “Nói đến nghĩa mà không nói đến lợi” là ở bề ngoài mà thôi. Nghĩa là Trung Quốc tuy ép thương nhân ở vào tầng lớp cuối của xã hội, vẫn có ông đòi buôn vua (Lã Bất Vi), vẫn có cả một tầng lớp thương nhân sang cả làm giàu cho đất nước, và nhà nho cũng vẫn chú ý đến kinh tế để tranh luận về việc nên độc quyền hay không (Diêm thiết luận), vẫn thêm một thiên Thực hoá chí trong các quyển sử của họ... Cho nên ở Đàng Trong, mặc dầu sự coi thường của Đào Duy Từ, thương nghiệp ở đấy vẫn tiếp tục để đủ khả năng chống cự với Trịnh, và khi dòng phát triển gặp vấp ngã thì chen vào đề nghị cứu nguy (tuy muộn) lại là một nhà nho, Minh hương, Ngô Thế Lân, người cũng đã từng mơ màng chuyện gió trăng tre trúc.
Khả năng quản lí đất nước của nho thần Việt ứng hợp tình hình thực tế của đất nước cũng thấy ở việc chảy máu tiền đồng vào nửa đầu thế kỉ XVIII trên đất Lê Trịnh. Trong khi cùng thời gian ở Đàng Trong, việc phát triển thương mại sinh ra thiếu tiền lưu thông, người ta phải nhập tiền đồng, đúc tiền kẽm thì ở Đàng Ngoài, lúc vẫn cần phải đúc cho nhu cầu thực tế, thì đồng thời tiền lại được chuyển lậu ra ngoài. Năm 1721, đoàn tàu Anh của Madras mua lậu tiền bị thuyền Chúa rượt đuổi bắt đánh chìm 2 chiếc. Năm 1734, tàu Hoà Lan của Batavia bị chận bắt vì chở tiền lậu, còn một thuyền Quảng Đông năm 1744 thì bị chìm khi ra khỏi bến chỉ vì chất nặng tiền đồng và bạc! (A. Forest, “L’ASE continentale vue de la mer”. Trong Commerce et navigation en ASE – XIV-XIXe siècle, L’ Harmattan, 1999, tr. 18).
Cũng có thể thấy những chuyện buôn tiền như thế ở Phủ biên tạp lục, tuy Lê Quý Đôn không nói rõ hơn. Tiền chạy ra ngoài nhiều có thể vì thói quen hối lộ tham nhũng của vua quan Việt dẫn đến truyền thống buôn lậu trong vùng, nhưng phần khác có thể chính vì sinh hoạt ở xóm chợ làng quê không cần đến số lượng tiền như thế mới thấy có mối lợi trong việc buông lỏng cho chúng ra đi, như trong chuyến buôn lậu năm 1721 dẫn trên có “sự a tòng của dân làng”. Và có lẽ đó cũng là nguyên nhân của việc đã đúc nhiều tiền Cảnh hưng cho nhu cầu quân vụ mà lại vẫn thiếu tiền đồng chi dụng.

12 Chín 2003
Văn học, tháng Mười một 2003

[*] Trong Những phát hiện khảo cổ học mới năm 2001, có báo cáo về hàng trăm kí tiền cổ xuất hiện ở Bình Đinh, Phú Yên. Năm 2002 lại có 3 bài về tiền cổ, tất cả chứng tỏ trong nước không có chuyên viên về loại này. Không có suy nghĩ thông mình đã đành mà thành kiến tự phụ địa phương lại càng làm rối rắm thêm vấn đề đáng lẽ không nên có. Việc đồng An pháp của Hà Tiên chỉ cần nói vài câu là giải quyết xong, thế mà chỉ vì cho rằng chỉ có vua Mạc ở Miền Bắc mới có danh nghĩa đúc tiền nên lằng nhằng cãi nhau nhiều năm, qua lại đến hơn 10 bài tranh luận. (Nguyễn Anh Huy, “Những nhận định về ‘họ Mạc đúc tiền’” trong Nam Bộ, đất và người, tập II, 2003, tr. 09).

(còn tiếp) Tạ Chí Đại Trường 

Lần cập nhật cuối ( Thứ sáu, 19 Tháng 11 2010 10:53 ) Read : 2043 times  

Phỏng vấn ô. Bùi Tín - 2014