Đông La
Vài cảm nghĩ về khen và chê
Trước hết cho phép tôi cảm ơn tác giả Phong Uyên, cũng như Vũ Ngọc Tiến lần trước, đã viết những lời rất tốt đẹp về bài “Các Mác - một tình yêu bao la”
trên talawas của tôi. Tâm lý con người thật kỳ
lạ, ngay những cô gái
tuyệt đẹp, không cần khen cô vẫn đẹp, nhưng vẫn cứ
thích những lời thầm
thì tán tụng của người yêu và sự trầm trồ
của mọi người quanh mình. Còn
tôi, giống như một kẻ nghèo khó keo kiệt, tôi
luôn nâng niu và cất giữ
trong ký ức những lời khen trên sách báo,
đặc biệt trên talawas, chỉ
trong một thời gian ngắn đã có hai lần, gần bằng số lần
trong suốt cả
cái khoảng thời gian dài đằng đẵng trên hai chục
năm cầm bút mà diễn
đàn văn chương trong nước đã dành cho tôi.
Nhưng có một điều lạ là
ngoài đời, tôi lại nhận được hàng ngàn lần
số lượng lời khen hơn thế,
từ Chế Lan Viên, Nguyễn Khải, đến rất nhiều người không
quen biết qua
thư từ, điện thoại. Vậy mà, trong những bàn tiệc văn
chương lớn nhỏ,
tôi không bao giờ có mặt. Tôi đã nản
chí và băn khoăn rất nhiều, tại
tôi bất tài hay tại nền phê bình ở ta bất
tài, bất công? Tôi không biết
mình tài đến đâu, nhưng tôi đã hiểu
ngay ra vấn đề. Thứ nhất, chuyện
viết lách ở nước mình, nếu phân chia một
cách tương đối, có hai phái:
tô đỏ và bôi đen; nhưng tôi thấy cuộc sống
không phải chỉ đỏ hoặc đen
mà có cả đỏ và đen nên văn tôi
có tất cả, vậy chỉ có cách là chơi một
mình mà thôi. Thứ hai, nếu tôi có một
vị trí kha khá trong Hội Nhà văn
hay trong Ban Tư tưởng Văn hoá; hoặc những bài của
tôi không phải của
đông la đông liếc mà mang tên một ông
“cốp” nào đó thì chắc chắn nền
phê bình của nước nhà đã đội lên đến
tận mây xanh rồi. Và một điều nữa
cũng rất quan trọng, sự khen chê, đồng ý hay phản
bác, cũng phụ thuộc
rất nhiều vào trình độ và thái độ của người
phản biện. Dưới đây tôi sẽ
bàn cụ thể về điều này qua những sự phản bác
bài “Các Mác- một tình yêu
bao la” của tôi.
Khi viết những vấn đề nhạy cảm, gai góc, lại đăng trên một
diễn đàn
có quy mô toàn cầu như talawas, nghĩa là
trước một tầng lớp độc giả có
chính kiến rất khác nhau, tôi biết mình sẽ
nói ngược với ý nhiều người.
Tôi sẽ rất thích thú được tranh luận với những
người có trình độ, dựa
trên văn bản, hiểu đúng lập luận của tôi,
dùng lý lẽ để “đấu” với lý
lẽ,... trên cơ sở đó mà tôi thấy ra được
cái sai của mình và học hỏi
thêm được đôi điều, thì tôi rất mừng. Bởi biển
tri thức là vô bờ, nên
sai lầm hoặc nhận thức có giới hạn là điều có ở
tất cả mọi người chứ
không phải chỉ ở riêng tôi; đến Einstein, người
vào hàng thông minh
nhất của nhân loại, từng nhìn thấy những điều không
ai có thể nhìn thấy
như không gian và thời gian có thể “co
giãn” và “ăn thông” với nhau,
khi phát minh thuyết Tương đối rộng (1915), bằng thuần
túy toán học, ông nhận thấy vũ trụ giãn nở
nên ông đã bịa ra một cách sai lầm một hằng số vũ trụ để “kéo” lại, vì ông cũng nghĩ như mọi người thời ấy, vũ trụ là tĩnh!
Tiếc là trước nay tôi thường gặp những người tranh luận có khả năng
tư duy giới hạn, không đủ sức tiếp cận văn bản, kể cả đối tượng nghiên
cứu cũng như những lập luận của tôi, nên thường có những phản bác nghô
nghê và buồn cười. Tôi có khó chịu nhưng không ngạc nhiên, bởi chúng ta
phải chua xót mà tự thấy với nhau rằng, thực tế nước ta không phải là
xứ sở của lý luận, của tư tưởng, của những sáng chế, phát minh, tức tư
duy phân tích, lập luận logic của dân ta còn kém. Chính vậy, trên diễn
đàn đã từng nổ ra những cuộc “đại chiến” nhưng chỉ về những điều vặt
vãnh mà thôi.
Với Cố Nhân,
(tôi có cảm giác như nói với không khí khi nhắc đến cái bút danh lạ của
người quen này) khi bàn đến triết học, bàn đến những nguyên lý của nó
là ta đã nói tới những quy luật cơ bản chi phối sự phát triển của cả tự
nhiên và xã hội, vậy mà một người chỉ nhìn thấy chúng là những “cách nói cho có đầu có cuối”, tất cả những phân tích, lập luận chỉ là “những cái bẫy học thuật, lý sự, bẫy ngôn ngữ”,...
nghĩa là bàn về lý luận mà lại phủ nhận lập
luận, thử hỏi vậy còn tranh luận cái nỗi gì!?
Cũng với Cố Nhân, thật nực cười cho một người viết khi cái điều tối đơn giản "Thế nào là bóc lột?"
cũng không hiểu nổi mà lại đi phản bác người
khác. Theo Mác, bóc lột nghĩa là chiếm
đoạt giá trị thặng dư, bần cùng hóa người lao
động, rồi dùng sự chiếm đoạt ấy nô dịch người khác.
Đó là những điều Mác đã thấy trong thời của
mình và không chỉ Mác mà
tất cả người có đầu óc bình thường đều thấy. Xa
hơn nữa, Mác thấy sự
bất công đó chính là mầm mống, là
nguyên nhân của cách mạng xã hội.
Chính các nước tư bản đã nhận thấy điều này
nên đã thay đổi rất nhiều
về hướng công bằng và tiến bộ như ngày nay. Một
xã hội tuy chưa được
như xã hội của Mác tưởng tượng, vẫn còn những
ông chủ và những người
làm thuê, nhưng làm thuê đã mang một
bản chất khác, đó là làm thuê
có
thoả thuận, có hợp đồng, có bảo hiểm, được luật lao động
của nhà nước
bảo vệ, không bị bần cùng hóa, được hưởng mọi
phúc lợi xã hội, và đặc
biệt, ai cũng đều được xã hội tạo điều kiện, có cơ hội
trở thành những
ông chủ. Và sự thay đổi này, như tôi
đã viết, không phải tự nhiên mà
có, mà đã được đổi bằng máu của những cuộc
kháng chiến chống xâm lược
và bất công, mà chủ nghĩa phát xít
là đỉnh cao nhất, nếu ta coi sự xâm
lược, tước bỏ quyền sống của người khác là một
hình thức bóc lột, bất
công lớn nhất. Còn ở đây lại đi lấy chuyện hợp
tác, thỏa thuận, hợp
đồng làm ăn của ngày hôm nay, như Cố Nhân
viết, để chê Mác sai thì thật
là ngớ ngẩn! Bởi thời chủ nghĩa tư bản còn đúng
là tư bản theo cách
nhìn của Mác thì giữa các các
ông chủ nhà máy với công nhân, giữa chủ
đồn điền với nông nô, giữa chủ da trắng và nô
lệ da đen, giữa kẻ xâm
lược với người dân bị trị... thì làm gì
có chuyện thỏa thuận này nọ để
rồi có “niềm tin”, cũng như Cố Nhân viết, với nhau!
Với tác giả Vũ Huy Quang, khi viết: “Con
người làm lịch sử, lịch sử không làm ra con người. Theo bạn, mọi sai
lầm chỉ vì “lịch sử làm sai lạc, thậm chí làm ngược lại tinh thần nhân
đạo của Mác”. Gì cũng đổ thừa cho lịch sử, mới phi-Mácxít... Không ai
sai lầm hết? Chỉ lịch sử là sai? Có Đại lãnh tụ mới có Đại thanh trừng
(1936 – 8 ). Còn lịch sử không thanh trừng...” đã
làm tôi hơi buồn cười, vì những lời nghiêm
trang của Vũ Huy Quang nói không đúng ý
tôi đã viết. Tôi viết “Lịch sử triển khai quy trình... cũng chính là lịch sử làm sai lạc...” (một cách hành văn thường được dùng trong nước) với ý “lịch sử”
là một “quá trình”, một “khoảng
thời gian trong quá khứ”, chứ “lịch sử” không có nghĩa như một “chủ thể”, một “nhân vật” có thể hành động được như Vũ Huy Quang nghĩ ở trên.
Tác giả Nguyễn Trung Lương viết: “Nhưng
thật là một sự ngộ nhận tai hại nếu ta tưởng rằng cần phải „đổi mới“
bởi vì ông Marx sai lầm (để rồi lại rủ nhau đi tìm ông thánh mới khác
chăng!) hay là bởi vì đã áp dụng „sai“ chủ nghĩa Marx (áp dụng „đúng
đắn“ chủ nghĩa Marx thì mọi bức xúc sẽ tiêu tan chăng!). Suy nghĩ như
thế là vẫn còn lẩn quẩn trong khuôn khổ tư duy giáo điều độc tôn. Điều
cần suy nghĩ ở đây là phải xác định lại cương vị (status) của lý thuyết
cũng như cương vị của con người trong thực tiễn nhân sinh. Theo tôi
„đổi mới“ là phong trào tự giải phóng ra khỏi khuôn khổ tư duy độc tôn
toàn trị; tinh thần đổi mới phải và chỉ có thể là tinh thần khai sáng
(Immanuel Kant) thôi. Trong tinh thần đó cương vị (status) lý thuyết
của chủ nghĩa Marx - hay của bất kỳ chủ nghĩa nào khác - trong thực
tiễn nhân sinh không phải là chỉ đạo mà là tư vấn; cương vị của con
người trong thực tiễn nhân sinh không phải là phục tùng mà là tự quyết”.
Trong bài viết trước của tôi, vấn đề “ta phải
nên như thế nào”
không phải là nội dung chính. Ý trên
của Nguyễn Trung Lương tôi vừa
đồng ý và vừa không đồng ý. Tôi đồng
ý sự phê phán chủ nghĩa giáo điều,
mà chính Mác cũng đã cảnh báo “không nên quá câu nệ vào các biện pháp cách mạng đã nêu”; rồi “Nếu viết lại tôi sẽ viết khác”; rồi nữa “áp dụng những nguyên lý cũng phải tuỳ theo hoàn cảnh lịch sử”.
Rõ ràng, trong thực tế ta cũng thấy không có lý thuyết nào là cho vĩnh
cửu, ngay cả những thuyết khoa học tự nhiên, khoa học của sự cụ thể và
chính xác, cũng chỉ gần đúng; bản chất tự nhiên đã dựng bức tường giới
hạn khả năng tư duy của loài người, nếu tìm ra Big Bang thì năng lượng
khởi đầu làm ra cái Big Bang ấy ở đâu?... Như vậy, theo tôi, nên coi sự
thay đổi các học thuyết cho thích ứng với cuộc sống vốn
luôn biến đổi là một quy luật chung nhất của sự
phát triển. Một nhà văn Nga cũng từng viết “cái sâu rộng của cuộc sống luôn sâu rộng hơn cái khôn ngoan của người đời”.
Ngược lại ý trên, chúng ta cũng cần phải biết, nếu loài người không có
các nhà tư tưởng, các nhà khoa học,... sẽ không có nền văn minh. Nên
loài người không thể “tự giải phóng”, “tự khai sáng”, “tự quyết” tùy tiện được, mà còn phải biết “phục tùng” một cách khoa học những “giáo điều”.
Khi đặt tên bài viết là “Các
Mác- một tình yêu bao la” tôi có
ý đồ thật, nhưng
không phải để “vận động quần chúng”
như ý Nguyễn Trung Lương mà tôi muốn
khiêu khích những người có ý ngược lại,
vì tôi đọc trên mạng thấy quá nhiều
bài
chửi bới phi học thuật; tất nhiên không chỉ xuất
phát từ “mỹ cảm” như Nguyễn
Trung Lương nghĩ mà còn vì tính khoa học.
Bởi chủ nghĩa Mác chủ trương đấu tranh xóa
bỏ bất công và sự nô dịch, thiết lập một xã hội công bằng (dù rằng sự vận
dụng sai đã gây ra nhiều chuyện ngược lại như tôi đã viết); còn nếu chủ nghĩa
Mác cho rằng có giống người thượng đẳng có quyền “làm cỏ” giống người khác như
chủ nghĩa phát xít, hay có tư tưởng “đại loạn để đại trị” như Cách mạng
Văn hoá ở Trung Quốc,... thì chắc chắn tôi sẽ đặt tên bài viết ngược lại: “Các
Mác- một tội ác bao la!”
Tác giả Đinh Từ Thức với tinh thần của tòa án “trọng chứng hơn trọng cung”
đã đưa ra nhiều chứng cớ để phản bác một phần nhỏ trong
bài viết của tôi nhưng lại liên quan đến những vấn
đề rất lớn.
Lập luận và phản bác của Đinh Từ Thức là: “Trước khi người Pháp
đô hộ, chủ quyền Việt Nam nằm trong tay triều Nguyễn. Khi Pháp đô hộ,
chủ quyền sang tay người Pháp. Khi Nhật lật Pháp, chủ quyền sang tay
người Nhật. Khi Nhật đầu hàng Đồng Minh vào ngày 15-8-45, chủ quyền
Việt Nam trở lại tay vua Bảo Đại. Khi vua Bảo Đại thoái vị vào ngày
25-8-1945 (Đông La viết ngày thoái vị là 12-8) (Điều này tôi viết theo bài Thụy Khuê phỏng vấn cụ Hoàng Xuân Hãn, có lẽ sai thật - ĐL),
nhà Nguyễn cáo chung, chủ quyền quốc gia đương
nhiên thuộc về toàn dân. “Pháp chạy,
Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị”, Việt
Nam trong tình trạng vô chính phủ, vậy làm gì có chuyện giành lại đất
nước từ tay bọn xâm lược. Nếu có chuyện giành giật ở đây, là Đảng Cộng
sản đã lợi dụng thời cơ, giành lấy quyền định đoạt vận mệnh quốc gia từ
tay người dân, rồi giữ luôn từ đó. Đến nay vẫn chưa chịu trả lại”.
Tôi nói “giành lại đất nước từ tay bọn xâm lược” vì
tôi tính cuộc kháng chiến chống xâm lược của nước ta do Đảng Cộng sản
lãnh đạo là cả một quá trình, bắt đầu từ năm 1911, tức ngày Bác Hồ ra
đi “tìm đường cứu nước”, rồi đến Xô Viết Nghệ Tĩnh đầu những năm 30,
liên tục đến năm 45, biết bao máu xương chiến sĩ cộng sản đã đổ. Còn
muốn cho lập luận của Đinh Từ Thức có lý, thì Đảng Cộng sản phải từ
trên Trời rơi xuống, tiến hành cuộc cách mạng khoảng một tuần (từ
25-8-1945 đến 2-9-1945), không phải chống xâm lược mà chống nhân dân để
giành lấy quyền lực từ tay nhân dân. Mặt khác, theo chứng cớ của Đinh
Từ Thức nêu trên, tôi vẫn có thể nói Đảng Cộng sản giành chính quyền
đúng là từ tay bọn xâm lược, vì Nhật đầu hàng Đồng minh chứ không đầu
hàng Việt Nam, có thế mới có chuyện Đảng lãnh đạo nhân dân khởi nghĩa
phá kho thóc của Nhật, mới có Nam kỳ Khởi nghĩa, có Cách mạng tháng
Tám... Có thể tham khảo thêm giai đoạn này qua một chú thích trong bài
phỏng vấn cụ Hoàng Xuân Hãn của Thụy Khuê: “Đồng bào các tỉnh thi
nhau nổi dậy chống Nhật bắt đầu từ ngày 11.8.1945. Hà Tĩnh đứng dậy
ngày 11, Quảng Ngãi ngày 13. Ngày 16 có tin Nhật đầu hàng Đồng Mnh.
Ngày 17 hàng trăm ngàn đồng bào biểu tình tại Hà Nội. Ngày 19.8.1945
thanh niên và công nhân xông vào Bắc Bộ Phủ. Mặt Trận Việt Minh tuyên
bố thành lập chính quyền lâm thời. Cách Mạng Tháng Tám thành công”.
Còn Đinh Từ Thức nói ta đang vô chính phủ,
quyền lực thuộc về nhân dân,
thì thực tế nhân dân lúc đó đang bận
chết đói chứ sức đâu mà giữ được
quyền lực, và đầu óc đang nghĩ đến miếng ăn thì
tâm trí đâu mà nghĩ đến
chuyện lựa chọn lực lượng nào để giao quyền cho, mà quyền
lực của nền
cộng hòa là khái niệm trừu tượng, không phải
là cục vàng trong túi,
nhân dân muốn chọn ai thì móc ra cho! Nếu
nói cho thật chính xác thì
không thể có loại quyền lực nào thuộc về nhân
dân một cách khơi khơi
như vậy, mà quyền lực đó luôn được thể hiện bởi,
và luôn thuộc về lực
lượng đại diện cho mình. Với một đất nước có lẽ tới 99%
là công nông mà
nông dân là chính, lực lượng Đảng Cộng sản
cũng chính là con em của
nhân dân đó, đi làm cách mạng với
lý lưởng mang lợi ích cho chính những
người thân của mình, vì vậy đã phát
triển nhanh nhất, mạnh nhất, được
nhân dân ủng hộ nhiều nhất, và chính thế mới
giành được thắng lợi. Một
Đảng mà nhân dân chống lại thì làm nổi
chuyện gì! Đến nay, do xuất hiện
những tệ nạn, có những biểu hiện xa rời lý tưởng
vì dân, đã xuất hiện
những hoài nghi trong nhân dân, nhưng nói
chung đa số mọi người muốn
xoá bỏ cái xấu, muốn Đảng đổi mới cho tốt hơn, chứ thực
sự rất ít người
chối bỏ quá khứ, muốn thay đổi chế độ, muốn đòi lại quyền
lực từ tay
Đảng. Tất nhiên, cũng có thể có khoảng 1-2%
dân Việt là nhân dân theo ý
Đinh Từ Thức, gồm một phần lớn những người vượt biên; một
nhóm những
cán bộ, nhân sĩ, văn sĩ bị thất sủng do không đạt
được tham vọng, có
thể là về quyền lực, quyền lợi, cũng có thể chỉ là
sự chứng tỏ cái tôi
của mình; một số trí thức trẻ trong nước và hải
ngoại muốn chế độ thay
đổi theo hình mẫu các nước tiên tiến, có
điều các bạn thường không hiểu
mình đã lấy một hệ quy chiếu khác để đo một hệ quy
chiếu khác, xa rời
hoàn cảnh lịch sử, hiện tại cũng như trình độ xã
hội nước mình, giống
như chuyện một cô gái xấu tưởng mặc trang phục của một
cô gái đẹp thì
mình cũng sẽ xinh đẹp như vậy;... là muốn đòi lại
quyền lực trong tay
Đảng mà thôi. Nhưng với một dúm “chiến sĩ
dân chủ” “ông chẳng bà chuộc”
(xem những tranh luận giữa Nguyễn Minh Cần và Bùi
Tín), cãi chửi nhau
loạn xạ (giữa Nguyễn Thanh Giang và Hoàng Minh
Chính, giữa Hoàng Tiến
và Nguyễn Thanh Giang, giữa Dương Thu Hương và Nguyễn
Thanh Giang...),
khả năng có hạn nhưng tự phụ, kiêu ngạo vô lối (xem
bài “Các Mác- một
tình yêu bao la”)... thử hỏi quyền lực rơi
vào tay mấy người này thì họ
sẽ đưa đất nước ta tới đâu!?
Còn với riêng tôi, khi xã hội và trình độ nhân dân phát triển mọi
mặt đến một cấp độ nào đó, theo xu hướng tiến bộ chung của thế giới,
Đảng và chế độ ta không chỉ “đổi mới” mà còn phải biến đổi cho phù hợp,
kể cả việc có thể đa đảng, đa nguyên và mở rộng dân chủ hơn nữa. Bởi
theo Mác, sự thay đổi không chỉ là thế mà còn đến độ: “...giai cấp
vô sản thông qua con đường cách mạng mà trở thành giai cấp thống trị,
nó dùng bạo lực tiêu diệt những quan hệ sản xuất cũ, thì đồng thời với
việc tiêu diệt những quan hệ sản xuất ấy, nó cũng tiêu diệt luôn cả
những điều kiện tồn tại của sự đối kháng giai cấp, nó tiêu diệt các
giai cấp nói chung và cũng do đấy, tiêu diệt cả sự thống trị của chính
nó với tư cách là một giai cấp” (Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, nxb Chính trị Quốc gia, 1998, tr. 129-130).
Về những vấn đề liên quan đến giai đoạn quá khứ rất nhạy cảm này,
tôi rất thích tham khảo ý của cụ Hoàng Xuân Hãn (trong bài đã dẫn), bởi
cụ là một nhà khoa học, một chứng nhân lịch sử, từng là bộ trưởng Bộ
Giáo dục trong Chính phủ Trần Trọng Kim, từng gặp cả Bảo Đại, Bác Hồ,
Trần Trọng Kim, Ngô Đình Diệm... tức ta có thể tin vào tính có thực
“trăm nghe không bằng một thấy”, tính khách quan, không thiên vị Chủ
nghĩa Cộng sản của cụ:
“Nhưng mà nói cái kết quả tức thì
nước mình bây giờ mà có độc lập,
có thống nhất, thì cái ấy là cái
công của Hồ Chí Minh to lắm. Dẫu là
người ta dùng một chính sách gì, cộng sản
hay quốc gia, thì cái công ấy
sau này đối với người viết sử, người ta xét lại
không khác gì đời Lê
Lợi, mà rồi quân Minh phải về. Lúc ấy đời Lê
Lợi cũng nhiều đám chứ
không phải chỉ mình đám Lam Sơn mà
thôi. Đám Lam Sơn, đám Đông Triều,
những đám lớn đấy. Đám Đông Triều, đám Lam
Sơn, đám Tuyên Quang... bốn
năm đám không có cộng tác direct thế
này mà giành nhau, nhưng mà cũng
là ganh tỵ nhau để giải phóng đất nước. Rồi đám
thuộc Trần, muốn cứu
vớt con cháu nhà Trần mà cũng đánh như Trần
Giản Định, Trần Trùng Quang
gì đấy. Những đám ấy có thể nói với
đám Lam Sơn cũng là trái nhau hết
cả. Nhưng sau này người ta quên. Người ta nhớ đám
Lam Sơn vì chính nhờ
đám Lam Sơn mà đất nước được giải phóng”;
”Một chuyện tôi nghĩ sâu sắc
là Hồ Chí Minh là một người Nghệ, là con
cháu những người về đường Cần
Vương, hồi Cần Vương với ông Phan Đình Phùng, Cao
Thắng... các ông
nghĩa khí rất cao, dân tình ai cũng theo cả”;
“Rồi xẩy ra chuyện 75 thì
dẫu nói thế nào nữa cũng là nước của mình,
độc lập và thống nhất. Cái
công ấy của Việt Minh từ đầu. Đối với một người chỉ có
óc lịch sử
không, sau này phán xét, tôi nghĩ
không thể nghĩ cách khác được đâu”.
Tôi nghĩ về những ý của Đinh Từ Thức nói vậy là đủ, vì những điều
khác đều là hệ quả của vấn đề tôi vừa trình bầy. Riêng ý này của Đinh
Từ Thức: “Năm 1954, chính Hồ và Đảng Cộng sản vận động chia đôi đất
nước để có cơ hội chấn chỉnh hàng ngũ, rồi làm công cụ cho cộng sản
quốc tế thôn tính miền Nam, dưới chiêu bài chống Mỹ để thống nhất đất
nước”,
tôi thấy cũng sai vì ngày 2-9-1945 Bác Hồ
đọc Tuyên ngôn
thành lập nước Việt Nam chứ không phải nước Bắc Việt Nam.
Còn xét quá
trình cách mạng là phải xét toàn thể
cả cái dòng chính, xét mục đích
đặt ra và kết quả đạt được. Chứ lại đi bới móc những tiểu
tiết kiểu
“bới bèo ra bọ”, coi những ứng xử mang tính
chính trị ngoại giao nhất
thời như: “Sau Hội nghị, đại diện của họ là
Phạm Văn Đồng đã tuyên bố với một ký giả:
“Ông thừa biết cũng như tôi, là sẽ không
có bầu cử” là chứng cứ thì không
phải là cách tư duy của nhà tư tưởng, nhà
nghiên cứu...
Dù rằng không phải đảng viên cộng sản, không còn là công chức, thậm
chí nhìn theo kiểu cũ giờ tôi cũng có thể bị coi là một kẻ bóc lột,
nhưng là một người viết, với cách nhìn khoa học, (xin thưa với tác giả
Nguyễn Trung Lương là tôi nói thực chứ không phải làm dáng, vì như tôi
đã nói, tôi không chỉ làm khoa học mà hiện tại gia đình tôi còn phải
sống bằng chính những kết quả nghiên cứu của tôi), hiện tại với tôi chỉ
có tư duy khoa học chứ không còn khái niệm địch ta
(vì nếu vậy vợ tôi sẽ là địch thì
không biết tôi sẽ coi hai đứa con là gì), cũ mới
(bởi cái cũ mà khoa học còn tốt hơn vạn lần
cái mới phi khoa học), khi
nhìn vào lịch sử, đối chứng với tinh thần cũng như những
nguyên lý cơ
bản của chủ nghĩa Mác, tôi kinh hãi nhận ra chỉ với
vài chữ của một
khái niệm thôi, khi người ta thực hiện sai có thể
gây ra cái chết của
nhiều triệu người, ngược lại, tất cả các cuộc cải cách
nếu thực sự vì
công bằng, không vì cái tôi,
không vì sự tham lam, theo đúng tinh thần
nhân đạo của Mác thì sẽ không bao giờ xảy ra
như vậy. Chính vậy tôi đã
viết đôi điều có tính thực tiễn, bài
“Các Mác- một tình yêu bao la”.
Còn thực chất, tôi chưa nói suy nghĩ của
mình một cách toàn diện về chủ
nghĩa Mác. Mà muốn vậy, có lẽ sẽ phải mất rất
nhiều thời gian, mà quan
tâm lớn nhất của tôi là văn chương chứ không
phải triết học; triết học
với tôi chỉ là công cụ để văn chương của tôi
đã và sẽ viết thêm cao sâu
hơn mà thôi.
Nếu nhìn một cách toàn diện về chủ nghĩa Mác, với tôi, không phải
không có những điều băn khoăn, nhất là sự tiên tri về xã hội xã hội chủ
nghĩa và cộng sản chủ nghĩa. Tôi thấy điều này có tính không tưởng,
mang tính đạo giáo nhiều hơn tính khoa học, nó không tương thích với
bản tính con người. Một xã hội tập thể như một guồng máy khổng lồ, ở đó
một nhóm người nghĩ thay cho cả đất nước, một vài người nghĩ thay cho
cả xí nghiệp... rồi ai nấy hồn nhiên lao động quên mình vì tập thể để
rồi được chia lợi nhuận một cách công bằng, từ đó xã hội không còn mâu
thuẫn nữa, sẽ phát triển nhanh hơn... thì trong thực tế đã không thể
diễn ra như vậy. Sự tập thể hóa luôn dẫn đến sự quan liêu, luôn dẫn đến
tình trạng cha chung không ai khóc, người lãnh đạo tập thể khác với các
ông chủ ở chỗ, ông chủ coi tư sở là của nhà mình nên hết sức vì nó, còn nhà lãnh đạo coi công sởlà
nơi mình cai quản một thời gian để kiếm sống và nhiều thứ
khác, nên
nhiều trưòng hợp họ làm việc không vì sự
phát triển mà vì sự củng cố
quyền lực, để cái ghế vững hơn và thời gian ngồi
lâu hơn; sự kế hoạch
hóa cứng nhắc luôn bó buộc sức sáng tạo, sức
sản xuất; trong khi đó
loài người luôn mang trong mình phần
“con”, mỗi người là một thế giới,
ai cũng có cái tôi, khi chia lợi ai cũng muốn
mình được hơn phần mình
có thể nhận và người có quyền luôn có
điều kiện để nhận được nhiều hơn
(tất nhiên trừ những ông thánh)... Như vậy xã
hội cũng không thể đạt
được sự công bằng, và sức sản xuất cũng không
có điều kiện phát triển.
Có lẽ, đó là một trong những nguyên
nhân chủ yếu đã khiến các nước xã
hội chủ nghĩa tan vỡ và thất thế. Một xã hội phù
hợp với quy luật phát
triển là xã hội, theo tôi, tôn trọng cũng như
giải phóng được sức sống
của mọi người trong khuôn khổ một pháp luật; một xã
hội đảm bảo được
điều kiện sống để tư duy tự do vùng vẫy và đạo đức
có đất để sinh sống;
một xã hội dung hòa được giữa cái vĩ mô
và cái vi mô, giữa cái chung và
cái riêng, giữa ổn định và phát triển; một
xã hội có sự điều tiết, phân
phối lại, có chính sách xã hội sao
đó để những người kém may mắn nhất
cũng có điều kiện tồn tại. Khi đó ta buộc phải có
cách nhìn khác, hiểu
khác về một số khái niệm của chủ nghĩa Mác. Khi
con người sinh ra luôn
có khả năng khác nhau, khả năng kiếm sống khác
nhau, nên sẽ có ông chủ
và người làm thuê, tất sẽ có sự chênh
lệch về thu nhập, về giàu nghèo;
đó không phải là sự bất công mà là sự khác biệt tất yếu, cũng như sự công bằng xã hội không phải là sự cào bằng.
Riêng những quy luật phát triển của chủ nghĩa Mác thể hiện trong lý
luận về duy vật biện chứng theo tôi sẽ mãi mãi còn giá trị...
Khai bút đầu năm Bính Tuất
TPHCM 9-2-2006
© 2006 talawas