Đông La
Các
Mác - Một tình yêu bao la
Tôi
muốn viết tên nhà triết học, nhà
cách mạng vô sản là Các
Mác, cách
phiên âm của nước Việt Nam XHCN, nơi tôi
đã sống trọn nửa thế kỷ, cho
đúng với ngôn ngữ chính trị của một chế
độ mà mỗi bước đi đã được chiếu
sáng bởi tư tưởng ông, cái
ánh sáng mà một nửa nhân
loại (áng chừng)
coi là ánh đuốc dẫn đến thiên đường;
còn một nửa kia coi là ánh lửa
hung bạo dẫn xuống địa ngục!
Tôi cũng dựa vào tên bài
hát “Bác Hồ - một tình
yêu bao la” của
Thuận Yến để đặt tên cho bài viết này,
bởi tôi nhận thấy cặp “thầy
trò”
này; ngoài điểm khác biệt
là người thì có tinh thần quốc tế
vô sản,
người thì chỉ muốn “được việc” cho
dân tộc mình; nhưng cả hai đều có
cái chung, đó chính là tinh
thần nhân đạo - một tình yêu bao la đối
với
con người!
Viết vậy, có lẽ tôi sẽ gây ra nhiều ngạc
nhiên
khi nửa nhân loại chống đối từng cho Các
Mác
là “một kẻ nổi loạn”,
thậm chí nhiều người còn cho là
“tên tội phạm của lịch sử”;
còn trong cái nửa tôn thờ giờ cũng
có nhiều người tỏ ra thức thời từ bỏ
ông, một số còn phủ nhận và chống đối
ông. Nhưng tôi vốn là người
luôn
suy nghĩ độc lập, chủ nghĩa tôi theo là chủ nghĩa
khoa học, nên trước
vô vàn ý kiến về Mác,
tôi vẫn muốn viết đôi điều, dù hiểu
rằng, có được
ý kiến riêng thực sự là một
thách thức trí tuệ. Và, tôi
chấp nhận sự
thách thức ấy!
Mấy năm gần đây, nhờ có Internet, tôi
mới có
thể biết được nhiều
thông tin mà trước đây nếu có
thì chỉ
là loáng thoáng theo kiểu
“nghe
hơi nồi chõ”. Lúc đầu có thể
nói
là kinh ngạc, nhưng trái lại với một
số người, thường chuyển từ cực này sang cực khác,
biết
được nhiều
chuyện nhưng nhận thức của tôi về những vấn đề cơ bản vẫn
không thay
đổi nhiều, thậm chí có những vấn đề lại
có cơ sở
để khẳng định vững
chắc hơn.
Bài này tôi muốn viết về chủ nghĩa
Mác, về ý thức hệ đã và
đang
quyết định bước đi của đất nước ta, về điều mà một số người
muốn thể
hiện quan điểm của mình đã phải khốn đốn. Gần
đây nhất lại thêm nhà văn
trẻ Đỗ Hoàng Diệu, với truyện “Vu quy”,
đã văn học hóa một cách cụ thể
những chính kiến đó, chính kiến của
nhiều thế hệ (nếu tính tuổi thì lớp
đầu ngang với ông nội cô), mà những
người chống chế độ gọi là “những
chiến sĩ đấu tranh cho dân chủ” như
Hoàng Minh Chính, Nguyễn Thanh
Giang, Bùi Tín, Nguyễn Minh Cần, Dương Thu Hương,
Hà Sĩ Phu, Lữ Phương
v.v...
Bắt đầu là xu hướng theo chủ nghĩa xét lại
(revisionism) với tư
tưởng đặt nhẹ đấu tranh giai cấp và giải phóng
dân tộc; rồi đến việc
phủ nhận một phần; và cuối cùng là phủ
nhận toàn phần chủ nghĩa Mác.
Nhưng chủ nghĩa Mác khởi thủy lại là một chủ
nghĩa nhân đạo, nó
chính là quy trình cách
mạng nhằm xóa bỏ sự thống trị, bóc lột để mang
lại công bằng và hạnh phúc cho
toàn thể loài người; một điều tốt đẹp
thế sao lại bị phủ nhận?! Theo tôi, có như vậy,
có lẽ bởi lịch sử triển
khai quy trình nói trên vào
thực tiễn cũng chính là lịch sử làm
sai
lạc, thậm chí làm ngược lại tinh thần
nhân đạo của Các Mác; do người ta
hiểu chưa rõ, hiểu sai, từ những khái niệm đến
những nguyên lý cơ bản
trong lý luận của ông.
Thứ nhất là chủ nghĩa giáo điều, với tư tưởng
sùng bái cá nhân phi
khoa học, người ta đã biến Mác thành
thánh sống, coi mỗi câu chữ của
ông là khuôn vàng thước ngọc,
trong khi thực chất Mác chỉ viết ra những
điều chung nhất, mà lại về cách mạng
xã hội, cái quy trình có
tính bao
quát vô cùng lớn, phụ thuộc
vô vàn các điều kiện; không
giống như những
quy trình công nghệ với những thông số
cụ thể. Do đó áp dụng những
nguyên lý của Mác là phải
hết sức mềm dẻo và luôn có sự thay đổi
cho
thích ứng như chính bản thân
Mác và Ăngghen, trong lời tựa viết cho bản
tiếng Đức Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản
xuất bản năm 1872, đã viết: “việc
áp dụng những nguyên lý... cũng phải
tùy theo hoàn cảnh lịch sử”,
rồi “không
nên quá câu nệ vào những biện
pháp
cách mạng nêu ra... ngày nay
mà viết lại...
cũng phải viết khác đi” (Tuyên
ngôn của Đảng cộng sản,
Nxb Chính trị quốc gia 1998, trang 9). Trong quá
khứ ta thấy có chuyện,
khi người có ý thay đổi Mác
mà không thuộc phe nắm quyền sẽ bị cho
là
“xét lại”, phản động; còn nếu
thuộc phe nắm quyền sẽ được coi là đóng
góp, vận dụng sáng tạo. Nhưng nói
chung, mọi thay đổi nếu theo đúng
tinh thần nhân đạo, vì lợi ích
cách mạng, vì dân, phù hợp
với quy luật
chung, sẽ mang lại sự phát triển và tiến bộ, như
Lê Nin đã cho rằng
Cách mạng XHCN không chỉ thành
công ở quy mô toàn cầu khi chủ nghĩa tư
bản phát triển đến giai đoạn cực mâu thuẫn,
mà có thể thành công tại
một nước tư bản kém phát triển là Nga;
và khi giành được chính quyền,
ông cũng đã đưa Kế hoạch Kinh tế mới
(НЭП - Новый экономический план) (chính là nền
kinh tế thị trường theo định hướng XHCN
bây giờ) đầy tính sáng tạo,
mà có những học giả tư sản nói rằng,
phe xã
hội chủ nghĩa cứ vận dụng đến giờ thì không biết
sẽ phát triển đến đâu
rồi!
Điều thứ hai nói về giai cấp vô sản. Cũng trong Tuyên
ngôn Mác và Ăngghen viết:
“Trong
tất cả các giai cấp hiện đang đối lập với giai cấp tư sản
thì chỉ có giai cấp vô sản
là giai cấp thực
sự cách mạng” (tr. 97, sđd);
và theo hai ông: “Bác
sĩ, luật gia, tu sĩ, thi sĩ, bác học đều bị giai cấp tư sản
biến
thành những người làm thuê”
(tr. 74, nt); rồi: “Từng
bộ phận trọn vẹn của giai cấp thống trị bị sự tiến bộ của
công nghiệp
đẩy vào hàng ngũ giai cấp vô sản...
Những bộ phận ấy cũng đem lại cho
giai cấp vô sản nhiều tri thức” (tr.
95-96, nt). Như vậy, tầng lớp trí thức và tư sản
tiến bộ cũng thuộc “giai cấp thực sự cách
mạng”. Hơn nữa với chú thích
của Ăngghen “Giai cấp vô sản là
giai cấp những công nhân làm
thuê hiện đại” (tr. 65, nt),
khái niệm “giai cấp công
nhân” với ý nghĩa triết học
Mác chính là “giai
cấp làm thuê hiện đại”,
bao gồm tất cả những tầng lớp bị bóc lột, bị trị, bị
vô
sản hóa, cả
những tư sản tiến bộ, chứ không chỉ trơ trụi là
những
người công nhân
đứng máy, những người hoạt động cơ bắp. Chính
vì
không hiểu điều này
nên những người chống đối cho Mác sai khi đề cao
sức mạnh
cơ bắp, cho
những người “ngu si tứ chi phát triển”
làm
sao mà lại “tiên phong”, lại
lãnh đạo cả những tầng lớp có “đầu
óc”
được. Còn trong quá trình
cách
mạng, khi giới hạn ngoại diên khái niệm
và
“nghĩa đen hóa” ý nghĩa
“giai cấp công nhân” chỉ
là những người
đứng máy như thế, người ta đã
đưa ra những chủ trương phản Mác, đã
gây ra bao tai
họa, loại bỏ, kìm
hãm bao người vô sản chân
chính, những
trí thức ưu tú, những nhà tư
sản, những địa chủ yêu cách mạng; đã
đưa ra những
chính sách quái gở,
thực hiện cái khẩu hiệu “vơ đũa cả nắm”
lầm lạc
và phi nhân “trí,
phú, địa, hào - đào tận gốc, trốc tận
rễ!”,
thực hiện cái “chủ nghĩa thành phần,
chủ nghĩa lý lịch” kỳ lạ làm khốn
đốn bao người thuộc tầng lớp trên, giàu tri thức
hoạt động cách mạng,
kìm hãm và kéo
lùi lại biết bao sự phát triển. Cải
cách ruộng đất ở ta
cũng chính là một hậu quả của sự sai lầm
trên. Một điều kỳ lạ là khi
thực hiện những chính sách này, sao
người ta không chịu hiểu chính Mác
là trí thức, một tiến sĩ triết học, Ăngghen
là con tư sản, Bác Hồ là
con quan lại và Đại tướng Võ Nguyên
Giáp cũng là một giáo
viên...
Điều thứ ba nói về xương sống của chủ nghĩa Mác,
đó là tư tưởng “đấu tranh giai
cấp”.
Trong lịch sử áp dụng nó, những người
vô sản đã mang lại những thành
quả rất lớn lao nhưng cũng không ít điều tệ hại.
Nó cũng chính là vấn
đề bị những học giả tư sản và những người chống đối
phê phán nhiều
nhất, thậm chí nhiều người còn cho Mác
là một tội phạm hiếu chiến, kích
động bạo loạn. Theo tôi có như vậy là
do người ta đã vận dụng sai và
hiểu chưa chính xác tư tưởng của Mác.
Cũng trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản,
Mác và Ăngghen viết: “Đặc
trưng của chủ nghĩa cộng sản không phải là
xóa bỏ chế độ sở hữu nói
chung, mà là xóa bỏ chế độ sở hữu tư
sản... là biểu hiện cuối cùng và
đầy đủ nhất... trên cơ sở những người này
bóc lột những người kia” (tr. 107, nt);
“Chủ
nghĩa cộng sản không tước bỏ của ai cái khả năng
chiếm hữu những sản
phẩm xã hội cả. Chủ nghĩa cộng sản chỉ tước bỏ quyền
dùng sự chiếm hữu
ấy để nô dịch lao động của người khác”
(tr. 114, nt), rồi: “Cái
sở hữu làm ra, kiếm được một cách lương thiện...
chúng tôi có cần gì phải
xóa bỏ
cái đó” (tr. 108, nt). Như
vậy, nội hàm chính của khái niệm
“đấu tranh giai cấp”
chính là “tước bỏ quyền
dùng sự chiếm hữu để nô dịch người khác”,
“Lật đổ sự thống trị”,
xóa bỏ chế độ “Người bóc lột
người”. Nhưng trong thực tiễn vô
vàn trường hợp người ta đã không chỉ
tước “quyền sở hữu”
mà còn tước cả “sinh mạng sở
hữu”,
lẽ ra chỉ đấu tranh với sự bóc lột, bất công,
người ta đã đấu tranh với
tất những gì thể hiện sự sung túc, phê
phán tất cả những gì sang trọng,
văn minh, cho là biểu hiện của lối sống xa hoa,
phù phiếm, trụy lạc
tiểu tư sản và tư sản; đề cao cái dân
giã, thô mộc, đơn sơ, nghèo
khó.
Về điều này tôi đã phải làm
hai câu thơ: “Ôi
đất nước có thời sao ai ai cũng sợ sự giàu
có/
Nên cái nghèo từng là vết
son trang điểm
trang lý lịch của con”.
(Bài “Ơi đất nước mang hình dấu
hỏi”)”. Tệ hại hơn nữa, có những
cá
nhân nhiều tham vọng khi nắm được quyền lực đã dựa
vào tư tưởng đấu
tranh giai cấp, vào đủ thứ “tính
Đảng”, “tính giai cấp”,
“tính quần
chúng”... đấu tranh với chính đồng
chí mình, triệt hạ những người không
cùng cánh, giành trọn và
giữ vững quyền lực; từ đó sinh ra tệ sùng
bái
cá nhân, để rồi từ việc lật đổ sự thống trị cũ lại
thiết lập một sự
thống trị mới, chuyên quyền và tàn
ác hơn, đi ngược lại hoàn toàn tinh
thần nhân đạo và tiến bộ của chủ nghĩa
Mác, vì mình, vì băng
nhóm mình
chứ không vì cách mạng, vì
dân; từng gây ra tai họa khủng khiếp cho cả
một đất nước như những sự thanh trừng ở Liên Xô cũ,
Cách mạng Văn hóa ở
Trung Quốc.
Về điều này, không kể những người chống
Mác ở
“phía bên kia”, mà
ngay cả một số nhân vật từng là tín đồ
của
Mác, được đào tạo cơ bản,
được giao những trọng trách, từ việc thể hiện quan điểm,
góp ý, đến đi
ngược với xu thế chung, đã bị thất sủng, bị chế độ
lên
án, bị quản chế,
thậm chí bị tù tội... mà phải đến tận
hôm
nay, nhờ Internet, nhiều
người mới biết cụ thể những chính kiến của các vị
qua
những trang viết
cụ thể. Muốn đánh giá tinh thần
“xét
lại”, “chống đối” đó
đúng hay sai,
hành động đó vì dân,
vì nước hay
vì cái tôi, và những
cái tôi
đó có
thực sự siêu vĩ đại không (vì họ
phê
phán, phủ nhận toàn những nhân vật
mà chế độ hiện thời đều cho là vĩ nhân
cả như
Các Mác, Lê Nin, Bác
Hồ...) đầu tiên phải dựa trên dòng chảy
liên
tục của lịch sử, xem trên
cái dòng ấy, ý thức hệ được tiếp thu
rồi dẫn dắt
đất nước như thế nào,
tới hòa bình hạnh phúc hay bạo loạn
và bất
hạnh? Trước hết, có một sự
thực khách quan, dù phía
này hay
phía kia buộc ta phải công nhận: Từ
khi Bác Hồ đọc Tuyên ngôn
thành lập
nước Việt Nam mới,
2-9-1945, nước ta mới bắt đầu có lại chính thể,
có
người lãnh đạo, sau
bao năm nước thì bị mất, vua thì bị đi đầy,
dân
thì không phải được
sống trong “thế giới tự do” như bây giờ
mà
là dưới sự thống trị của một
chủ nghĩa thực dân nguyên chất, với đầy đủ những
thuộc
tính như áp bức,
bóc lột, tù đầy của nó. Những chủ
nhân muốn
đuổi kẻ cướp nước mình, khi
bị bắt, thì bị xâu dây thép
vào tay
như người ta xiên cá, và cuối
cùng
là hàng mấy triệu người chết đói...
Vậy
chính Bác Hồ cùng Đảng Cộng sản
đã tiếp nối truyền thống của Đinh Bộ Lĩnh, Ngô
Quyền,
Lý Thường Kiệt,
Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Nguyễn Trãi, Quang Trung...
giành lại đất nước
từ tay bọn xâm lược chứ không phải ai hay bất cứ
một thế
lực nào khác.
Có một số người cho rằng cuộc cách mạng
giành độc
lập, theo luật pháp
quốc tế, chỉ là một cuộc đảo chính, bởi tại điện
Elysée, đích thân Tổng
thống Pháp Vincent đã chính thức trao
trả quyền
độc lập cho Việt Nam
vào ngày 8.3.1949 với đại diện là cựu
hoàng
Bảo Đại. Nhưng có điều họ
không biết, thực chất Pháp đã trao trả
cái
mà Pháp không có, bởi
Pháp
đã bị Nhật đảo chính ngày 9.3.1945,
ngày
mà ông vua còn đang bận đi
săn! Liền sau đó ông cũng đã
tuyên bố hủy bỏ
những hiệp ước ký với Pháp
và ngày 12.8.1945 còn làm
lễ
“thoái vị” giao quyền lãnh
đạo đất nước
cho Chính phủ Lâm thời của Chủ tịch Hồ
Chí Minh.
Rồi sau đó khi Mỹ
không ký vào Hiệp nghị Giơ-ne-vơ
(7.1954),
phá hỏng tổng tuyển cử
7.1956, thành lập chính phủ Việt Nam Cộng
hòa, đem
quân vào, thì sau đó
việc lãnh đạo nhân dân tiến
hành cuộc
kháng chiến thống nhất đất nước
của một chính phủ hợp pháp là lẽ đương
nhiên, và cuộc kháng chiến
đó là
chính nghĩa cũng là lẽ đương nhiên.
Còn
lúc này mà đi theo “chủ
nghĩa”
nào đó đòi “chung sống
hòa
bình”, chấp nhận sự chia cắt đất nước,
thì
rõ ràng đã đi ngược dòng
chảy lịch sử. Ngay
cả Khơrutxov, cha đẻ của tư
tưởng “chung sống hòa bình”
đó, năm
1964 cũng đã bị hạ bệ do trước đó
đã ra tay đàn áp sự nổi loạn của
nông
dân ở Poznan, Ba Lan và ở
Budapest, Hungary mà chính sách của
ông
đã gián tiếp dẫn tới. Còn tư
tưởng có thể đạt được thắng lợi bằng bất bạo động,
đàm
phán? Khi biên
tập cuốn tiểu thuyết của Đại tá Phi công Vũ
Thành,
như một cuốn biên
niên sử về Quân chủng Phòng
không-Không
quân Việt Nam, tôi mới biết, Mỹ
đã khoanh một vòng tròn 60 km quanh
Hà Nội
và Hải Phòng chừa ra không
đánh, thực hiện cuộc chiến tranh phá hoại để mặc
cả, muốn
chấm dứt
chiến tranh theo ý đồ của mình, rồi
không được mới
dùng B52 đánh thẳng
vào Hà Nội và Hải Phòng,
cuối cùng
vẫn không được, và khi hết mọi cách,
Mỹ mới chịu thất bại hoàn toàn. Như vậy,
làm sao
có chuyện chỉ có thể
đàm phán suông mà kết
thúc được chiến
tranh, cũng giống như khi một tên
kẻ cướp lấy được của quý rồi, chủ nhà
làm sao
“đàm phán” được nữa, lẽ
ra phải kêu công an hoặc hàng
xóm can thiệp.
Vậy thực là sai lầm khi Bùi Tín viết:
“Cái sai lớn nữa của Mác
là đã đề cao một chiều bạo lực và
chuyên chính vô sản, coi dùng
bạo lực
như là phương thức duy nhất để chuyển sang chế độ
chính trị mới” (trong cuốn Mặt
thật); và Hà Sĩ Phu: “Nhưng
Mác-Lê tâng bốc đấu tranh giai cấp
thành động
lực duy nhất thúc đẩy tiến hóa để có
sức mạnh
mà giành chính quyền”
(trong bài “Triết học Mác-Lê:
Khủng hoảng phương pháp luận”). Đó
chính
là những sai lầm khi phủ nhận cái quy luật: trong
đấu tranh đối kháng
chỉ có thể giành thắng lợi bằng bạo lực, bạo lực
là “bà đỡ” của
cách
mạng; cái quy luật mà không phải do con
người hiếu chiến Mác nghĩ ra mà
ông đã rút ra được từ chính
lịch sử phát triển xã hội.
Còn Hoàng Minh Chính, tại Đại học
Harvard, ngày 28 tháng 9 năm 2005,
nói: “Trước
hết, Marx và Engels tuyên bố rằng “Lịch
sử tất cả
các xã hội tồn tại từ trước đến nay chỉ
là lịch sử
đấu tranh giai cấp”, và cho rằng:
“Luận điểm này đi ngược lại lịch sử
phát triển khách quan của xã hội
loài người”, mà theo
ông: “Trên
cái nền tảng vật chất sản xuất và thương mại,
khoa học và công nghệ”
“xã hội loài người đã thăng
trầm trải qua các nền văn minh đồ đá, đồ
kim khí, máy hơi nước, v.v”.
Như vậy, Hoàng Minh Chính đã
không
hiểu đúng văn bản, không hiểu nội hàm
các khái niệm, lấy râu ông nọ
cắm
cằm bà kia. Tôi thật không ngờ một
ông cựu Viện trưởng Mác-Lê,
có gan
đội đá vá trời mà lại có
thao tác tư duy sai lạc như thế. Thực ra Mác
nói “lịch sử xã hội”
là nói lịch sử chính trị, lịch sử thay
đổi
các chế độ, ông lại đi phân
tích “lịch sử phát triển văn
minh” rồi chê Mác “đi
ngược”,
như thể ông phân tích một bài
văn và không thấy cộng, trừ, nhân, chia
đâu cả, nên chê là
không hay! Hà Sĩ Phu cũng có sai lầm
tương tự Hoàng
Minh Chính khi viết: “Nếu biết
nhìn lịch sử một cách thật biện chứng
như một quá trình thống nhất ắt các
ông phải thấy "trí tuệ" mới là động
lực... và không dựng ra một học thuyết đấu tranh
giai cấp rùm beng như
thế”.
Còn trong thực tế có vài trường hợp
thành công bằng con đường hòa
bình như Mahatma Gandhi
thì theo học giả Hoàng Xuân
Hãn, một chứng
nhân lịch sử, khi trả lời Thụy Khuê đã
nói:
“Nhưng
thực ra, với Gandhi, ... cũng may vì có chiến
tranh thế giới cho nên
các ông ấy mới được độc lập, không phải
là tự các ông ấy mà gỡ ra
được.
Nói thực như thế”. Một thực tế
khác, chỉ trong vòng bốn năm từ
1945-1949 đã có hàng loạt nước vốn
là thuộc địa được thực dân Anh,
Pháp, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha,
Hà Lan, Bỉ,... chủ động trao trả lại
quyền độc lập, mà không hề phải qua con đường khởi
nghĩa vũ trang hay
bạo động. Điều đó xảy ra vì thực chất,
các nước thực dân buộc phải lựa
chọn như vậy là để tránh việc nhân
dân các nước vùng lên
giành lại
quyền độc lập và sẽ rơi vào quỹ đạo của chủ nghĩa
cộng sản; sợ điều mà
chính Tổng thống Mỹ H. Truman đã lo ngại: "Nếu
một quốc gia ở Đông
Nam Á rơi vào tay cộng sản thì
các quốc gia khác sẽ lần lượt lọt vào
tay cộng sản như một dãy cờ domino vậy". Như vậy,
tất cả những biến
cố đã xảy ra trong lịch sử không phải tự
thân mà có mà
chính là kết quả
tất yếu của những nguyên nhân, và
nguyên nhân cơ bản nhất là quy luật
sử dụng bạo lực trong đấu tranh đối kháng. Ngay cả một loạt
thay đổi
trong xã hội tư bản hướng về phía công
bằng, tiến bộ, nhân đạo... cũng
không phải tự nhiên mà có.
Bùi Tín viết: “đời sống của
công nhân vẫn
có thể được cải thiện rõ, đông đảo
người lao động có thể trở thành
những người tham gia bằng cổ phần, cổ phiếu vào vốn kinh
doanh và thành
một kiểu chủ nhân của công ty”.
Thực ra ông cũng nói theo Bách
khoa toàn thư Wikipedia: “hiện
tượng Chủ nghĩa tư bản toàn
dân
như hiện nay của các xã hội Âu-Mỹ khi
công nhân cũng có thể là đồng
sở
hữu của phương tiện sản xuất thông qua cổ phần...
thì Marx không thể
nào có thể tưởng tượng ra nổi”.
Đúng là Mác không tưởng
tượng ra
nổi thật, nhưng để chạy đua với các nước XHCN,
các nước tư bản đã tự
thay đổi, một hành động mà tôi gọi
là “tự chết” theo đúng tư
tưởng nhân
đạo và công bằng của Mác. Những
tính chất xấu xa của chủ nghĩa tư bản
đã tự mất đi như "Người với người là
chó sói" (Lenin); rồi:
“chuyên chính tư sản - chính
là chiến tranh thực dân trong lịch sử hai trăm năm
gần đây, chế độ tư
bản... phải dùng chiến tranh để giải quyết cái
“tham lam” (greed), chủ
nghĩa tư bản nói “greed is good” (tham
lam là điều thiện)... Trong lý
luận của chế độ tư bản chính thống, không
có khái niệm dân chủ”.
(Ngô Thanh Nhàn, Giáo sư thỉnh giảng
Trường Đại học New York, thành
viên Ban Điều hành Brecht Forum). Về mặt thay đổi
này, tôi thấy các
nước tư bản trung thành với Mác hơn cả những nước
XHCN với sự “quan
liêu, giáo điều, duy ý
chí” của nền kinh tế kế hoạch tập trung ở
Liên
Xô, triết lý phản tiến bộ “an bần lạc
đạo” của Trung Quốc.
Điều cuối cùng, Hà Sĩ Phu trong bài
“Triết
học Mác-Lê: Khủng hoảng phương pháp
luận”
viết: “Cứ cho mọi điều Mác-Lê
đã
nói là đúng hết đi... thì
vẫn còn
một sai lầm không thể chối cãi là sai
lầm về phương
pháp luận!”, tức Hà Sĩ Phu
muốn phủ nhận
Mác ở cấp độ sâu xa nhất, cơ bản nhất,
cái cơ sở
khoa học của lý luận. Ông lý luận:
“Nếu
đã hiểu thuộc tính quan trọng nhất của
ý thức
là tính "phản ánh" và
tính "tác động" thì phải biết rằng
thuộc
tính ấy là của vật chất nói
chung, biểu hiện ở tất cả mọi mức độ từ thấp lên cao. Cục sắt
và thanh
nam châm, vật nọ phát tín hiệu
và phản
ánh vào vật kia và tác động
trở
lại vào vật kia. Giữa phân tử ôxy
và hydro
cũng như vậy... chúng nhận
thức lẫn nhau và tác động lẫn nhau”.
“Không thể tách ý thức của
con
người ra khỏi khả năng "phản ánh" và
"tác động"
của thế giới vật chất
nói chung. Không phải đến con người thì
cái
"ý thức" thiêng liêng ấy
mới đột nhiên xuất hiện. Ý thức không
phải là
chuyện riêng của thế giới
con người (nếu mang nghĩa hẹp ấy thì nó chỉ tương
ứng với
quy mô xã hội
thôi, sao có thể đem đọ với quy mô vật
chất được?)
“Ý thức tinh thần
chính là thuộc tính chung của thế giới
vật chất.
Không thể có cái thứ
vật chất không có tinh thần, cũng không
có
cái thứ tinh thần ngoài vật
chất: Tách thành vật chất và tinh thần
để rồi cho
rằng cái này có
trước, cái kia có sau tức là
tách "vật
chất" ra khỏi chính thuộc tính
của nó thì vô nghĩa biết chừng
nào! Thử hỏi
thanh nam châm và cái thuộc
tính hút sắt của nó thì
cái
nào có trước? Vật chất và
tính phản
ánh của
nó cũng vậy. Không thể có vật chất
và
ý thức, chỉ có thế giới vật chất
đang vận động, đang tự ý thức, tự phản ánh, tự
tác
động phần này vào
phần kia và tự biến đổi”.
Quả thật, tôi cũng lại quá ngạc nhiên
và buồn
cười trước Hà Sĩ Phu,
một tiến sĩ sinh học, có tâm hồn văn chương, nhiều
tham
vọng, trong
lĩnh vực lý luận có nhiều ý
khá độc
đáo (nhưng có đúng không
thì phải
xem) khi ông vo viên tất cả lại như trên.
Nếu
làm như ông thì mọi lý
luận, mọi nghiên cứu khoa học trên đời
không
còn nữa. Để nhận thức thế
giới tự nhiên và xã hội, đưa ra những
lý
thuyết và lý luận phục vụ lại
cuộc sống con người, con người buộc phải tiến hành những
thao
tác phân
lớp, chia tách, thành những đối tượng, những
hàm
số, thông số, biến số
(với khoa học tự nhiên) và những khái
niệm với
những “nội hàm” và
“ngoại diên” nhất định (khoa học
xã hội); từ
đó mới tiến hành thí
nghiệm, phân tích, biện luận, chứng minh rồi đưa
ra những
kết quả; rồi
lại đem những kết quả ấy ứng dụng vào thực tế và
được
chính thực tiễn
cuộc sống kiểm tra, điều chỉnh... Cứ thế, hành
trình
phát triển nền văn
minh là một quá trình vận động
không ngừng
theo nguyên lý “phủ định của
phủ định” để tiệm cận đến chân lý. Với
tinh thần
đó, khái niệm “vật chất”
của chủ nghĩa Mác là “thực tại
khách quan”, là “một
tập hợp vô hạn những hiện tượng, khách thể
và hệ thống đang tồn tại trên thế giới”;
còn “Ý thức”
là “hình thức phản
ánh cao cấp, riêng có ở con người, đối
với thực tại khách quan”, là
“toàn
bộ quá trình tâm lý
tích cực tham gia
vào sự hiểu biết của con người đối với thế giới
khách quan”.
Từ những quy ước triết học đó, (không coi
tính chất hóa học và lý học
của vật chất là ý thức, tức có ngoại
diên nhỏ hơn khái niệm ý thức của
Hà Sĩ Phu nói trên) chủ nghĩa
Mác cho “vật chất có trước
và sinh ra ý thức”
trong bình diện tự nhiên; rồi từ cơ sở khoa học
đó
vận dụng trong bình diện xã hội cho: vật
chất quyết
định ý thức, lực lượng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất,
cơ
sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng...
Tính “quyết định”
ở đây có nghĩa là trong một hệ thống
muốn phát triển tốt phải khảo sát,
xây dựng trước, được xác định là lực
khởi động, chứ không có nghĩa là
không có tác động qua lại và
ngược lại. Chính vì hiểu tính
“quyết định”
một chiều nên trong thực tế, người đi theo thì vận
dụng sai, người phủ
nhận thì hiểu sai. Trong giới hạn một bài viết
tôi không thể chứng minh
hết được, chỉ riêng nguyên lý vật
chất có trước và sinh ra ý thức,
thì ai hiểu biết khoa học sẽ thấy trong thực tiễn,
nó đã được chứng
minh cụ thể và rõ ràng nhất. Con người
đã làm ra trí tuệ nhân tạo,
thay
quyền năng của Tạo hóa, bắt sắt thép cũng biết
suy nghĩ; trong lĩnh vực
y học và sinh học, khi nghiên cứu cấu tạo cũng như
hoạt động hệ thần
kinh, người ta đã thấy trí thông minh
được điều khiển bằng những gen,
thấy bản chất dẫn truyền thần kinh là những xung điện được
tạo bởi
những ion các chất hóa học; bản thân
ý thức cũng có tính điện từ khi
người ta có thể điều khiển các thiết bị
máy móc bằng ý nghĩ; nhiều
thuốc chữa bệnh thần kinh và những thuốc kích
thích gây nghiện cũng thể
hiện được một phần nguyên lý vật chất quyết định
ý thức nói trên...
Như vậy, theo tôi tinh thần chống đối của các vị
trên dường như
xuất phát từ tính kiêu ngạo tiểu
nông,
khí khái phong kiến, chưa biết
mình, biết người, nên chẳng khác
gì
hành động muốn lấy gang tay đo cao
rộng của trời đất, lấy bát ăn cơm đong nước của biển cả, để
cuối
cùng
thân làm tội đời. Dù tôi
không đồng
ý cách xử lý mang tính bạo
lực của
chế độ với các vị, mà lẽ ra trong thời
bình
nên sử dụng diễn đàn công
khai để cho lý lẽ đấu tranh với lý lẽ, nhưng
nói
các vị bị oan hoàn
toàn thì cũng không phải. Theo
tôi, biết
khâm phục tài năng cũng là một
tài năng, còn không phải cứ bạo miệng
chê
những nhân vật vĩ đại là sẽ
thành người vĩ đại!
Trong thực tế “các nước dân
chủ” đang thắng thế (tôi tạm gọi vậy vì
các nước này không còn
hoàn toàn theo chủ nghĩa tư bản theo định nghĩa
của Mác nữa), có những con chiên chối
Chúa của mình nêu trên, nhưng
cũng có những học giả tư sản như Barbara Supp, Marian
Blasberg,và Klaus
Brinkbäumer, trong bài “Con
lật đật” (talawas, 19.10.2005),
đã viết rất tốt về Mác: “Cụ
đã mổ xẻ cái hệ thống „trục
lợi“ này xuất sắc hơn ai hết. “Như
thể Karl Marx đã đội mồ đứng dậy“,
tạp chí Mỹ Newsweek băn khoăn, khi Franz
Müntefering, chủ tịch đảng Dân
chủ Xã hội Đức, bắt đầu sử dụng những ngôn từ như
trên vào tháng 4 năm
nay, lúc ông nói đến đến „bầy
châu chấu“,
ám chỉ những nhà đầu tư đã moi ruột
các
doanh nghiệp Đức và có thể nói
là đã
moi ruột cả nước Đức; rồi: “Tại sao một
ông chủ ngân hàng đầu tư Hoa Kỳ lại để
người ta trích lời mình rằng „Marx
có cái nhìn chính
xác nhất về chủ nghĩa tư bản“,
và càng hoạt động lâu ở Wall Street
thì „tôi càng
đoán chắc rằng Marx có lý“?”;
rồi nữa: “Theo
thăm dò dư luận mới đây của tạp chí Đức
Der Spiegel, cụ được dân chuộng
một cách đáng ngạc nhiên, mà
không phải chỉ ở Đông Đức: 50 phần trăm
dân Tây Đức nói rằng sự phê
phán chủ nghĩa tư bản của Karl Marx „ngày
nay vẫn mang ý nghĩa của nó." Thậm
chí 56 phần trăm thấy rằng chủ nghĩa xã hội
là „một tư tưởng hay nhưng được thực
hành tồi" - trong giới trẻ, sự đồng tình
còn cao hơn nữa”. Derrida, một triết gia
tư sản, cũng viết:“Không thể
không có Marx, không thể có
tương lai nếu không có Marx”
trong Những bóng ma của Marx (Nxb
Chính trị Quốc gia và Tổng cục II - Bộ Quốc
phòng, Hà Nội, 1994). Bách
khoa toàn thư Wikipedia viết: “Lý
tưởng của chủ nghĩa cộng sản là đối trọng để chủ nghĩa tư
bản trở nên
tốt đẹp hơn để được xã hội loài người chấp nhận.
Từ chủ nghĩa tư bản
với sự tự do bóc lột - và đầy rẫy bất
công tạo ra mầm mống của bạo động
và cách mạng, thế giới cũ đã
tìm các cách thích nghi
và triển khai một
xã hội công dân mà trong
đó mọi thành phần xã hội đều
có thể phát
triển, các mâu thuẫn xã hội
không thể đã hết nhưng đã có
những cơ chế
thỏa hiệp để giải quyết trên cơ sở hợp lý cho
các giai tầng xã hội. Đây
là một đóng góp gián tiếp
rất lớn của chủ nghĩa xã hội.
Trong lịch sử mấy chục năm tồn tại của mình
các nhà nước tiêu
biểu của chủ nghĩa xã hội đã triển khai một số
các biện pháp kinh tế
chính trị xã hội mà ngày
nay đã được áp dụng một cách hợp
lý sau khi
loại bỏ đi những hạt nhân phi hợp lý.
Các ví dụ như vậy rất nhiều như:
kế hoạch hóa quy mô vĩ mô, dồn nguồn lực
quốc gia cho những dự án lớn
có tính quan trọng sống còn, hệ thống bảo hiểm xã hội
toàn quốc, các kinh nghiệm về quốc hữu hóa,vai
trò của kinh tế quốc doanh trong nền kinh tế...Đó
là những đóng góp của
chủ nghĩa xã hội cho tri thức quản lý
nhà nước của nhân loại”.
Ngay ông Bùi Tín cũng viết trong Mặt
thật: “Tháng 8-1992
tôi ghé qua Berlin, ở phía
Đông Đức cũ, còn nguyên tượng
đài
Marx-Engels ở ngay trung tâm Alexander gần tháp
vô tuyến độc đáo, ở bên
Tây Berlin có một đại lộ loại bự nhất mang
tên Đại lộ Karl Marx”.
Trong thực trạng của thời hiện đại, thời đại chưa bao giờ hết bạo
lực, bất bình đẳng, bài ngoại, nạn
đói, thất nghiệp, mất không gian
sống, chiến tranh thị trường, tình trạng nghèo
khổ phổ biến ở vùng Nam
bán cầu, sự đe dọa khủng khiếp của công nghiệp vũ
khí và bom hạt nhân,
chiến tranh sắc tộc tràn lan, sự lộng hành của
các thế lực tội ác có tổ
chức, tình trạng luật pháp quốc tế bị một số
cường quốc thao túng và từ
đó áp bức kinh tế, lại gây
tác hại đến một phần nhân loại đông đảo
(dẫn
theo một tác giả trên talawas mà
tôi đã quên tên)
thì trở về với chủ
nghĩa Mác, với tất cả các biện pháp
thể chế thế nào đó để thực hiện
đúng tinh thần nhân đạo, xóa
bóc lột, nô dịch để đạt công bằng;
làm
theo đúng những nguyên lý của chủ nghĩa
Mác “vật
chất quyết định ý thức”; “đấu tranh giữa
các
mặt đối lập là động lực phát triển”
(trong khoa học, các chất phản ứng được hoạt hóa,
cọ xát nhau tạo đối
lập về điện tích (ion âm và dương) mới
sinh ra được chất mới), vậy đấu
tranh ở đây là để sinh sôi chứ
không phải tiêu diệt nhau; từ đó tiến
tới một xã hội mà trong Tuyên
ngôn của Đảng cộng sản có ghi:
“trong đó sự phát triển tự do
của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự
do của tất cả mọi người”
(tr. 130, sđd),... thì tôi tin là, thế
giới sẽ tiến tới một xã hội dù
không phải là “thiên
đường” như xã hội cộng sản chủ nghĩa
thì cũng là
một xã hội tốt đẹp hơn nhiều những cái
mà chúng ta hôm nay đang sống.
TPHCM 4-1-2006