TRẦN THƯ
ANH CẢ C̉
(CHUYỆN NGƯỜI TÙ XỬ LƯ NỘI BỘ)
NHỚ LẠI VÀ GHI LẠI
Hà nội – 2002-2005
lời nói đầu
Tôi đă may mắn sống sót sau khi được nếm trải những hoàn cảnh mà hẳn là ít người được sống, rồi tôi đă viết những điều ấy ra trong cuốn sách này v́ nghĩ rằng không viết ra th́ thật phí của giời. Những bài học ở đây tôi rút ra cho chính ḿnh trước khi có thể làm bài học cho người khác. Bài học cho tôi, ấy là viên thuốc có thể là đắng cho con người có niềm tin vào một lư tưởng cách mạng, con người của chính thế hệ tôi đó.
Có lúc tôi nghĩ ḿnh nên viết thành một cuốn tiểu thuyết, kiểu như Chuyện kể năm 2000 ấy, v́ ở đây có đủ chất liệu cho một cuốn sách kiểu loại ấy. Nhưng trong đời, tôi mới chỉ thử nghề viết báo, chưa thử nghề viết tiểu thuyết, mà nếu bây giờ bắt tay vào một thể loại mới mẻ với ḿnh, th́ chắc chắn phải cần đến nhiều thời gian. Mà tôi th́ không c̣n thời gian nữa rồi. Tôi bị ung thư, sống chết không biết lúc nào, đành chọn cách viết kể chuyện thật, có thể nhanh hơn viết tiểu thuyết, may ra c̣n kịp. Song giá như có thời giờ viết tiểu thuyết, th́ đó cũng hoàn toàn là chuyện thật, hệt như trường hợp của nhà văn Bùi Ngọc Tấn, không thể khác được.
Tôi viết thành hai đợt, đợt đầu viết trong thời gian xen kẽ giữa bốn lần leo lên bàn mổ, trong đó có nhiều trang viết ngay trong bệnh viện.
Sau lần mổ thứ năm, tôi phải giành thời gian để dịch vài cuốn sách kiếm ít tiền chữa bệnh. Sau đó định bắt tay vào làm tiếp th́ chẳng may bị một cơn tai biến mạch máu năo, nhưng cũng lại may, chỉ bị liệt nửa người bên trái. Tập tành ít lâu đă đỡ, tôi kiếm cái máy chữ cũ tập mổ c̣ một tay viết tiếp phần cuối. V́ làm việc như vậy nên không tránh khỏi có những chỗ sơ lược, mong bạn đọc hiểu cho.
Cuốn sách này có nhiều t́nh tiết buồn, nhưng tôi thường cố viết thành vui, v́ câu chuyện là một bi hài kịch. Bi đát đấy mà cũng khôi hài ra dáng!
Viết xong được bốn năm, thấy ḿnh vẫn chưa chết, tôi tranh thủ xem lại, sửa chữa, bổ sung một số đoạn. Và thêm vài lời bạt.
Tôi cũng như mọi người cầm bút bao giờ cũng hy vọng vào một lúc thuận lợi, sách của ḿnh sẽ bước ra gặp gỡ những bạn đọc của nó. Căn cứ vào t́nh h́nh bi thảm hôm nay, nghĩ rằng cái buổi sách của ḿnh bước lên giá hiệu sách, chắc khi ấy ḿnh về chầu ông bà ông vải rồi (chứ tôi chẳng đi gặp cụ Mác và cụ Lênin đâu). Nếu sách may mắn được in ra, th́ tôi mong rằng nó sẽ được in theo bản đă bổ sung này.
PHẦN MỘT
Một sáng tháng sáu năm 1973, tại trại giam quân sự trung ương ở Bất Bạt, Sơn Tây.
Tôi quay lại nh́n lần chót ngôi nhà nhỏ giam tôi. Đó là một ngôi nhà vuông, nom như cái cḥi canh đê, đủ cho một người ở, kê một giường cá nhân, một bàn viết kèm theo ghế tựa, trên tường có giá xích đông để đặt các đồ linh tinh. Nhà có hai cửa sổ, xây trên sườn đồi thoai thoải, trước nhà là sân và vườn rộng khoảng một sào, có giếng nước trong leo lẻo với con cá lội tung tăng, có chuồng gà ghép bằng thân cây sắn, có hố vệ sinh.
Bên ngoài, dưới chân đồi là ruộng lúa và xa xa là mấy ngọn đồi thông. Ngồi trước cửa sổ nh́n ra sân thấy một bụi hồng lớn, hoa lá um tùm, cao hơn đầu người, do ai bị giam ở đây trước tôi đă trồng. Không rơ loại hồng ǵ mà hoa chỉ nhỏ bằng những bông nhài lớn, nhưng nhiều lớp cánh đỏ chót, rất đẹp, và chi chít hàng trăm, mấy trăm bông. Bao nhiêu buổi chiều xuống, tôi đă đứng ngắm bụi hồng này hồi lâu, chọn xem bông nào là Thuư Kiều, bông nào là Thuư Vân.
Đại để là một ngôi nhà kẻ sĩ ở ẩn, trong đó anh muốn làm ǵ th́ làm. Một ngôi nhà ở ẩn, nếu không có cái rào dây thép gai ken lẫn với mấy hàng cây sắn cao rậm rạp, và nếu ban đêm cửa buồng không bị khoá trái. So với tất cả những nơi tôi bị giam giữ trước đó th́ đây quả là một nơi không dám mơ ước.
Sáu tháng trước, khi được chuyển từ trại giam Tân Lập, Yên Bái về đây, tôi đă ngạc nhiên một cách thú vị. Nhưng chỉ một tuần sau là mọi sự đă rơ : gia đ́nh tôi lên thăm, báo tin một số anh em đă được về. Vậy là tôi cũng sắp được về. Và đây là nơi tôi được chuẩn bị để làm quen dần với tự do. Thực là chu đáo quá ! Nếu đùng một cái được thả ra khỏi nhà tù, khéo tôi hoá rồ mất thật. Và đây cũng là nơi để người ta vỗ béo cho tôi (tất nhiên là bằng tiền của vợ con tôi) trước khi tôi được cho về triềng làng, triềng nước, v́ ở đây gia đ́nh được đi thăm nom tiếp tế thoải mái. Chỉ sợ không có sức.
Vậy là một lần chót tôi quay lại nh́n từ biệt ngôi nhà nhỏ đă chứng kiến bao tâm tư của tôi, rồi bước đi theo người quản giáo. Tôi mặc bộ quần áo tù nhuộm chàm, đầu đội nón, vai gánh chiếc ba lô lính và đồ đạc lỉnh kỉnh (nồi niêu chai lọ hộp...) treo lủng lẳng hai đầu chiếc đ̣n gánh làm bằng cành cây, tay trái xách chiếc bu gà có một con gà mái già đă đẻ ba bốn lứa mà bà mẹ vợ tôi đă đem đến tiếp tế cách đây mấy tháng để nó làm bạn với tôi trong cảnh cô quạnh. Bây giờ trông thấy tôi trong bộ dạng này chắc bà phải cười ra nước mắt.
Người quản giáo dẫn tôi loanh quanh đường đồi đến một gian nhà khác, bảo tôi đặt đồ lề vào góc, và chỉ cho tôi ngồi vào bên bàn, ở đó đă có ba người, hai cán bộ chấp pháp của Bộ Công An và một trung tá của cục Bảo vệ Quân đội, ngồi trực sẵn.
Một trong hai người kia mở đầu :
- Chắc anh đă rơ hôm nay anh được gọi ra đây để làm ǵ ?
Tôi gật đầu :
- Có !
Rồi ông ta đọc cho tôi nghe liền một lúc bốn cái lệnh :
Lệnh thứ nhất : lệnh tạm giam Trần Thư 3 năm v́ tội chống Đảng, kư tháng 12/1967.
Lệnh thứ hai : lệnh tạm giam thêm 3 năm, kư sau 3 năm, tức 1970.
Lệnh thứ ba : lệnh tạm tha, kư mấy ngày trước đây.
Đến đây th́ kèm theo lời giải thích :
- Như thế là anh được về sớm sáu tháng so với thời hạn. Đó là do chính sách khoan hồng của Đảng và do anh đă cải tạo tốt.
Cuối cùng là lệnh thứ tư : lệnh quản chế 3 năm lao động cải tạo tại huyện Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên, kư cùng ngày với lệnh tạm tha.
Tôi có vài ư nghĩ :
Một là : tất cả các lệnh trên đây, cùng với lệnh bắt tôi trước kia và các lệnh khác sau này, tôi chỉ được đọc cho nghe qua một lần, không được cầm đọc, càng không được có một bản sao gửi cho đương sự để thi hành, cho nên tôi không nhớ được cụ thể ngày kư và người kư. H́nh như người ta không muốn tôi có được bất cứ một thứ giấy tờ ǵ làm bằng chứng cho việc tôi bị bắt.
Hai là : tôi có cảm tưởng cả bốn lệnh trên đây đều được kư cùng một lúc, một ngày, nhưng lại đề ngày tháng khác nhau. Nếu không th́ tại sao một lệnh được kư cách đây 5 năm rưỡi lại phải đợi đến bây giờ mới được đọc cho đương sự nghe để thi hành ?
Ba là tất cả đều là tạm. Tạm giam, nghĩa là không xét xử, không có án, không thời hạn, thích th́ tạm giam thêm, không thích nữa th́ tạm tha, nghĩa là không tha hẳn, có thể hiểu là : được cho về th́ « tăng xương » (1), ấm ớ là ông bắt lại.
Bốn là : một cơ quan nhà nước là Bộ Công An lại bắt giam người v́ tội chống Đảng, và tha người cũng v́ chính sách khoan hồng của Đảng.
Tất cả các thủ thuật làm cho việc bắt bớ tôi có vẻ hợp hiến ấy tôi thấy nó lủng cà lủng củng quá ! Nhưng những ư nghĩ ấy là măi về sau này ngồi nghĩ lại tôi mới nẩy ra dần dần. Chứ ngay lúc đó th́ những cảnh hiện ra trước mắt tôi, những câu nói lọt vào tai tôi rồi lại bay đi đâu mất , tôi đâu có để ư đến.
Chỉ có độc một ư nghĩ : Tự do ! Tự do !
Người tôi cứ bàng hoàng, nhẹ như bấc. Và tất cả những ǵ đă xẩy ra với tôi trong những năm tháng vừa qua bỗng trở thành một quá khứ xa xăm.
Lúc ấy tôi đă quên sạch.
Quên rồi, những đêm giá rét nằm trong xà lim Hỏa Ḷ, nghe tiếng chuông xe điện leng keng từ phía Cửa Nam vọng lại mà có cảm tưởng như nằm dưới đáy mồ lạnh lẽo nghe tiếng động của trần gian vọng xuống.
Quên rồi, những đêm tháng sáu, cũng cái xà lim Hỏa Ḷ rộng vài mét vuông ấy với cái cửa sổ thông hơi sát trần cao năm mét. Tiếng bay rào rào của hàng trăm con muỗi to bằng con ruồi. Chiếc màn bằng vải xô bí ŕ đỉnh màn c̣n phủ kín quần áo để che bớt ánh điện 100 oát quái ác ở trên trần cứ chiếu xoáy vào mắt. Và bên trong cái lồng ấp ấy, tôi nằm trần truồng, vật vă trên sàn xi măng nóng hổi và nhầy nhụa mồ hôi ṛng ṛng từ người tôi chảy xuống. Cảm giác ḿnh như con lợn lăn lộn trong cái chuồng đầy cứt đái.
Quên rồi, những buổi bức cung đáng sợ. Suốt hai tháng trời chỉ có độc một câu hỏi : « Hoàng Minh Chính đă lệnh cho anh hoạt động những ǵ trong quân đội ? »
Có lúc đổi thành : « Hoàng Minh Chính đă truyền đạt cho anh những chỉ thị ǵ của Liên Xô về hoạt động trong quân đội ? » hoặc dữ dằn hơn : « Liên Xô đă chỉ thị cho anh hoạt động ǵ trong quân đội ? ».
Nếu chuyện đó có thật th́ chắc tôi đă khai ra hết rồi. V́ sau chín tháng trời bị quần như thế, người tôi đă nhăo hết. Vả lại... « Đảng hỏi anh cơ mà, Đảng mà anh đă hi sinh cả thời trai trẻ của ḿnh cho nó, Đảng đầy t́nh thương yêu đồng chí, chỉ mong anh trút bỏ tội lỗi đi th́ sẽ tha thứ cho anh. Đảng chỉ muốn cứu vớt anh. Anh khai mau cho xong đi, để về. Về cho chị ấy đi học bác sĩ chứ, cơ quan chị ấy định bố trí cho chị ấy đi học lớp bác sĩ mà. Về mà chăm lo con cái chứ mặc cho một ḿnh chị ấy hay sao ? Và c̣n tương lai của anh nữa, anh là một cán bộ trẻ có năng lực... ».
Đúng là nếu chuyện mà người ta muốn tôi khai ra là có thật th́ chắc chắn tôi đă khai ra hết. Nhưng chuyện đó không hề có và tôi c̣n đủ tỉnh táo và lương tâm để không đơm đặt điều ǵ cho ai. Nhưng tŕnh bày như thế nào th́ cái ông Nhuận có bộ mặt lầm ĺ da sát tận xương kia vẫn nhất định không tin. Và tiếp theo những lời dỗ ngon ngọt là một cái đập bàn : « Anh định chết rũ xương trong tù hay sao mà không chịu khai ? ». Tôi ngồi đó, ḷng đầy tuyệt vọng, nước mắt chỉ muốn ứa ra, và óc lởn vởn một ư nghĩ : có nên lao ra đập đầu vào ô cửa kính kia hay không ?
Bao nhiêu cay đắng, bao nhiêu ê chề, bao nhiêu cơ cực, bao nhiêu oán hờn nặng trĩu hai vai !
Nhưng lúc này đây tôi đă quên sạch. Tôi cứ ngồi đó, người lâng lâng, miệng mỉm cười. Như một thằng ngố.
– Anh chú ư là về địa phương t́nh h́nh phức tạp, có những kẻ xấu, đừng để họ lôi kéo.
Câu nói ấy của một trong hai người cán bộ chấp pháp kia làm tôi bừng tỉnh. Và bất ngờ tôi bật ra một câu đối đáp :
– Các anh coi thường tôi quá ! Chẳng ǵ tôi cũng là một tên phản cách mạng cỡ kha khá, lại để mấy anh tề ngụy ở xă lôi kéo hay sao ? Tôi tha lôi kéo họ th́ thôi chứ.
Nói câu ấy là tôi ám chỉ cái lệnh bắt tôi trong đó gọi tôi là « tên phản cách mạng Trần Thư ». Và cũng ám chỉ cả cái « Sắc lệnh trừng trị phản cách mạng » đầy những điều khoản mơ hồ mà năm 1967 ban Thường vụ Quốc hội đă thông qua để làm cơ sở pháp lư cho việc bắt bớ chúng tôi. Và trong quá tŕnh hỏi cung người ta không đánh giá tôi là cái ǵ khác ngoài cái là phản cách mạng, phản động, phản quốc, phản dân, phản Đảng, tóm lại là ngũ phản.
Nhưng câu nói ấy tôi cũng nói một cách vui vẻ, như một câu pha tṛ. Tôi tưởng họ sẽ phản ứng. Ngờ đâu họ cũng cười, chắc là thấy câu pha tṛ có duyên.
Một không khí hồn nhiên vui vẻ.
Lát sau người ta bảo tôi ra xe. Anh trung tá Cục bảo vệ sẽ áp tải tôi về Phù Cừ. Tôi định ra lấy đồ lề th́ anh ta ngăn tôi lại, ôn tồn nói :
– Anh cứ ra xe, đồ lề để đấy tôi bảo anh em cảnh vệ mang đỡ ra cho.
Quả thật hôm nay, người với người là... bạn.
Hay là tôi tưởng như thế ?
Tôi hăm hở bước ra xe com-măng-ca, hùng dũng như một vị thủ trưởng. Bỗng từ ngọn đồi xa xa, vẳng lại một tiếng con gái trong trẻo :
– Ḥ lơ, hó lơ, lắng tai nghe tiếng ai...
Tiếng ḥ của các cô gái dân công trên đường đi chiến dịch năm nào !
Tôi đứng sững lại. Và nước mắt cứ thế trào ra, trào ra, không tài nào ngăn được. C̣n miệng th́ cười. Một nụ cười thê thảm.
***
Tôi vốn là học tṛ trường Bưởi, cũng như bao bạn khác, nghe lời kêu gọi của cách mạng, đă « xếp bút nghiên lên đường tranh đấu ». Hoạt động « nghiệp dư » hơn một năm th́ tôi được chỉ thị của cấp trên thoát ly gia đ́nh đi làm « chuyên nghiệp ». Tôi trốn nhà ra đi, lấy trộm mang theo một tạ gạo là toàn bộ số gạo mà bố mẹ tôi tích trữ để đề pḥng nạn đói.
Nhưng đi được ít lâu th́ bị ông bố tôi tóm gọn.
Số là tôi có một người anh họ, cũng đi Việt Minh nhưng không thoát ly gia đ́nh, và thỉnh thoảng tôi có qua lại nhà để trao tài liệu. Bố tôi đă thuyết phục được anh họ tôi hôm nào tôi đến th́ phi báo cho cụ v́ cụ muốn nói chuyện với tôi. Thế là một bữa nọ, tôi đă bị bắt sống.
Bố tôi là một ông giáo học rất nghiêm khắc. Trong họ, tôi nổi tiếng sọ rắn. Duyên do là hồi tôi c̣n nhỏ, hàng ngày kèm tôi học ở nhà, không bữa nào cụ không củng lên cái đầu trọc lốc của tôi vài cái cốc tưởng phải thủng sọ. Vậy mà sọ tôi vẫn “gin” (1). Ở trường, tôi vẫn giỏi về môn tiếng Pháp, viết chính tả thường không phạm lỗi nào, hoặc chỉ một hai lỗi là cùng. Nhưng cũng vẫn bài ấy, về nhà bố tôi đọc cho viết lại th́ bao giờ tôi cũng phạm từ mười lỗi trở lên.
Chẳng là v́ bao nhiêu tâm trí của tôi đều tập trung hết lên đỉnh đầu, nơm nớp đón đợi cái cốc như trời giáng sắp nện xuống. Này, này,... sắp này...sắp này... cốc ! Toàn thân tôi giật bắn lên, mắt tôi nổ đom đóm. Và có lần tôi đă văi đái. Riêng chữ “ charrette ” th́ nó đă là cái tai hoạ một thời của tôi. V́ tôi viết nó không bao giờ đủ được cả hai “r” và hai “t”, không thiếu chữ nọ th́ thiếu chữ kia. Cuối cùng hết kiên nhẫn, cụ tôi quát :
– Ngu lắm ! Charrette là cái xe ḅ. Xe ḅ th́ phải có hai càng và hai bánh, cho nên phải có hai “r” và hai “t”, nhớ chưa ?
Th́ ra là xe ḅ có hai càng và hai bánh ! Tôi mừng quá và từ đó thoát được cái nạn xe ḅ.
Nhưng đời học tṛ th́ thường hết vấn nạn nọ đến vấn nạn kia. Sau nạn « xe ḅ », tôi bị cái nạn đá bóng. Nghĩa là lớn lên một chút, buổi chiều đi học về, tôi thường tạt ra bờ sông đá bóng. Ôi, cái băi Êkle nó mới có sức quyến rũ làm sao : đá bóng về muộn, chiều nào tôi cũng được xơi hai ngọn roi mây cháy đít. Nhưng vẫn không chừa. Nói cho đúng là muốn chừa lắm mà không sao chừa nổi.
Từ bờ sông về nhà, tôi phải đi qua phố Chả Cá, ở đó có cái miếu Âm hồn, ngoài cửa miếu có tượng ông Thiện ông Ác đứng gác. Đá bóng về muộn, qua trước cửa miếu, bao giờ tôi cũng kính cẩn ngả mũ chào hai ông, miệng lẩm nhẩm khấn hai ông phù hộ cho cái mông của tôi được tai qua nạn khỏi.
Nhưng xem ra hai ông thần này không thiêng lắm.
Tôi có một người chị ruột học ở trường Albert Sarraut mới vào ban tú tài. Ngày xưa con gái Hà Nội nhà tử tế đi học đều mặc áo dài, đi dép có quai hậu, và đến tuổi mười bảy, mười tám ra đường bao giờ cũng bước khoan thai, nghiêm trang nh́n thẳng trước mặt, không bao giờ ngó nghiêng hai bên. Chị tôi cũng thuộc loại ấy, mặc dầu chị được coi là hoa khôi. Một thầy giáo chủ nhiệm người Pháp kêu chị lên bảng đọc bài không gọi bằng cái tên nào khác là “Mignonne”(2).
Lần ấy lớp chị tôi tổ chức liên hoan tất niên. Nhân dịp ấy, chị đă xoa một lớp phấn kín đáo và ra đi thoát qua được mặt bố tôi an toàn. Dè đâu vài phút sau cụ sực nghĩ ra :
– Con Nhung đi qua mặt tao có mùi ǵ thơm thơm. Nó đánh phấn !
Thế là cụ lập tức bắt tôi đi cùng anh người ở bưng một chậu nước thả sẵn cái khăn mặt đuổi theo chị tôi và bất kỳ gặp ở đâu cũng cứ đặt chậu nước xuống, bắt chị phải rửa mặt tại chỗ.
Nhận được cái lệnh oái oăm ấy, tôi nghĩ ngay đến anh chàng học tṛ trường Bưởi trắng trẻo và nho nhă nom khá dễ thương, đi học vẫn lẽo đẽo đi sau chị tôi một quăng. Và một ngày chủ nhật gần đấy, lợi dụng lúc chỉ có một ḿnh tôi trông cửa hàng, anh ta đă ném vào cả một quyển thơ sonnet bằng tiếng Pháp của anh viết tặng người đẹp, lời thơ đầy đau buồn và thương nhớ. Tôi lấm lét nh́n vào trong nhà thấy không ai biết, vội đút ngay vào trong người, rồi đợi đến lúc mẹ tôi ra, tôi lỉnh luôn lên gác, lặng lẽ đưa cho chị tôi. Trong nhà, hai chị em tôi thuộc tầng lớp những người cần phải... “ liên hiệp lại ! ”. Chị tôi ngỡ ngàng lật ra xem, và khuôn mặt xinh đẹp của chị ửng dần lên, rồi đỏ rừ. May mắn làm sao là bà mẹ tôi đă kịp thời huy động toàn bộ dự trữ nước mắt của bà và chặn đứng sự thực thi cái lệnh quái ác kia. Bà có ngờ đâu là bà vừa làm được một việc rất thánh thiện. C̣n tôi th́ thở phào nhẹ nhơm.
Tôi biết rằng những lời thơ đau buồn ấy đă làm cho tâm hồn con gái của chị tôi rung động. V́ đôi lần tôi bắt gặp chị mở tập thơ ra xem...trộm, thấy tôi đến lại vội cất đi. Và tôi cũng biết chắc chắn rằng chị chưa một lần nào thư từ đáp lại lời tỏ t́nh ấy, v́ nếu có thư th́ tôi ắt phải là con nhạn mang thư. Ông cụ tôi như thế th́ chị nào dám thư từ đi lại với ai.
Hai năm sau chị lâm bệnh nặng qua đời. Đám tang ngợp những ṿng hoa trắng. Và ở cuối ḍng người đưa tiễn chị, có anh học tṛ bước đi những bước vô tri, mặt cúi gằm giấu hai hàng nước mắt.
Đưa tang chị về, tôi đă nhảy xe điện, ngồi đến hết đường, rồi lại quay lại. Chuyển sang tàu khác, ngồi đến hết đường, quay lại, rồi lại chuyển sang tàu khác. Cứ như thế suốt một buổi. Tôi cảm thấy ḿnh bơ vơ.
Tên anh học tṛ kia là Phạm Xuân Lân, nếu bây giờ c̣n sống chắc cũng khoảng 75 tuổi, liệu có lúc nào anh hồi nhớ lại mối t́nh đầu ấy không ? Trên bia mộ của chị, tôi đă thay mặt anh cho khắc câu thơ của Malherbe:
Rose, elle a vécu ce que vivent les roses
L'espace d'un matin (1).
Thực ra ông cụ tôi không phải là người ác. Cụ chỉ sống theo một lễ giáo nào đó thôi, và không phải là con người sắt đá vô t́nh. Chứng cớ là tôi đă nh́n thấy cụ khóc. Khóc một cách đau khổ. Đó chính là vào hôm cụ bắt được tôi ở nhà ông anh họ tôi. Vừa khóc vừa kể lể :
– Nó đi, bỏ lại trong ngăn kéo bàn học của nó hai hộp in truyền đơn... Hộp th́ tôi chẻ ra đem đốt, khói mù cả nhà, cả một buổi mới cháy hết... C̣n đất sét th́ tôi nhét xuống cống... Thế mà người ta bắt được nó th́ người ta chặt đầu chứ c̣n ǵ...
Hồi ấy ở phố Chả Cá có chuyện lính Nhật đi đường bị một con chó hàng phố xồ ra cắn đă rút kiếm chém một nhát đứt phăng cái đầu. Chắc là cụ đă nghĩ đến chuyện ấy, và nói đến đây, cụ bật dậy, lao đầu vào tường, định đập đầu tự vẫn. Tất nhiên cả nhà đă xô đến, giữ chặt lấy cụ.
Trước cảnh tượng ấy, tôi cũng... khóc. Tôi không nhớ sau đó mọi người đă thuyết phục cụ như thế nào, chỉ biết rằng rốt cuộc cụ vẫn để tôi đi. Tôi ra đi, ḷng dạ rối bời : tôi mới mười tám tuổi.
Đoàn thể giao cho tôi in báo Hồn Nước. Cơ sở in của chúng tôi được đặt cho cái tên rất kêu là Nhà in Kư Con Đoàn Trần Nghiệp 1), thực ra chỉ có hai người và vài viên đá li-tô, đầu tiên đặt ở làng Mọc Giáp Nhất, ngoại thành Hà Nội. Suốt ngày hai anh em chúng tôi cứ đóng cửa, cấm cung trong cái buồng đầu hồi một căn nhà ba gian là nhà của gia đ́nh anh Hải Hùng, sau này là cục phó Cục Tuyên huấn, Tổng cục Chính trị. Trong căn buồng tối tăm ấy chúng tôi suốt ngày ngồi viết chữ ngược trên đá li-tô và h́ hục in, đến đêm mới được ra bờ ao mài đá. Ở đó suốt một tháng mà trong làng không ai biết là có chúng tôi.
Đến nạn đói Ất Dậu, sáng nào xe ḅ cũng chở ḱn ḱn những xác người chết đói nhặt trên các vỉa hè Hà Nội mang ra ngoại thành chôn. Chúng tôi cũng đói, v́ đoàn thể không đủ gạo cung cấp. Thực ra th́ không phải nhịn bữa nào, nhưng bữa nào cũng chỉ ăn lưng lửng dạ dày. Có đêm tôi đă lẻn ra ruộng rau của dân, mạn phép đoàn thể hái trộm rau về luộc ăn.
Một đôi lần về nội thành, tôi bị bố tôi bắt gặp ngoài đường. Nhưng những lần ấy cụ chỉ mắt trước mắt sau dẫn tôi đến hiệu ăn Nghi Xuân, một hiệu ăn Tàu nổi tiếng hồi ấy ở gần chợ Hàng Da, cho ăn một bữa nhớ mấy ngày. Ăn xong, cũng lại mắt trước mắt sau dúi cho tôi một hai chục đồng Đông Dương. Những đồng tiền ấy tôi giữ như những lá bùa hộ mệnh. Hồi ấy, cơ sở in của chúng tôi đă chuyển về làng Canh, đặt tại nhà anh em anh Bảo Thé (anh Bảo có giọng nói the thé và sau này là chính uỷ một binh chủng) và hai chúng tôi được gia đ́nh anh nuôi. Nhà anh Bảo là nhà gạch hai tầng xây kiểu nửa cổ nửa kim, khá to, vậy mà hồi ấy cũng thiếu, bữa nào mỗi người cũng chỉ có hai lưng cơm chan với nước bă đậu. Cho nên mỗi lần về Canh, qua Cầu Giấy, tôi lại xuất ra, và cũng chỉ dám xuất ra một đồng mua một nắm cơm tấm Sài G̣n trắng bong, ở giữa nắm có ấn trũng xuống để khi có khách mua th́ nhà hàng đổ vào đó th́a muối vừng mặn chát. Đối với tôi lúc ấy thế là sang trọng rồi.
Cách mạng Tháng Tám thành công. Không cần phải nói rằng ông bố tôi rất lấy làm hănh diện về “ thằng cả C̣ ” nhà cụ. Nói đúng ra th́ đến lúc ấy, đối với cụ tôi đâu phải là thằng cả C̣ nữa, mà cũng không phải là thằng Cung, mà là anh Cung.
Công bằng mà nói th́ cụ nên tự hào về chính cụ : cụ đă vượt được lên cao hơn chính bản thân ḿnh. V́ thực ra, lần gặp tôi ở nhà người anh họ tôi, cụ có đủ quyền uy để kéo tai tôi lôi về, rồi nhốt tịt ở một xó nhà quê nào đó, bắt lấy vợ. Và tất cả sẽ không c̣n ǵ để nói nữa.
Kháng chiến toàn quốc. Cụ đă thuê người cáng bà mẹ quanh năm đau ốm của tôi, cùng bầy đàn thê tử, bỏ tất cả ở lại, lốc nhốc dắt díu nhau tản cư lên Việt Bắc theo kháng chiến.
Lúc ấy tôi đang ở bộ đội.
***
Nhọ mặt người một lúc th́ tiểu đoàn trưởng Nguyễn Mạnh và tôi, chính trị viên, đă cùng hai đồng chí cần vụ có mặt trên đê sông Luộc. Trăng hạ tuần cho nên phải về khuya mới sáng. Địch càn quét bao giờ cũng chọn tuần trăng, cái đó đă thành quy luật. Trong bóng tối, ḍng sông âm thầm cuồn cuộn chảy. Đă cuối mùa lũ nhưng nước c̣n khá xiết.
Trung đoàn chúng tôi vừa tránh được một nguy cơ bị tiêu diệt gần như có thể sờ mó thấy. Cuối năm1951, trước khi đánh lên Hoà B́nh, địch đă tập trung 3 GM (1) càn quét vùng bắc Thái B́nh. Trước đây cứ có triệu chứng địch tập trung lớn quân cơ động th́ trong băm sáu chước, chúng tôi chọn cái chước ḿnh cho là khôn ngoan nhất : chuồn. Tránh voi chẳng xấu mặt nào. Quân cơ động rút đi, chúng tôi lại quay trở lại “ nói chuyện ” với bọn quân chiếm đóng. Nhưng hồi ấy lực lượng chúng tôi c̣n yếu. Bây giờ được trang bị và tổ chức lại thành trung đoàn mạnh, và trên các mặt trận chính diện, chủ lực ta cũng đánh mạnh, nên chúng tôi nhận được nhiệm vụ phải tích cực đánh địch cả trong càn quét lớn. Lần đầu tiên toàn trung đoàn chống càn lớn chưa có kinh nghiệm, chúng tôi cứ quanh quẩn trong ṿng vây, chiến đấu chặn địch trong suốt một tuần để bảo vệ dân. Đến ngày thứ sáu, thấy ṿng vây địch đă khép, đất tự do c̣n lại quá hẹp, không cơ động được, và bộ đội đă tiêu hao mệt mỏi, mới nghĩ tới chuyện rút. Nhưng đến lúc nghĩ tới th́ rút không được nữa. Tất cả các mũi trinh sát tung đi đều về báo cáo chạm địch.
Thực ra kinh nghiệm về sau của chúng tôi cho thấy rơ càn quét một vùng rộng th́ không có ṿng vây nào hoàn toàn kín cả. Chẳng qua chỉ là chúng tôi chọn hướng rút dễ nhất : rút xuống nam Thái B́nh, đường liền, đất rộng. Ta biết thế ắt địch cũng phải biết thế. Cho nên chúng đă rải quân và xe tăng ra canh pḥng cẩn mật suốt dọc đường số 10 là con đường ta sẽ phải vượt qua nếu đi xuống phía nam.
Thế là hôm qua toàn trung đoàn đă phải lộn trở lại chiếm lĩnh các trận địa pḥng ngự để quyết chiến với địch thêm một ngày nữa đợi đến tối t́m hướng rút khác. Ngày hôm ấy quả thật là một ngày căng thẳng đối với tiểu đoàn tôi. Nếu hôm ấy không giữ vững được, và đến đêm không rút được th́ hôm sau bốn chục khẩu pháo 155, 105 ly và không biết bao nhiêu khẩu cối 120 và 81 ly sẽ trút đạn lên đầu chúng tôi, từng đoàn máy bay sẽ đổ lửa xuống trận địa chúng tôi, và 3 binh đoàn cơ động từ mấy phía sẽ bâu vào chúng tôi...
Cố thủ đến hai giờ chiều vẫn giữ vững được, các đợt xung phong của địch đều bị đánh bật th́ chúng tôi biết chắc chắn là sẽ giữ vững được đến tối. Cho nên từ hai giờ chiều ban chỉ huy tiểu đoàn chúng tôi đă chuyển trọng tâm sang làm công tác chuẩn bị cho cuộc hành quân đêm. Tôi cùng các đồng chí địa phương lo chôn cất tử sĩ, săn sóc thương binh, chuyển anh em về những cơ sở có hầm bí mật, gửi vào vùng tề, và các công tác hậu cần khác. Công việc búi như lông lươn.
C̣n tiểu đoàn trưởng Mạnh th́ tổ chức trinh sát nắm t́nh h́nh địch xung quanh. Rút kinh nghiệm đêm trước, lần này trung đoàn cho rút theo hướng khó nhất, cho nên cũng có thể là bất ngờ nhất cho địch : rút qua sông Luộc. Chắc địch không thể nghĩ rằng cả một trung đoàn đă sứt mẻ và mệt mỏi sau một tuần chiến đấu và không có phương tiện vượt sông, lại có thể đem theo toàn bộ vũ khí, khí tài và thương binh của ḿnh trong một đêm lách qua ṿng vây của chúng, hành quân hàng chục cây số, vượt qua một con sông lớn, rồi lại hành quân tiếp gần chục cây số nữa về một nơi địch vừa càn xong, cơ sở bị rệu ră.
Vả lại đêm hôm trước, khi chúng tôi bị mắc lại ở đường số 10 th́ một đại đội của tỉnh Hưng Yên đă lọt qua sông Luộc. Chứng tỏ phía ấy địch có sơ hở, đúng như phán đoán của chúng tôi. Mặc dù một đại đội th́ lọt, c̣n một trung đoàn th́ có thể không.
Đi cả trung đoàn th́ cồng kềnh quá, trung đoàn cho xé nhỏ một tiểu đoàn, phân tán tại chỗ. Chỉ c̣n hai tiểu đoàn hành quân luồn ra bờ sông đi làm hai mũi cách nhau khoảng một cây số, để nếu tiểu đoàn nào chạm địch th́ tiểu đoàn kia sẽ yểm trợ. Toàn trung đoàn nhiệm vụ chính là bảo toàn lực lượng.
Xẩm tối, tiểu đoàn tôi đă rải dài trên đê Sa Lung để tránh trận tập kích pháo chập tối của địch và chuẩn bị hành quân chiến đấu.
Tiểu đoàn trưởng Mạnh đă nắm một tổ trinh sát và một tiểu đội trang bị toàn tiểu liên đi ḍ đường, nếu gặp địch phục kích th́ diệt, mở đường mà đi. Ḍ từng quăng, thông đến đâu th́ cho liên lạc về dẫn đơn vị lên và trong khi đơn vị hành quân lên th́ Mạnh ḍ tiếp. Nghĩa là hành quân kiểu sâu đo. Nếu không th́ không kịp.
Đứng trên đê Sa Lung, tôi nóng ruột như bào. Một tiếng không có tin của Mạnh. Hai tiếng cũng không. Tôi tranh thủ thời gian này thanh toán nốt những công việc c̣n dở dang. Nh́n theo những chiếc vơng đi khuất dần vào bóng đêm đưa anh em thương binh về các cơ sở, tôi cảm thấy trong ḷng nặng trĩu. Mấy ngày tới sẽ là những ngày thử thách gay gắt nhất đối với họ, số phận của họ sẽ hoàn toàn phụ thuộc vào ḷng dân, vào sự dũng cảm và sức chịu đựng của mỗi người, vào may rủi. Chúng tôi đă bỏ anh em lại trong ṿng vây của địch mà ra đi. Nhưng chúng tôi ra đi có lọt hay không, ngày mai cái Trung đoàn 42 này có tồn tại nữa hay không cũng là chuyện chưa rơ. Nhưng dẫu sao th́ thành thật mà nói tôi không muốn ở vào hoàn cảnh của những anh em đó.
Mọi công việc tôi đă làm xong từ lâu mà Mạnh ra đi vẫn bặt vô âm tín. Lính ngồi chống báng súng ngủ la đà. Cũng như cánh cán bộ tiểu đoàn chúng tôi ở những cuộc họp trong ngôi miếu nhỏ trên g̣ Vú Cô Tiên.
Đó là nơi tối tối ban chỉ đạo chống càn triệu tập cán bộ các đơn vị tới họp. Trong miếu không thắp đèn. Chỉ có hai ba cái đèn pin pha đèn dán kín bằng giấy than đánh máy chỉ để hở một lỗ nhỏ bằng hạt đỗ, rê đi rê lại trên tấm bản đồ trải dưới đất, toả ra một ánh sáng mờ mờ. Bọn cán bộ tiểu đoàn chúng tôi lợi dụng bóng tối cứ ngồi lẩn sau lưng các vị cấp trên, gục xuống ngủ. Cực kỳ mệt. Vả lại chúng tôi ở đây là đuôi trâu. Chính uỷ mặt trận Nguyễn Khai, mắt đỏ như mắt cá chày v́ thiếu ngủ, thỉnh thoảng lại gọi :
– Này, ngủ cả à ! Lay lay các tướng ấy dậy hộ tí ! Phát biểu đi chứ !
Chúng tôi mắt nhắm mắt mở ậm ừ phát biểu một hai câu chung chung, rồi lại... ngủ. Không cưỡng được.
Bây giờ trên đê Sa Lung, chắc anh em chiến sĩ cũng nghĩ họ là đuôi trâu. C̣n tôi th́ đă thành đầu gà. Mắt cay xè và chắc cũng phải đỏ như mắt cá chày, nhưng vẫn tỉnh căng. Bây giờ nếu có kê giường rải chiếu đàng hoàng cho tôi, tôi cũng không tài nào ngủ được. Lo đến xoắn ruột. Đi đi lại lại kiểm tra các đại đội cho quên cái mặt đồng hồ lân tinh đi mà không sao quên được. Chốc chốc lại ngó. Pháo địch vẫn bắn cầm canh.
Cuối cùng măi gần nửa đêm mới có liên lạc của Mạnh hiện ra trong bóng tối :
– Báo cáo! Anh Mạnh bảo anh cho đơn vị lên. Em dẫn đường.
Lính đang ngủ chỉ cần một lệnh khẽ đă lục tục dậy. Rồi đoàn quân chuyển ḿnh. Cả một tiểu đoàn, lại kéo theo cả ngh́n dân, hành quân đội h́nh một hàng dọc trên đường đồng, nếu đầu đội h́nh có nhởn nha bước một th́ từ giữa đến cuối đội h́nh cũng phải chạy hộc tốc xốc gan. Vậy mà về sau tôi được nghe anh em kể lại, trong khi chạy như thế với một tinh thần luôn sẵn sàng nổ súng, vẫn có một cậu chiến sĩ nào chạy qua một băi cứt trâu, đă vừa chạy vừa ngoái cổ lại nói nhỏ bảo anh em chạy sau :
– Này, nhặt hộ cái mũ nồi !
Và một cậu chạy sau đă nhanh nhẩu thọc tay xuống băi cứt, rồi vặc khẽ :
– Mẹ thằng xỏ lá !
Chạy một quăng, gặp chỗ khó đi th́ “dồn tầu”, rồi lại chạy, lại “dồn tầu”, không biết bao nhiêu lần như thế, cuối cùng dừng lại đợi. Đợi Mạnh trinh sát ḍ đường tiếp. Lính ngồi quỳ xuống thở, súng chĩa sang hai bên. Cứ thế cho đến 3 giờ sáng tôi cúi rạp xuống đất nh́n lên vẫn chưa thấy bóng đê sông Luộc đâu. Thế này th́ sang sông làm sao kịp ?
Tôi chạy đến đầu làng Nội th́ trời đă mờ mờ sáng, gặp Mạnh đứng đón ở đó. Mạnh người Hà Nội, lúc ấy mới hai mươi bốn tuổi nhưng trông già. Tính t́nh hiền lành, ít nói, nhưng mặt nom ĺ lợm, đôi mắt lừ lừ, lính sợ lắm. Không bao giờ nói chuyện gái, chuyện vợ, ai hỏi đến chỉ cười trừ. T́nh yêu của anh là “ garanxuya ”, hiểu theo nghĩa tiếng Việt là gà rán sữa. Nghĩa là mỗi lần diệt xong cái đồn nào, tỉnh uỷ địa phương bao giờ cũng tặng riêng ban chỉ huy tiểu đoàn chúng tôi 100 đồng Đông Dương, và lần nào Mạnh cũng tủm tỉm :
– Thế nào, ông Thư, garanxuya chứ !
– Ừ th́ garanxuya, sợ ǵ !
Lúc này anh đứng đó, cổ gày ngẳng, mặt vêu vao và vốn ĺ lợm nom càng ĺ lợm. Anh chỉ cho các đại đội toả về ba làng. Phải trú quân lại, bố trí pḥng ngự chân kiềng, đợi đến đêm mới sang sông được (1).
Các cán bộ đại đội cũng đứng cắm ở cổng làng của đơn vị ḿnh rồi thấy bất cứ ai chạy tới, dù là lính đơn vị nào c̣n rớt lại, dù là quân hay dân, cũng cứ ấn bừa cả vào trong làng. Không mau lên th́ sáng toét !
Khi trời sáng hẳn, ai đi qua đầu làng th́ tưởng đâu làng không người. Toàn bộ kho kinh nghiệm giữ bí mật của một đơn vị địch hậu tích luỹ được từ bao lâu nay đă được các đơn vị đem ra thi thố hết.
Tôi đi vào làng, không nghe thấy một tiếng gà, không thấy bóng một con lợn, chỉ bừa băi vỏ đồ hộp. Hỏi dân th́ mới vỡ nhẽ ra là sáng hôm qua một cánh quân địch c̣n đóng đây. Và chính từ đây chúng đă tiến vào hợp điểm. Và đến đêm, chúng tôi đă luồn qua nách chúng về chiếm lĩnh cái trận địa chúng vừa rời khỏi ban ngày.
Như trẻ con chơi đổi chỗ vậy.
Cả đêm hôm qua chúng tôi đă chạy được... 5 kilômét. Những kilômét vô giá.
Lát sau có liên lạc của trung đoàn xuống báo tin tiểu đoàn bạn cũng phải trú quân lại và triệu tập Mạnh lên họp.
Được một ngày nghỉ ngơi và chuẩn bị cho cuộc vượt sông. Chập tối Mạnh đă cho một phân đội sang chiếm lĩnh đầu cầu bên kia sông và trinh sát t́nh h́nh bên trong đê. Tôi đứng trên đê nh́n các tiểu đội từ trong bóng tối nhô lên đê rồi lại tụt xuống băi. Anh nào cũng đánh độc cái quần đùi, ôm một cây chuối. Và tất cả lùi lũi đi như những bóng ma. Các cán bộ ra lệnh cũng khe khẽ. Dưới nước các tiểu đội giàn thành hàng ngang, tiểu đội sau cách tiểu đội trước một quăng, nom như từng làn sóng. Sườn bên phải khúc vượt sông của chúng tôi là tiểu đoàn bạn. Sườn bên trái, Mạnh đă bố trí một lực lượng đánh ca-nô, nếu chúng xuất hiện.
Dân Thái B́nh hầu hết đă ở lại, đợi địch rút th́ quay trở về làng. Đi theo bộ đội chỉ c̣n cán bộ và dân hai tỉnh Hưng Yên và Hải Dương bị mấy trận càn vừa xẩy ra ngay trước trận càn này dồn về đây. Địa phương đă chuẩn bị được một số ít đ̣ gỗ, đ̣ nan thường ngày vẫn chở khách sang ngang để chở phụ nữ và trẻ em. C̣n th́ xuống sông tuốt. Tuy vậy nhiều chị em cũng chuẩn bị cây chuối cho chủ động.
Và bây giờ th́ không giữ được bà con đi sau bộ đội nữa. Qua các đường ruộng, bà con cứ tự động vọt lên đê. Rồi đến một lúc tôi thấy từ dưới chân đê nhô lên hai bóng trắng : hai cô gái trần truồng như nhộng, một tay ôm bọc quần áo, một tay vác cây chuối trên vai, le te chạy tới. Trong đêm tối trông rơ bốn cái vú nhảy nhảy. Đă thế, tới chỗ chúng tôi đứng, c̣n dừng lại ghé sát vào, th́ thầm hỏi :
– Đi lối này phải không các anh ?
– Phải, đi lối ấy. Nhưng sang bên kia sông nhớ mặc quần áo vào đấy nhé !
Chẳng biết ai đó trả lời, cũng bằng cái giọng th́ thào như thế :
– Khỉ gió các anh !
Chắc phải là mấy mẹ cán bộ huyện mới dám táo tợn vậyỞ1), không biết có phải hai cô mà xẩm tối hôm qua, trên đê Sa Lung, tôi dă vô t́nh nghe lỏm được cuộc đối thoại trong bóng tối :
– Mày đi hay ở ?
– Tao ở. C̣n mày ?
– Tao đi. Theo bộ đội.
– Mày theo tao cũng theo.
Rồi cười rinh rích. Cuộc chọn lựa thật là dứt khoát !
Đứng trên đê, tôi lấm lét nh́n theo hai cái bóng đang tưng tưng đi xuống bờ sông. Phá vây đêm mà nom cứ trắng lốp ! Và bất chợt tôi nghĩ đến bốn khẩu pháo 105 ly sáng nay.
Sáng nay, sau khi chúng tôi luồn tới được vị trí mới, đôn đốc các đơn vị chuẩn bị trận địa chiến đấu xong, tôi ngồi tựa một gốc cây chợp mắt một tư cho đỡ mệt. Đang ngủ say th́ bị ai vỗ đốp một cái vào vai, giật bắn ḿnh. Và có tiếng hỏi giật :
– Này mày ơi ! Ban chỉ huy tiểu đoàn đâu ?
Tôi mở mắt : một cậu chiến sĩ trạc tuổi tôi đang đứng trước mặt. Vừa bực ḿnh, vừa buồn cười, tôi đáp lại cũng bằng cái giọng cậu ta :
– Tao đây, mày hỏi ǵ ?
Cậu ta đỏ mặt lúng túng :
– Báo cáo anh, em mới về đơn vị, chưa thuộc...
– Chuyện ǵ th́ nói đi.
– Báo cáo, địch kéo tới bốn khẩu pháo 105 ly, bố trí trên đê ngay trước mặt chúng ta...
Tôi bật dậy :
– Vào báo cáo anh Mạnh ! Nằm trên cái nong trong nhà kia ḱa.
Vài phút sau, tôi cùng tiểu đoàn trưởng Mạnh và trung đoàn phó Nguyễn Tiệp đă nấp sau bờ tre. Trên đê có bốn khẩu 105 ly thật, giàn hàng ngang cách chỗ chúng tôi khoảng 700 m đồng trống.
Ùng... ùng... ùng...ùng, bốn tiếng nổ đầu ṇng. Đạn pháo rú qua đầu chúng tôi. Rồi oàng oàng.... bốn tiếng đạn nổ sau lưng chúng tôi, cách khoảng 4, 5 cây số về hướng trận địa chúng tôi vừa rời bỏ đêm qua. Tiên sư chúng mày nhá, bố chúng mày đây cơ mà !
Trên đê, trần x́ bốn khẩu pháo nằm tênh hênh, không thấy bóng một đơn vị bộ binh bảo vệ.
Tiểu đoàn trưởng Mạnh cười nói :
– Mẹ Chúng nó chủ quan thật. Yên trí anh em c̣n đang lúng túng như gà mắc tóc trong kia mà.
Trung đoàn phó Tiệp cười kh́ kh́, hỏi chúng tôi :
– Thế nào, oánh chứ ? Trông ngon quá !
Oánh th́ oánh được. Thế nào cũng diệt được một hai khẩu, c̣n một hai khẩu th́ chắc chúng sẽ kịp móc vào xe bỏ chạy. Hoặc nếu cối ta bắn giỏi th́ có thể diệt được cả bốn. Nhưng đánh xong th́ thế nào ? Ḿnh đang ở t́nh thế buộc phải nằm im như thóc, ẩn ḿnh trong mấy làng, bốn bề là địch đang đi t́m ḿnh. Đánh th́ khác ǵ lạy ông tôi ở bụi này. Thôi, các ông ơi, ngon th́ đành nuốt nước bọt vậy, không xơi được đâu !
Thực ra cả ba chúng tôi đều hiểu thế. Trung đoàn phó có hỏi “oánh chứ” chẳng qua chỉ là nói lên nỗi tiếc của giời mà thôi.
Câu chuyện bốn khẩu 105 ly là như thế. Tôi nh́n xuống chân đê : hai cái bóng trắng đă mất hút. Chắc là xuống nước rồi. Bốn khẩu 105 ly sang sông (1).
Hai mẹ cán bộ huyện này đă xử lư t́nh huống một cách dứt khoát và nhanh gọn như thế ! C̣n cái cô sư nữ chùa ǵ tôi chẳng nhớ th́ sao nhỉ ? Cứ xúng xính quần chùng áo dài, hay là... thế nào ? Tối qua, trên đê Sa Lung tôi thấy một cô sư nữ ngồi lẫn trong hàng quân. Quái nhỉ, dân đi theo bộ đội tôi đă cho xếp hàng, cử cán bộ phụ trách hẳn hoi, nối đuôi bộ đội, cách một quăng, đề pḥng chạm địch, phải nổ súng, sao lại có cô sư nữ này ngồi lẫn vào đám tiểu đoàn bộ ? A... tôi chợt nhớ ra.
Cánh trinh sát tiểu đoàn bộ đồn đại nhiều về chuyện cô sư nữ này. Họ bảo cô là học tṛ Hải Pḥng chẳng hiểu v́ sao chán đời bỏ về quê đi tu. Hồi c̣n tề, chùa của cô là cơ sở của trinh sát. Có lần lính dơng vào định kiểm soát chùa, thấy cô đang ngồi tụng kinh một cách thành kính th́ bỏ đi ra. Chúng có ngờ đâu trong gầm bệ thờ có cậu tiểu đội trưởng trinh sát đẹp trai, cũng là học tṛ Hải Pḥng, đang ngồi thu lu. Rồi một tối nọ, một cậu trinh sát khác đi ngang đằng sau chùa, nghe thấy trong vườn có tiếng thở dài năo nuột :
– Tiếc rằng sao bây giờ mới gặp nhau...
Cậu trinh sát tinh nghịch này ghé mồm nói qua hàng rào:
– Chưa muộn đâu ! Có tổ chức th́ để anh em giúp cho một tay !
Rồi ù té chạy.
Đi đến gần chỗ cô sư nữ ngồi, tôi nghe thấy tiếng thấy lính ta hỏi trêu :
– Sư mà cũng phải chạy à ?
Cô đáp :
– Bắt được em th́ nó cũng chẳng tha.
Phải rồi, trước kia là dơng th́ cô đối phó được, c̣n bây giờ th́ GM chỉ toàn lính Âu Phi, cô sợ là phải. Thôi được, đối với một ni cô xinh đẹp và lại biết xưng em với lính th́ ta có thể tha thứ cho nhiều điều. Xin mời cô cứ ngồi đấy. Tiểu đoàn bộ cũng có một thuyền nan nhỏ.
Như vậy là cuộc vượt sông ban đầu diễn ra khá tốt đẹp. Nhưng nửa giờ sau, từ giữa sông bắt đầu nổi lên tiếng ồn. Lúc đầu nhỏ và thưa thớt. Rồi cứ tăng dần lên. Có lúc nghe rơ một tiếng kêu thét cụt lủn :
– Mẹ ơi !
Sóng sông Luộc đă đánh tan các đội h́nh. Dưới nước dân gọi nhau, lính gọi nhau, người đuối sức kêu cứu, người đă lên bờ cũng gọi t́m nhau. Tiếng ồn tăng lên dần, rồi trở thành như tiếng vỡ chợ. Đứng trên bờ, chúng tôi lo lắng và bất lực nh́n ra sông...
Rồi bất th́nh ĺnh oàng oàng, hai quả đạn đại bác nổ trên không loé ra hai khối lửa úp xuống ḍng nước : đạn fusant (1) !... Tiếng ồn lặng bặt để sau đó lại nổi lên to hơn, hoà vào tiếng pháo địch bắn dồn đập hơn. Đạn pháo loé lên, nhảy nhót trên trời như những khối lửa địa ngục. Đêm hôm, tiếng nổ rung chuyển cả một vùng.
Mạnh ra lệnh cho các đại đội :
– Lộ rồi, đợi một lát pháo ngớt th́ cho anh em sang ào cả một lần càng nhanh càng tốt, tản rộng ra.
Và anh cho tăng cường lực lượng đánh ca-nô. Lát sau, thấy pháo đă ngớt, tôi bảo Mạnh :
– Tôi bơi sang trước. Anh đợi thuyền đi với các anh bộ tư lệnh.
Tôi cởi quần áo, súng lục, sắc cốt, giao cho đồng chí cần vụ để anh ta đi thuyền. Anh bơi kém. Tôi giữ độc chiếc quần đùi để bơi vo. Tôi không quen bơi cây chuối.
Sang tới bờ bên kia, tôi lảo đảo lội lên băi, rồi nằm vật xuống, má áp xuống cát, mồm đớp đớp như cá mắc cạn. Đứt hơi. Tôi cứ nằm dang rộng hai tay ôm lấy cái băi cát Lệ Chi như thế một lúc lâu, rồi h́nh như nghe có tiếng ai gọi xa xa, không rơ lắm :
- Anh Thư ơi !
Tiếng gọi lặp lại gần hơn và rơ hơn :
- Anh Thư ơi !
Rồi chỉ lát sau tôi thấy anh cần vụ của tôi vừa đi tới, vừa gọi t́m.
Tôi lóp ngóp ḅ dậy.
– Ối giời ơi ! Anh...
Cậu ta chạy tới đỡ tôi dậy và cười ngượng ngập như người có lỗi :
– Thế mà em cứ tưởng... Em t́m anh măi.
Cậu ta tưởng tôi đă làm mồi cho Hà Bá.
Tôi nh́n ra sông. Chỉ c̣n ít người bơi rải rác. Mấy cái thuyền cấp cứu đang qua lại xuôi ngược. Pháo địch đă ngừng. Đồng chí cần vụ báo cáo :
– Các đơn vị sang ào cả một chuyến gần hết rồi. Sang đến đâu đi luôn. Anh Mạnh cũng vào trong kia rồi. Ta đi thôi, anh.
Tôi vịn vai đồng chí cần vụ đi xuyên qua xóm băi Lệ Chi. Sức tôi hồi lại dần. Lên tới mặt đê, tôi thấy trung đoàn trưởng Nguyễn Như Thiết đang xuống dốc đê. Thoáng thấy tôi, anh ngoái cổ lại giơ cao tay làm hiệu cho tôi với một nụ cười đắc thắng.
Quả thật, đưa được một trung đoàn sang sông trong điều kiện như vậy không phải là chuyện đùa.
Đi được hơn một cây số tự nhiên tôi thấy bụng đau quặn. Tôi tạt xuống ruộng, ngồi tụt xuống. Rặn măi chỉ xón ra tí nước nhầy. Tôi lê đít xuống cỏ để chùi (đào đâu ra giấy bây giờ ?). Rồi đi tiếp. Một lát sau lại đau quặn. Lại tạt xuống ruộng. Lại tí nước nhầy. Lại đi. Lại đau quặn. Mấy lần như thế. Rồi tức ḿnh chẳng rẽ xuống ruộng nữa, cứ ngồi thụp ngay bên vệ đường. Lính từng người, từng tốp chạy qua sát mặt tôi. Kệ họ ! Rồi cuối cùng mệt quá, hậu môn rát như phải bỏng do lê xuống cỏ, tôi “giản chính” nốt cả cái động tác ngồi xuống. Cứ khệnh khạng đi, và cứ mặc nó chảy ra quần, ướt hết đũng, rồi ḅ xuống đùi nong nóng. Mặc ! Nó làm việc nó, ḿnh làm việc ḿnh. Đường ta ta cứ đi.
Về đến địa điểm bố trí, thuộc huyện Phù Cừ th́ trời c̣n tối, nhưng đă nghe thấy tiếng phụ nữ lao xao và tiếng lợn eng éc. Chị em Phù Cừ đang mổ lợn nấu cơm cho bộ đội vượt sông.
Tôi xuống ao, kỳ cọ một lúc tỉnh người. Vào nhà th́ đă thấy cậu cần vụ bưng về một bát tiết canh :
– Anh mệt quá nên bị nhiệt đấy thôi. Anh ăn đi, rồi ngủ một giấc, dậy sẽ khỏi.
Chẳng biết thực hư ra sao, nhưng đói quá tôi cứ cầm ăn. Mát ruột ! Tôi ngủ độ nửa tiếng th́ bật dậy đi nắm t́nh h́nh thương vong trong đêm vượt sông. Và măi đến chiều mới để ư đến cái cơn đau bụng kiết lỵ kia đă biến đâu mất thật ! Chẳng c̣n hiểu ra làm sao.
Nghỉ một ngày để chỉnh đốn đơn vị, bổ sung quân số v.v... Một ngày “nghỉ” rối tung rối mù. Rồi ngay ngày hôm sau, tiểu đoàn tôi nhận được lệnh chuẩn bị gấp rút để đến tối lại vượt sông Luộc, lộn trở về Thái B́nh. Địch đă cho một cánh quân từ thị xă Hưng Yên ṿng xuống để truy kích chúng tôi. Trong khi đó, bên Thái B́nh, địch đă “cất vó” xong, và đă bắt đầu rút một bộ phận, để lại một bộ phận làm công việc b́nh định. Nhiệm vụ của chúng tôi là trở về Thái B́nh tạo cơ hội đánh bọn b́nh định ấy. C̣n cánh quân truy kích của địch th́ tiểu đoàn bạn sẽ ở lại đối phó với nó.
Trong một buổi hỏi cung tôi, ông Nhuận nói:
– Biết cái ǵ về anh Văn (1) th́ khai ra.
Câu nói thật tế nhị trong sự mập mờ của nó. “Cái ǵ” là cái ǵ nhỉ ?
Có, tôi biết một cái. Đích xác. V́ nó liên quan trực tiếp đến chúng tôi. Tức là đến ngày thứ năm của trận chống càn nói trên, khi chúng tôi c̣n đang chiến đấu trong ṿng vây, đầy lo âu, chúng tôi đă nhận được một bức điện ngắn gọn :
“ Các đồng chí cứ yên tâm. Chủ lực đă mở chiến dịch Lư Thường Kiệt đánh thu hút lực lượng địch, đỡ đ̣n cho các đồng chí - Kư tên : VĂN ”.
Chiến dịch Lư Thường Kiệt là chiến dịch đại đoàn 312 đánh Nghĩa Lộ. Và quả thật, nhận được điện, chúng tôi đă yên tâm.
Nhưng khai cái này ra th́ chắc ông Nhuận chẳng bằng ḷng. Cái khác cơ ! Cái khác th́ tôi không biết.
***
Những năm hoà b́nh mới lập lại, tôi đă sống một không khí thật là hào hứng. Không phải chỉ là v́ tôi bước vào hoà b́nh với trên vai một ba lô thành tích có thể làm cho một thanh niên như tôi cảm thấy tự hào được. Cũng không chỉ v́ đất nước tôi vừa mới thực hiện được một kỳ tích lịch sử chấn động địa cầu, mở đầu một phản ứng dây chuyền làm sụp đổ toàn bộ hệ thống thuộc địa thế giới. Mà c̣n là v́ phong trào cộng sản quốc tế và phe xă hội chủ nghĩa đang ở điểm cao vinh quang chói lọi của nó. Liên Xô chiến thắng trong một cuộc chiến tranh đẫm máu chưa từng có trong lịch sử, đă cứu loài người khỏi hiểm hoạ phát xít. Cách mạng Trung Quốc thành công ném một quả tạ ngàn cân lên cán cân so sánh lực lượng giữa hai phe trên thế giới. Và với Cu Ba, chủ nghĩa xă hội đă đặt được đầu cầu sang tận châu Mỹ. Rồi tên lửa vượt đại châu, rồi đại nhảy vọt, vân vân và vân vân... Không c̣n như Mác nói nữa : không phải bóng ma cộng sản đang ám ảnh châu Âu, mà là ánh hào quang của chủ nghĩa cộng sản đang toả ra khắp thế giới. Nhân loại khát khao hoà b́nh và nhân ái, mệt mỏi v́ những tai ương mà chủ nghĩa tư bản đem lại cho họ – thất nghiệp và khủng hoảng định kỳ, sự bóc lột thuộc địa, hai cuộc đại chiến thế giới trong ṿng 30 năm, chủ nghĩa phát xít và ḷ thiêu người v.v... – hướng con mắt hy vọng về phía những người cộng sản. Những nước đế quốc đầu sỏ cũng nh́n phe xă hội chủ nghĩa lớn mạnh lên bằng con mắt lo ngại và đă huy động toàn bộ lực lượng của họ để ngăn chặn làn sóng đỏ.
Lúc bấy giờ, là một người cộng sản quả thật là một niềm kiêu hănh lớn lao.
Nếu là hoa tôi sẽ là hoa hướng dương.
Nếu là chim tôi sẽ là bồ câu trắng.
Nếu là người tôi sẽ là người cộng sản.
Mà tôi th́ không những là người cộng sản, lại c̣n kiêm thêm là lính Cụ Hồ nữa.
Sau tiếp quản ít ngày tôi về thăm nhà. Gia đ́nh tôi tản cư lên Việt Bắc vài năm, hết lương, đă hồi cư về Hà Nội. Hôm ấy về Hà Nội tôi đă đánh bộ quần áo cánh nâu, đội chiếc mũ lá, đi dép lốp, súng lục “Côn bát” đeo trễ hông, cứ thế nhâng nháo bước giữa phố phường Hà Thành hoa lệ. Tôi có ngờ đâu h́nh ảnh của tôi lúc ấy chính là h́nh ảnh chàng trai lư tưởng của nhiều cô gái Hà Nội.
Ông cụ tôi cứ nhất định đ̣i sắm cho tôi một chiếc xe đạp và một bộ complet mới. Tất nhiên tôi chẳng nhận làm ǵ. Tôi không muốn đổi cuộc sống khắc khổ của bộ đội chúng tôi lấy bất cứ cái ǵ khác. Và quân lệnh như sơn, kỷ luật tiếp quản nghiêm như kỷ luật chiến trường. ở đây không phải là những viên đạn đồng mà là những viên đạn bọc đường đang nhằm vào chúng tôi. Vả lại tôi chẳng thiếu ǵ : trong tay tôi là cả một giang sơn, trong tầm tay tôi là cả thế giới.
Ông cụ tôi thấy tôi từ chối th́ không bằng ḷng. Cuối cùng cụ thốt lên :
– Nghiêm như Nhật !
Đối với cụ đó là lời khen ngợi cao nhất.
Bây giờ người ta tốn nhiều công sức để khẳng định vai tṛ lănh đạo của Đảng. Thậm chí người ta c̣n phải ghi điều đó vào hiến pháp để không cho ai được phép nghi ngờ và phủ định. Nhưng đối với tôi hồi ấy, và chẳng phải riêng tôi, vấn đề thật rơ rành rành, không cần nhiều lời, không cần hiến pháp. Đành rằng có những chuyện chẳng hay (ai mà tránh được không bao giờ phạm sai lầm, kể cả Đảng ?) nhưng chẳng rơ rành rành là Đảng đă dẫn dắt chúng tôi vượt qua muôn vàn thác ghềnh đi tới thắng lợi vĩ đại ngày nay hay sao ? Chẳng phải là Đảng đă nêu cho tôi biết bao tấm gương hy sinh, tấm gương đồng cam cộng khổ với dân, hơn thế nữa, khổ trước thiên hạ, vui sau thiên hạ, cần kiệm liêm chính, chí công vô tư đó sao ? Đảng đă dạy cho tôi biết phải trái, biết yêu, biết ghét, biết quên, biết nhớ, nhớ nỗi nhục mất nước, quên bản thân ḿnh. Trên ư nghĩa đó, Đảng đă sinh ra tôi lần thứ hai.
Mon parti m’a rendu les yeux et la mémoire.
Je ne savais plus rien de ce qu’un enfant sait.
Que mon sang fut si rouge et mon coeur français
Je savais seulement que la nuit était noire
Mon parti m’a rendu les yeux et la mémoire (1)
Cho nên đối với tôi th́ không nghi ngờ ǵ nữa, chủ nghĩa Mác Lênin là chân lư phổ biến tung ra bốn biển đều đúng, rằng chủ nghĩa tư bản đang giẫy chết và chủ nghĩa đế quốc là đêm trước của cách mạng vô sản. Đối với tôi lúc ấy, tất cả những ǵ của Liên Xô, Trung Quốc đều là tốt, là đúng, và nếu có cái ǵ chưa tốt th́ có thể giải thích được bằng những nguyên nhân khách quan, những điều kiện lịch sử cụ thể. Và tất cả những ǵ của tư bản, đế quốc đều là xấu, và nếu có cái ǵ xem ra là tốt th́ chỉ là cái bề ngoài giả dối hoặc là cái phụ. Tôi đọc “Thăm Liên Xô về" của André Gide nó không vào, cứ bật ra, rồi cuối cùng tôi bỏ dở, không đủ kiên nhẫn đọc hết. Những bài báo hồi bấy giờ tôi viết th́ đầy rẫy những câu trích dẫn của Mác, Ăng-ghen, Lênin, Stalin, Mao Trạch Đông, Hồ Chí Minh và đủ thứ nghị quyết của Đảng.
Không thể khác được. Không phải do tôi lựa chọn. Tôi chỉ thực sự lựa chọn có một điều : giành lại độc lập cho đất nước. C̣n tất cả những cái khác là tự nó đến, dần dần, một cách tự nhiên. Và tôi cũng không phải người cuồng tín nhất.
Từ sau chiến dịch Biên giới cuối năm 1950, tư tưởng Mao Trạch Đông ùa vào Việt Nam. Từ đó trở đi, càng ngày tôi càng cảm thấy ḿnh bị coi là phần tử tiểu tư sản bấp bênh, hồi đó được gọi là dân “tạch tạch sè”. Chưa lấy ǵ làm nặng nề lắm nhưng đôi lúc cũng khó chịu, lâu dài thành mặc cảm. Mao Chủ Tịch nói : “Tri thức sách vở không bằng cục cứt. Cứt c̣n bón được ruộng chứ tri thức sách vở th́ không dùng được vào việc ǵ”. Mà tôi th́ hầu như chỉ có tri thức sách vở. Thế mới thật là mệt ! Chính cái đó đă kích thích tôi cứ nằng nặc xin bằng được ra đơn vị chiến đấu. Để xem mèo nào cắn mỉu nào !
***
Như trên tôi đă nói, ông cụ tôi là một ông giáo. Một ông giáo tiểu học trường tư, nhưng đă nghỉ dạy mấy năm trước cách mạng Tháng Tám, ở nhà giúp bà mẹ quanh năm đau ốm của tôi trông nom cửa hàng tạp hoá của bà. Kiểu buôn bán là như thế này : lấy lại hàng của các cửa hàng lớn chuyên doanh, đều là chủ hàng quen, đem về bán lại cho các bà hàng xén chợ nhà quê (Đ́nh Bảng, chợ Dầu. vv..) cũng đều là khách hàng quen, cứ dăm bẩy ngày lại gánh đôi bồ to tướng ra cất hàng : một súc vở học tṛ, vài tá bút ch́, vài cân đường cát, một cân phèn chua, vài ba cân miến, chục bao nến, một tá khăn mặt, vv... tạp pí lù, khoảng vài chục món như thế chất đầy vào hai cái bồ. Câu “linh tinh như cái bồ hàng xén” xuất xứ là như thế. Bà khách hàng ngồi tựa gối trên phản vừa bỏm bẻm nhai trầu, vừa xướng lên những món hàng ḿnh cần, xướng đến đâu th́ bố tôi lại ghi thành cột vào quyển vở mua hàng lem nhem của bà, c̣n mẹ tôi th́ gảy bàn tính lách cách tính tiền. Tôi làm cái nhiệm vụ đi lấy hàng, nghĩa là chỉ có việc đến nhà chủ hàng bảo họ mang đến cho một tải đường chẳng hạn, tuổi nhỏ mải chơi, nhiều lúc đi được nửa đường th́ quên, không nhớ ở nhà dặn đi lấy ǵ, phải quay về hỏi lại.
Tản cư theo kháng chiến cụ tưởng chỉ vài ba năm là cùng. Cụ gửi giấy tờ vào Hà Nội nhờ bán cái nhà lấy tiền theo đuổi kháng chiến đến thắng lợi. Bán tống bán tháo. Dân thành thị, chồng già, vợ ốm, con nhỏ, không nghề ngỗng ǵ, chỉ ngồi ăn th́ núi cũng lở. Ăn đă ṃn vẹt cả cái nhà mà xem ra kháng chiến vẫn chưa đâu vào đâu, nên đầu năm 1951 lại dắt díu khiêng cáng nhau hồi cư. Về Hà Nội không có nhà, lên ở nhờ nhà thờ tổ. C̣n ít tiền, chung vốn với một người cháu mở hàng phở. Hàng phở ăn dần vào vốn. Lại quay trở về nghề hàng xén. Vốn ít, cửa hàng không có th́ ngồi vỉa hè vậy. May mắn có ông anh vợ chỉ tản cư có mấy tháng, sớm hồi cư nên nhà cửa c̣n giữ được, và thời chiến tranh buôn bán phất lên như diều, nên khá giả. T́nh anh em, ông giúp đỡ bố mẹ tôi và cho ngồi nhờ đầu hè. May mắn thứ hai là cụ đă có một « sáng kiến » : đá lửa đen bán được giá hơn đá lửa trắng. Cụ bèn cậy bút ch́ ra lấy ruột, cạo thành bột, rồi tối tối cả nhà ngồi xúm lại hồ đá trắng bằng bột ch́. Rồi bán lại cho các cửa hiệu buôn. Cái công việc tạp nham chẳng ai thèm làm ấy, không ngờ lại kiếm được khá.
Khi tôi đi kháng chiến về th́ các cụ đă thuê được một cửa hàng nhỏ, buôn bán cũng có vẻ nhộn nhịp, và vẫn cung cách như ngày trước. Và ngồi đâu tôi cũng th̐