Mai Thái Lĩnh
Huyền thoại về một
nhà nước tự tiêu vong
Bàn về lý thuyết Nhà nước của Karl Marx
8 kì
Chương III
Cuộc đấu tranh giữa những người xã hội chủ nghĩa
Phong trào công nhân ở các
nước tiên tiến, kể từ buổi ban đầu cho đến nay,
luôn luôn mang tính chất đa
nguyên về mặt tư tưởng;
điều này được thể hiện ngay trong cuộc đấu tranh nội bộ của
Hội liên
hiệp công nhân quốc tế (tức Quốc tế I).
Chính Engels đã phải thừa nhận
như sau:
Trong Hội liên hiệp của chúng ta, có
nhiều loại người khác nhau –
những người cộng sản, những người thuộc phái Proudhon, những
người
thuộc phái Công liên, những người hoạt
động cho phong trào hợp tác hoá,
những người thuộc phái Ba-cu-nin,v.v…,
và ngay cả trong Tổng hội đồng
của chúng ta, cũng có những người có
quan điểm khá khác nhau. (Engels
gửi Carlo Cafiero, ngày 1–3.7.1871, Sđd, T.
IV, tr. 552-553)
Chính vì vậy, Marx và Engels
luôn luôn phải đấu tranh để bảo vệ
quan điểm của mình, chống lại ảnh hưởng của các
trường phái tư tuởng
khác, nhất là phái Lassalle
và phái vô chính phủ.
Ferdinand Lassalle (1825-1864) là
một lãnh tụ nổi
tiếng của phong trào công nhân Đức,
đã từng liên kết hoạt động với Marx
và Engels trong thời gian Cách mạng 1848, nhưng
về sau giữa họ có sự
khác biệt về một số quan điểm. Lassalle tin vào
sự tác động của một quy
luật kinh tế mà ông gọi là “quy
luật sắt của tiền công”; quy
luật này đã ngăn cản công
nhân cải thiện những điều kiện sống của họ
trong xã hội tư bản. Để đảm bảo cho công
nhân được hưởng “đầy đủ những
sản phẩm lao động của họ”, ông chủ trương
thành lập các hiệp hội hoặc
hợp tác xã của những người sản xuất với sự trợ
giúp và giám sát của
nhà
nước [1]
.
Về vấn đề nhà nước và dân chủ, Lassalle
nhấn mạnh rằng chức năng
thật sự của nhà nước là
“giúp cho sự phát triển của
loài người tiến đến
tự do”. Ông cho rằng một nhà nước như
thế chỉ có thể đạt được bằng một
sự cai trị của đa số, dựa trên quyền đầu phiếu phổ
thông và bình đẳng.
Sự lớn mạnh của hệ thống công xưởng đã
làm cho công nhân trở thành
một
tiềm lực mạnh nhất ở Đức, do đó bước tiếp theo là
làm cho họ trở thành
lực lượng hợp pháp mạnh nhất bằng cách thiết lập
một nền dân chủ hoàn
chỉnh. Ông cho rằng cuộc cách mạng trong tương lai
sẽ đưa giai cấp công
nhân lên nắm chính quyền, và
điều đó sẽ là thắng lợi của toàn
nhân loại
[2]
.
Là người sáng lập Hội công
nhân toàn Đức (1863) – tổ chức
chính trị
đầu tiên của giai cấp công nhân Đức, đồng
thời cũng là lãnh tụ hàng đầu
của phong trào đấu tranh cho dân chủ ở Đức,
Lassalle có uy tín rất lớn
trong giai cấp công nhân Đức. Mặc dù
Lassalle mất sớm (lúc mới 39
tuổi), nhưng phái Lassalle vẫn là một lực lượng
rất mạnh trong phong
trào công nhân Đức. Năm 1875, tại Đại
hội Gotha, Đảng Công nhân xã hội
chủ nghĩa Đức được thành lập trên cơ sở hợp nhất
hai phái Lassalle và
mác-xít.
Tháng 5 năm 1875, Marx viết bản “Những nhận
xét bên lề về bản cương
lĩnh của Đảng công nhân Đức” gửi
riêng cho một số lãnh tụ của đảng ở
Đức. Bài viết này, được Engels công bố
lần đầu tiên vào năm 1891 với
nhan đề Phê phán cương lĩnh
Gotha, đã vạch rõ sự
khác biệt về quan điểm giữa Marx và
phái Lassalle. Về vấn đề nhà nước và
dân chủ, Marx phê phán khái
niệm “Nhà nước tự do”
mà phái Lasssalle đưa vào cương lĩnh:
Nhà nước tự do
là cái gì ?
Làm cho nhà nước được "tự do", - đó
quyết không phải là mục đích
của những người công nhân đã
thoát khỏi cái cách suy nghĩ hạn chế
của
những thần dân. Ở Đế chế Đức, "nhà nước" hầu như
cũng "tự do" như ở
Nga. Tự do là ở chỗ biến nhà nước, cơ quan tối
cao của xã hội, thành
một cơ quan hoàn toàn phụ thuộc vào
xã hội, và ngay cả ngày nay nữa,
các hình thức nhà nước tự do hay
không tự do là tuỳ ở chỗ trong những
hình thức ấy, "sự tự do của nhà nước" bị hạn chế
nhiều hay ít. (Sđd, T. IV, tr. 490)
Biến nhà nước “thành một cơ quan
hoàn toàn phụ thuộc vào xã
hội”,
đó là một ý tưởng thật sự hấp dẫn.
Nhưng vấn đề là biến đổi bằng cách
nào? Sự khác nhau là ở chỗ: như Marx
đã phê phán, phái Lassalle
coi nhà
nước là một thực tại độc lập, tách rời khỏi
xã hội (hiểu theo nghĩa là
độc lập với các quan hệ kinh tế):
Đảng công nhân Đức - ít nhất cũng
là khi nó lấy bản cương lĩnh ấy
làm cương lĩnh của mình - chứng tỏ rằng
nó chưa thấm nhuần những tư
tưởng xã hội chủ nghĩa; đáng lẽ phải coi
xã hội hiện tồn (và điều này
cũng áp dụng cho mọi xã hội tương lai)
là cơ sở của nhà
nước
hiện tồn (hoặc coi xã hội tương lai là cơ sở của
nhà nước tương lai),
thì trái lại, Đảng công nhân
Đức lại coi nhà nước là một thực tại độc
lập, có những ”cơ sở tinh thần, đạo đức
và tự do" riêng của nó. (Sđd,
T. IV, tr. 490)
Phái Lassalle muốn dựa vào nhà nước
hiện tồn để xây dựng chủ nghĩa
xã hội, và tìm cách biến
nhà nước đó thành nhà nước
thật sự dân chủ.
Còn Marx lại chủ trương nhà nước hoàn
toàn phụ thuộc vào xã hội, nghĩa
là phụ thuộc vào các quan hệ kinh tế;
do đó không thể dựa vào nhà
nước
cũ, mà phải đập bỏ bộ máy nhà nước ấy
đi, sau đó thiết lập chuyên chính
vô sản (một nền độc tài tạm thời của giai cấp
vô sản) để rồi cuối cùng
tiến tới chỗ hoà tan nhà nước vào
xã hội (như Công xã Paris đã
làm). Do
đó, Marx phê phán bản cương lĩnh
đã “không đả động gì đến vấn
đề chuyên
chính vô sản, cũng chẳng nói
gì đến chế độ nhà nước tương lai trong
xã
hội cộng sản chủ nghĩa”. (Sđd, T. IV, tr.
491)
Nhận xét chung về bản cương lĩnh, Marx viết như sau:
Vả lại, mặc dầu tất cả những lời lẽ dân chủ rất kêu
của nó, toàn bộ
cương lĩnh từ đầu chí cuối đều nhiễm phải cái
bệnh của phái Lassalle là
lòng tin của thần dân vào
nhà nước, hoặc là - điều này cũng
chẳng có gì
tốt hơn - tin vào phép mầu dân chủ, hay
nói cho đúng hơn, đó là sự
thoả
hiệp giữa hai lòng tin ấy vào phép
mầu, cả hai loại đều xa lạ như nhau
với chủ nghĩa xã hội. (Sđd, T. IV, tr.
495)
Điểm bất đồng căn bản là: phái Lassalle đấu tranh
để biến đổi nhà
nước hiện hành thành một chế độ dân chủ
thật sự – do giai cấp công nhân
lãnh đạo, còn Marx thì không
tin vào nhà nước hiện hành
(mà ông cho là
một sản phẩm mang tính chất tư sản). Đối với Marx, chỉ
có tự do thật sự
trong một xã hội cộng sản, nghĩa là một
xã hội không còn có
nhà nước
nữa; còn đối với nhà nước hiện tồn, chỉ
có mỗi một cách là đập tan
nó
để xây dựng chuyên chính vô
sản, tiến tới xã hội cộng sản không còn
có
nhà nước.
Đối với trường phái vô chính phủ,
có hai nhân vật nổi bật: Pierre
- Joseph Proudhon (1809-1865) và
Mikhail A. Bakunin (1814-1876).
Proudhon là một nhà tư tưởng xã hội
chủ nghĩa người Pháp thường được coi là cha đẻ
của chủ nghĩa vô chính phủ triết học
(philosophic anarchism, anarchisme philosophique). Trong cuốn
Qu’est-ce que la propriété?
(Sở hữu là gì?), Proudhon lên
án sự lạm dụng của quyền lực kinh tế và
chế độ sở hữu tư nhân tập trung. Những lý thuyết
cực đoan của ông làm
cho ông nổi tiếng là một nhà tư tưởng
vô chính phủ. Proudhon phản đối
quan điểm của các nhà xã hội chủ nghĩa
không tưởng người Pháp như
Fourier, Saint-Simon,… và cho rằng xã
hội không thể được cải biến theo
một kế hoạch được dự kiến trước. Ông hình dung một
xã hội trong đó bản
chất đạo đức và ý thức trách nhiệm về
luân lý được phát triển cao đến
mức không cần đến chính quyền để điều
hoà và bảo vệ xã hội nữa.
Proudhon phản đối việc sử dụng bạo lực để áp đặt bất cứ hệ
thống nào
cho nhân dân. Trong trạng thái
lý tưởng của xã hội, mà ông
gọi là “trật tự trong trạng
thái vô chính phủ” (order in
anarchy),
nhân dân sẽ hành động một
cách đạo đức và có trách
nhiệm theo ý chí tự
do của họ. Ông chủ trương loại bỏ quyền uy ra khỏi
xã hội, để thiết lập
một thứ chủ nghĩa cá nhân cực đoan. Nói
chung, phái Proudhon từ khước
mọi phương thức bạo động và hy vọng vào một sự
tiến hoá tiệm tiến của
xã hội để đạt tới một tổ chức vô chính
phủ [3]
.
Mặc dù đã từng tuyên bố “Sở
hữu là của ăn cắp”, Proudhon không
lên
án chế độ tư hữu nói chung mà chỉ
lên án thứ chế độ tư hữu trong đó
người này bóc lột lao động của người
khác. Ông bênh vực chế độ tư hữu
nhỏ của người nông dân và người thợ thủ
công mà ông coi là điều kiện
cần thiết để bảo vệ tự do, và phê phán
chủ nghĩa cộng sản (kể cả không
tưởng lẫn mác-xít) là đã
huỷ diệt tự do khi tước quyền kiểm soát của cá
nhân đối với các tư liệu sản xuất [4]
. Do đó, trong nhiều tác phẩm, Marx phê
phán gay gắt tư tưởng của
Proudhon, coi đó là trường phái
xã hội chủ nghĩa của giai cấp tiểu tư
sản mang tính chất phản động vì đi ngược lại
đà tiến hoá của nhân loại.
Trong “Sự khốn cùng của triết học”, Marx
đánh giá Proudhon như sau:
Ông ta muốn là sự tổng hợp, kỳ thực ông
ta chỉ là một sai lầm kép mà
thôi.
Ông ta muốn nhà khoa học bay lượn trên
cả những nhà tư sản lẫn
những người vô sản; kỳ thực, ông ta chỉ
là người tiểu tư sản, luôn luôn
ngả nghiêng giữa Tư bản và Lao động, giữa khoa
kinh tế chính trị và chủ
nghĩa cộng sản mà thôi. (Sđd, T.
I, tr. 400-401)
Sau khi Proudhon mất, trường phái vô
chính phủ đứng đầu là Bakunin
đã trở thành mối đe doạ chính đối với
chủ nghĩa Marx. Khác với Proudhon
- một nhà triết học vô chính phủ,
Bakunin thiên về những hành động có
tổ chức. Từ đầu thập niên 1860, sau khi thoát khỏi
cảnh lưu đày ở
Siberia, Bakunin đã truyền bá quan điểm của
ông khắp châu Âu. Năm 1868,
ông gia nhập Quốc tế I. Tuy nhiên, không
bao lâu sau đó, ông lại kết
nạp những người theo ông vào một tổ chức nửa -
bí mật tên là Liên minh
Dân chủ - Xã hội mà ông quan
niệm như một tổ chức tiền phong cách mạng
nằm ngay trong lòng Quốc tế. Do chỗ một tổ chức
không thể mang trong
lòng nó hai nhân vật có thế
lực và xung khắc nhau; cho nên tại Đại hội
Hague (La Haye) năm 1872, Marx đã tìm
cách trục xuất được Bakunin và
phái của ông ra khỏi Quốc tế. Sự bất
hoà giữa hai phái vô chính
phủ và
mác-xít đã gây chia rẽ
và làm suy yếu phong trào
cách mạng ở châu Âu
trong nhiều năm. Là một nhà cách mạng
không khoan nhượng chẳng kém gì
Marx, Bakunin không ngừng tuyên truyền việc lật đổ
trật tự hiện hành
bằng những phương tiện bạo lực; nhưng ông bác bỏ
mọi sự kiểm soát và
tập quyền về mặt chính trị, mọi sự phục tùng đối
với quyền uy (trong
khi vẫn duy trì một cách không
ý thức quyền uy của chính bản thân
ông
trong phong trào như một trường hợp ngoại lệ). Ông
tố cáo cái mà ông
coi là những phương pháp tư duy và tổ
chức đặc trưng của người Đức, và
để đối lập lại, ông đề cao tinh thần nổi loạn bẩm sinh
mà ông tìm thấy
biểu hiện trong người nông dân Nga. Bakunin
không có những tác phẩm
trình bày học thuyết của ông một
cách có hệ thống, nhưng ảnh hưởng của
ông đã tạo ra những nhóm ủng hộ rải
rác ở nhiều nước: Anh, Thuỵ Sĩ, Đức
và nhất là Ý và
Tây Ban Nha [5]
.
Mặc dù tự nhận là môn đệ của Proudhon,
Bakunin đã sửa đổi một số
điểm quan trọng về mặt lý thuyết. Trước hết, ông
cho rằng quyền sở hữu
theo quan niệm của Proudhon là không thể thực hiện
được, và tán thành
chủ trương tập thể hoá các tư liệu sản xuất. Mặt
khác, trong khi
Proudhon tin rằng có thể xây dựng các
hiệp hội tương trợ của những
người sản xuất ngay trong xã hội hiện tồn để từng bước thay
thế dần cho
chế độ sở hữu cũ, thì Bakunin nghiêng về
hành động bằng bạo lực. Ông
tuyên bố rằng “niềm đam mê phá
hoại cũng là một sự thúc đẩy mang tính
sáng tạo”. Ông từ chối giải
pháp cải cách tiệm tiến và cho rằng
cần
thiết phải có một cuộc cách mạng bằng bạo lực để
xoá bỏ mọi thiết chế
hiện tồn nhằm tạo ra một xã hội mới - tự do và
hoà bình.
Mặc dù tư tưởng của Proudhon (dựa trên chủ
nghĩa cá nhân và
nguyên tắc bất bạo động) vẫn
còn tồn tại trong những trào lưu ngoại vi của chủ
nghĩa vô chính phủ, chính tư tưởng của
Bakunin (mà đặc trưng là chủ nghĩa tập
thể và cách mạng bằng bạo lực)
mới là xu hướng thống trị trong phong trào
này kể từ thời Quốc tế I cho
đến khi bị suy sụp vào cuối cuộc nội chiến ở Tây
Ban Nha (năm 1939).
Cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX, nhiều nhà vô
chính phủ đã coi những
hành động khủng bố như những biện pháp cần thiết
để đạt được các mục
tiêu cách mạng. Nhiều chính
khách nổi tiếng trên thế giới đã trở
thành
mục tiêu ám sát của họ. [6]
Nhận xét về Bakunin, Engels cho rằng Bakunin
“có học thuyết riêng
của mình,một sự trộn lẫn chủ nghĩa cộng sản với chủ nghĩa
Proudhon”
(Engels gửi Carlo Carfiero ngày 1-3.7.1871, Sđd, T.
IV, tr. 551). Về nhà nước, Engels nêu
rõ sự khác biệt căn bản giữa quan điểm
mác-xít và quan điểm vô
chính phủ như sau:
Trong khi quảng đại quần chúng công nhân
dân chủ - xã hội nhất trí
với quan điểm của chúng ta cho rằng chính quyền
nhà nước không phải là
cái gì khác mà
là một tổ chức do các giai cấp thống trị - địa
chủ và
nhà tư bản - tạo ra để bảo vệ các đặc quyền
xã hội của chúng thì
Ba-cu-nin khẳng định rằng nhà nước
đã tạo ra tư bản và nhà tư bản
có được tư bản chỉ là nhờ ân
huệ của nhà nước.
Do đó, vì nhà nước là tai
hoạ chính nên trước hết phải thủ tiêu
nó, rồi
sau đó chủ nghĩa tư bản sẽ tự tiêu vong.
Còn chúng ta, trái lại,
chúng
ta nói: Hãy xoá bỏ tư bản,
hãy xoá bỏ sự tập trung tất cả tư liệu sản
xuất trong tay một số ít người thì nhà
nước sẽ tự tiêu vong. (Engels
gửi Theodor Cuno, 24.1.1872, Sđd, T. IV, tr.
563-564)
Nói cách khác, phái
vô chính phủ chủ trương xoá bỏ ngay
nhà nước để
đạt tới tự do tuyệt đối, và sau đó chủ nghĩa tư
bản tự khắc sẽ tự tiêu
vong; còn Marx và Engels lại cho rằng trước mắt
phải đập tan nhà nước
tư sản, thiết lập nhà nước chuyên chính
vô sản để làm cách mạng vô
sản,
rồi khi chủ nghĩa cộng sản đã được thiết lập thì
nhà nước sẽ “tự tiêu
vong”.
Phái Bakunin tỏ ra nguy hiểm đối với chủ nghĩa Marx, bởi
vì những
sách lược của nó đe doạ làm tan
rã tổ chức của Quốc tế I. Cũng trong lá
thư nói trên, Engels viết:
Nhưng vì Ba-cu-nin cho nhà nước là tai
hoạ chủ yếu, nên phải tránh
mọi hành động có thể duy trì sự tồn
tại của nhà nước, nghĩa là của bất
cứ nhà nước nào, dù là
nhà nước cộng hoà, quân chủ hay một
nhà nước nào
khác. Do đó, tuyệt đối không
được tham gia bất cứ một hoạt động chính trị nào.
Thực
hiện một hoạt động chính trị, đặc biệt là tham
gia bầu cử, như vậy là
vi phạm nguyên tắc đó. Công việc phải
làm là tiến hành công
tác tuyên
truyền, nguyền rủa nhà nước, xây dựng tổ chức,
và cuối cùng, khi đã
tranh thủ được tất cả công nhân, tức là
tranh thủ được đa số, thì sẽ
xoá bỏ được tất cả các thiết chế nhà
nước, sẽ xoá bỏ được nhà nước, và
tổ chức của Quốc tế sẽ thay thế nó. Hành động vĩ
đại đó - hành động mở
màn cho một kỷ nguyên hạnh phúc
ngàn năm - được gọi là sự thanh
toán về mặt xã hội.
(…) Vì theo Ba-cu-nin, Quốc tế được
thành lập không phải để đấu tranh
chính trị mà để thay thế ngay lập tức tổ chức
nhà nước cũ sau khi tiến
hành cuộc thanh toán về mặt xã hội,
nên Quốc tế phải hết sức gần với
quan niệm của Ba-cu-nin về xã hội tương lai. Trong
xã hội này, trước
hết là sẽ không có quyền uy
nào cả, vì quyền uy = nhà nước = tai
hoạ tuyệt đối. (Sđd, T. IV, tr. 564-565)
Bác bỏ quyền uy có nghĩa là
bác bỏ cả quyền uy của Tổng hội đồng,
trước hết là nhắm vào Marx và Engels.
Vì vậy, vào năm 1873, Marx đã
viết bài “Chủ nghĩa thờ ơ chính
trị” và Engels viết bài
“Bàn về quyền
uy” đăng trong văn tập Almanacco Republicano
của những người xã hội chủ nghĩa Ý, đả
kích mạnh mẽ tư tuởng của Bakunin và của cả
Proudhon.
Cũng chính trong quá trình đấu tranh
về tư tưởng với các phái
Lassalle và vô chính phủ, Marx
và Engels đã làm rõ
thêm một số khái
niệm mà hai ông đã nêu ra
trước đây.
Trong Phê phán cương lĩnh Gotha,
Marx xác định là giữa xã hội tư bản
và xã hội cộng sản, có một thời kỳ
quá độ; thích ứng với thời kỳ ấy là “nền
chuyên chính cách mạng của giai cấp
vô sản”. Nhưng
khi nói về chế độ cộng sản chủ nghĩa trong tương lai, Marx
cũng không
xác định rõ chế độ nhà nước sẽ biến
đổi như thế nào. Ông viết:
Tuy thế, mặc dầu có vô vàn
hình thức khác nhau, nhưng những nhà
nước khác nhau trong những nước văn minh khác
nhau đều có một điểm
chung là được xây dựng trên miếng đất
của xã hội tư sản hiện đại, chỉ
có điều là phát triển ít
hay nhiều theo phương thức tư bản chủ nghĩa.
Vì vậy, những nhà nước ấy cũng đều có
chung một số tính chất căn bản.
(…) Một vấn đề nảy ra là: chế độ nhà
nước sẽ biến đổi như thế nào trong
một xã hội cộng sản chủ nghĩa? Nói một
cách khác, lúc bấy giờ sẽ
còn
lại những chức năng xã hội nào giống như những
chức năng hiện nay của
nhà nước? Chỉ có thể giải đáp
câu hỏi đó một cách khoa học
mà thôi, và
dù có ghép từ nhân
dân với từ nhà nước đến một nghìn lần
thì người ta
cũng không làm cho vấn đề nhích
thêm được một chút nào. (Sđd, T.
IV, tr. 490-491)
Ở đây, có hai vấn đề được đặt ra. Vấn đề thứ nhất:
Nhà nước biến mất như thế nào?
Khi Nhà nước biến mất thì những chức năng
nào của Nhà nước sẽ mất theo, và những
chức năng nào sẽ còn lại? Vấn đề thứ hai: trong
giai đoạn quá độ, chuyên chính
vô sản có còn là
Nhà nước hay không, và nó
khác với các Nhà nước cũ trước
đây như thế nào?
Engels đã tìm cách giải đáp
hai câu hỏi đó. Trong khi tranh luận
với phái vô chính phủ, ông
nhấn mạnh rằng Nhà nước không thể bị
xoá bỏ
theo ý muốn chủ quan của con người, nó chỉ
có thể tự tiêu vong. Nhưng
thế nào là Nhà nước tự tiêu
vong? Engels giải thích trong tác phẩm Chống
Dühring (1878) như sau:
Khi nhà nước, cuối cùng, thật sự trở
thành đại biểu của toàn thể xã
hội thì bản thân nó sẽ trở
thành thừa. Một khi không còn giai cấp
xã
hội nào cần phải duy trì trong vòng
áp bức nữa, một khi mà cùng với sự
thống trị giai cấp và sự đấu tranh để sinh tồn xây
dựng trên tình trạng
vô chính phủ từ trước tới nay trong sản xuất,
những xung đột và những
sự quá lạm nẩy sinh từ tình hình
đó cũng đều bị loại trừ, thì lúc
đó sẽ
không còn có gì để
đàn áp nữa, lúc đó một lực
lượng đặc biệt để đàn áp,
tức là nhà nước, cũng sẽ không
còn cần thiết nữa. Hành động đầu tiên,
qua đó nhà nước thật sự thể hiện ra là
đại biểu của toàn thể xã hội -
chiếm lấy các tư liệu sản xuất nhân danh
xã hội - cũng đồng thời là
hành động độc lập cuối cùng của nó với
tư cách là nhà nước. Sự can
thiệp của chính quyền nhà nước vào
các quan hệ xã hội sẽ hoá ra thừa
trong hết lĩnh vực này đến lĩnh vực khác
và tự đình chỉ. Việc cai quản
người sẽ nhường chỗ cho việc quản lý vật và chỉ
đạo quá trình sản xuất.
Nhà nước không "bị xoá bỏ", nó
tự tiêu vong. (Sđd , T. V , tr.
396-397)
Như vậy, “việc quản lý người”
bằng nhà nước sẽ nhường chỗ cho “việc
quản lý vật và chỉ đạo quá
trình sản xuất” bằng cái tổ
chức mà Marx đã từng gọi là liên
hiệp.
Chúng ta có thể hiểu rằng khi Nhà nước
mất đi thì những chức năng quản
lý về chính trị cũng mất đi, và trong
xã hội cộng sản, chỉ còn lại
những chức năng quản lý về kinh tế. Engels cũng cho biết:
ý tưởng thay
quản lý người bằng quản lý vật này bắt
nguồn từ tư tưởng của
Saint-Simon:
Năm 1816, Saint-Simon tuyên bố rằng chính trị chỉ
là khoa học về
sản xuất và đã báo trước rằng
chính trị sẽ bị kinh tế hoàn toàn nuốt
hết. Nếu ở đây nhận thức cho rằng tình
hình kinh tế là cơ sở của các
thiết chế chính trị chỉ mới bộc lộ ra dưới hình
thức mầm mống, thì trái
lại, tư tưởng cho rằng việc quản lý người về
chính trị phải biến thành
việc quản lý vật và thành việc chỉ đạo
quá trình sản xuất, nghĩa là tư
tưởng ‘xoá bỏ nhà nước’
mà gần đây người ta đã làm
ầm ĩ rất nhiều,- tư
tưởng ấy đã được nêu lên một
cách hoàn toàn rõ rệt. (Sđd,
T. V, tr. 365)
Về vấn đề thứ hai, năm 1875, khi phê phán
khái niệm“nhà nước
nhân dân tự do” của
phái Lassalle, Engels đã viết như sau:
Nhà nước nhân dân tự do đã
trở thành một nhà nước tự do. Đứng về
mặt ngữ pháp của từ ngữ ấy mà xét
thì một nhà nước tự do là một
nhà
nước được tự do đối với các công dân của
mình, tức là một nhà nước
có
một chính phủ độc tài. Có lẽ
nên bỏ hẳn tất cả những câu ba hoa như vậy
về nhà nước đi, nhất là sau Công
xã; Công xã không
còn là một nhà nước
theo nghĩa đen của từ này nữa. Bọn vô
chính phủ chủ nghĩa đã làm chối
óc chúng ta khá nhiều về mấy tiếng nhà
nước nhân dân, mặc dầu
quyển sách của Mác viết chống Proudhon rồi đến
cuốn "Tuyên ngôn của
Đảng cộng sản" cũng đều đã nói hết sức
rõ là với sự thiết lập chế độ xã
hội chủ nghĩa, nhà nước sẽ tự tiêu vong
và biến đi. Vì nhà nước,
xét
cho cùng, chỉ là một thiết chế tạm thời
mà người ta phải dùng đến trong
đấu tranh, trong cách mạng, để đàn áp
kẻ địch của mình bằng bạo lực,
cho nên nói đến một nhà nước
nhân dân tự do là hoàn
toàn vô nghĩa:
chừng nào mà giai cấp vô sản
còn cần đến nhà nước
thì như thế,
tuyệt nhiên không phải là vì
tự do, mà là vì để trấn áp
kẻ địch của
mình. Và ngày nào
có thể nói đến tự do thì
nhà nước sẽ không còn tồn
tại với tư cách là nhà nước nữa.
Vì vậy, chúng tôi đề nghị rằng bất cứ
ở đâu cũng nên thay từ ’nhà
nước’ bằng từ "Gemeinwesen" (công xã)
là
một tiếng Đức cổ rất đắt, tương đương với từ Commune (công
xã) trong
tiếng Pháp. (Engels gửi August Bebel, 18-28.3.1875;
Sđd, T. IV, tr. 585)
Như vậy, chuyên chính vô sản vẫn
còn là nhà nước, bởi
vì như
trên đã nói: giai cấp vô sản
thiết lập nền chuyên chính vô sản chủ
yếu
không phải vì tự do, mà vì
để trấn áp kẻ địch của mình bằng bạo lực.
Nhưng chuyên chính vô sản không
còn là nhà nước đúng nghĩa
nữa,
bởi vì nó là nhà nước đang
tự tiêu vong. Năm 1871, Marx viết: “Công
xã
đã cung cấp cho nền cộng hoà cái cơ sở
của những thiết chế thật sự dân
chủ” (Sđd, T. IV, tr. 97). Hai mươi năm
sau (1891), Engels đã
xác định chuyên chính vô sản
(mà hình mẫu là Công
xã Paris) là “một
chính quyền nhà nước mới, thật sự dân
chủ” (“Lời mở đầu viết cho lần
xuất bản thứ ba bằng tiếng Đức tác phẩm ‘Nội chiến
ở Pháp’”; Sđd, T. VI,
tr. 482)
Mặc dù là nhà nước mới,
chuyên chính vô sản vẫn còn
là nhà nước; do đó, Engels cảnh
cáo người cách mạng đừng sa vào căn
bệnh mê tín nhà nước
– một căn bệnh mà ông cho là
rất phổ biến ở người Đức. Ông viết tiếp:
Nhưng thực ra, nhà nước chẳng qua chỉ là một bộ
máy của một giai
cấp này dùng để trấn áp một giai cấp
khác, điều đó, trong chế độ cộng
hoà dân chủ cũng hoàn toàn
giống như trong chế độ quân chủ. Và trong
trường hợp tốt nhất, người ta cũng có thể nói
được rằng nhà nước cũng
chỉ là một tai hoạ mà giai cấp vô sản
chiến thắng trong cuộc đấu tranh
giành quyền thống trị giai cấp đã được thừa
hưởng; cũng giống như Công
xã trước kia, giai cấp vô sản chiến thắng sẽ
không thể không tức khắc
tước bỏ những mặt nguy hại nhất của tai hoạ đó, cho đến khi
một thế hệ
lớn lên trong những điều kiện xã hội mới
và tự do, có đủ sức vứt bỏ
được tất cả cái thứ đồ cũ là nhà nước
kia đi. (Sđd, T. VI, tr. 482)
Làm thế nào để “tước bỏ những mặt nguy
hại nhất của tai hoạ đó”?
Cũng như Marx, Engels hoàn toàn tin
vào kinh nghiệm của Công xã Paris:
Để tránh cái tình trạng
không thể tránh khỏi được ấy trong tất cả
các nhà nước tồn tại từ trước đến nay, - tức
là tình trạng nhà nước
nguyên là tôi tớ của xã hội,
sau biến thành chủ nhân của xã hội, -
Công
xã đã dùng hai biện pháp
hết sức công hiệu. Thứ nhất là Công
xã đã đưa
tất cả những chức vị hành chính, tư
pháp, giáo dục quốc dân ra để
thông
qua đầu phiếu phổ thông mà chọn người đảm nhiệm,
và đồng thời đã thi
hành quyền bãi miễn những người được bầu ấy bất
cứ lúc nào, căn cứ vào
quyết nghị của những cử tri đã bầu ra họ. Và thứ
hai là nó trả cho tất
cả các công vụ, từ việc thấp nhất đến việc cao
nhất, một số tiền lương
bằng lương của các công nhân
khác. Nói chung, số lương cao nhất mà
Công
xã đã trả là 6000 phrăng. Như vậy
là đã tạo ra được một trở ngại chắc
chắn để phòng ngừa tình trạng chạy chọt chức vị
và chủ nghĩa thăng quan
phát tài, và ngoài ra
Công xã còn thi hành
thêm chế độ uỷ nhiệm thư mà
các đại biểu được bầu vào các cơ quan
đại diện tuyệt đối phải tuân
theo. (Sđd, T. VI, tr. 481)
Quan niệm cho rằng chuyên chính vô sản
là một nhà nước mới, thật sự
dân chủ
của Engels chính là gợi ý để sau
này, Lenin nêu ra quan niệm về một nền
dân chủ vô sản, một thứ nhà nước kiểu
mới, dân chủ gấp triệu lần so với
nhà nước dân chủ tư sản.
Chương IV
Những đóng góp của F. Engels
Mặc dù quan niệm về nhà nước của Marx
đã dần dần được hình thành
trên những nét lớn; nhưng cho đến khi mất,
ông vẫn không dành riêng một
tác phẩm nào để hệ thống hoá
toàn bộ quan niệm ấy. Do coi trọng kinh tế
hơn chính trị, từ đầu thập niên 50 của thế kỷ XIX,
Marx dành phần lớn
thời gian để nghiên cứu lĩnh vực kinh tế, nhất là
để hoàn thành bộ Tư bản.
Chính Engels mới là người đã
góp công hoàn chỉnh lý
thuyết về nhà nước của Marx.
Sau khi Marx mất, Engels đã bắt tay vào
nghiên cứu xã hội thời cổ đại. Dựa trên
tác phẩm Ancient Society (Xã
hội thời cổ,
xuất bản năm 1877) của nhà nhân chủng học người Mỹ
Lewis H. Morgan,
viết về các bộ lạc của thổ dân ở Bắc Mỹ; đồng thời
dựa trên bản tóm tắt
chi tiết của Marx về tác phẩm này, Engels
đã hoàn thành cuốn Nguồn
gốc của gia đình, của sở hữu tư nhân và
của nhà nước
(xuất bản lần đầu năm 1884). Ông coi đây
là một việc làm nhằm thực hiện
di chúc của Marx. Trong tác phẩm này,
Engels đã trình bày khá tỉ
mỉ về
sự ra đời, phát triển và tiêu vong của
nhà nước trong lịch sử.
Về nguồn gốc của nhà nước trong lịch sử, Engels
đã trình bày sự
hình thành của ba nhà nước
tiêu biểu ở châu Âu: nhà nước
Athena ở Hy
Lạp thời cổ đại, nhà nước La Mã thời cổ đại,
và nhà nước của người
German (Germain) cuối thời cổ đại. Qua đó, ông
chứng minh rằng cả ba
nhà nước này đều nảy sinh từ sự tan rã
của chế độ công xã nguyên thuỷ,
nói chính xác hơn là từ sự
tan rã của chế độ thị tộc.
Mặc dù chế độ thị tộc thời nguyên thuỷ
không còn tồn tại, nhưng
người ta vẫn có thể tìm hiểu thông qua
những tàn tích của chế độ thị
tộc còn sót lại. Trong tác phẩm của
mình, Morgan trình bày khá
tỉ mỉ về
chế độ thị tộc của người Iroquois ở Bắc Mỹ - nhất là
các thị tộc thuộc
bộ lạc Seneca ở tiểu bang New York (Hoa Kỳ) mà ông
đã từng tiếp xúc
trực tiếp để quan sát, nghiên cứu qua nhiều năm.
Dưới chế độ công xã nguyên thuỷ, thị
tộc (gens, clan) là đơn vị cơ bản của
xã hội. Cơ quan quyền lực tối cao của thị tộc là Hội
đồng thị tộc,
tức là đại hội dân chủ gồm tất cả các
thành viên của bộ lạc, kể cả nam
và nữ, tất cả đều có quyền bầu cử như nhau. Hội
đồng bầu ra và bãi miễn
tù truởng và thủ lĩnh quân sự; nhưng
quyền lực của tù trưởng chỉ là
quyền lực gia trưởng, thuần về mặt đạo đức, không
có phương tiện cưỡng
bách nào cả; còn thủ lĩnh
quân sự thì chỉ có thể ra mệnh lệnh
trong
thời gian xuất chinh mà thôi. Nhiều thị tộc họp
thành bào tộc (phratry, phratrie),
nhiều bào tộc họp thành bộ lạc (tribe,
tribu).
Bộ lạc có quyền bãi chức những tù
trưởng hay thủ lĩnh quân sự của thị
tộc ngay cả khi thị tộc không đồng ý. Đứng đầu bộ
lạc là Hội đồng bộ lạc,
bao gồm tất cả các tù trưởng và thủ
lĩnh quân sự của các thị tộc. Hội
đồng bộ lạc họp công khai, đứng xung quanh là
các thành viên khác của
bộ lạc, họ có quyền tham gia thảo luận và
phát biểu ý kiến, nhưng quyền
quyết định thuộc về Hội đồng. Nhiệm vụ chính của Hội đồng bộ
lạc là
điều tiết các quan hệ đối ngoại với các bộ lạc
khác, tuyên chiến và ký
hoà ước. Trong một vài bộ lạc, có một
vị thủ lĩnh tối cao nhưng quyền
hành rất hạn chế: đó là một trong
các tù trưởng có nhiệm vụ ban
hành
những biện pháp tạm thời trong trường hợp khẩn cấp trước khi
Hội đồng
bộ lạc có thể họp lại để quyết định dứt khoát.
Trong lúc tuyệt đại đa số người Indians ở châu Mỹ
chưa vượt qua
giai đoạn hình thành bộ lạc thì
riêng người Iroquois đã tiến tới giai
đoạn hình thành Liên minh bộ
lạc (theo Morgan có năm bộ lạc). Cơ quan quyền
lực của liên minh là Hội đồng
liên minh,
gồm 50 tù trưởng, tất cả đều có uy tín
và địa vị ngang nhau; không có
ai đứng đầu liên minh, không có người
nào đứng đầu quyền hành pháp,
nhưng lại có hai thủ lĩnh quân sự tối cao,
có quyền hạn và nhiệm vụ
ngang nhau. Nhận xét về xã hội của người
Iroquois, “một xã hội chưa
từng biết đến nhà nước”, Engels viết:
Với tất cả cái tính ngây thơ
và giản dị của nó, chế độ thị tộc đó
quả là một tổ chức tốt đẹp biết bao! Không
có quân đội, hiến binh và
cảnh sát, không có quý tộc,
vua chúa, tổng đốc, trưởng quan và quan
toà, không có nhà
tù, không có những vụ xử án,
- thế mà mọi việc đều
trôi chảy.(…) Mặc dù những
công việc chung là nhiều hơn ngày nay
rất
nhiều - nền kinh tế gia đình được một loạt gia
đình tiến hành chung và
theo nguyên tắc cộng sản chủ nghĩa; đất đai là
tài sản của toàn thể bộ
lạc,chỉ có những mảnh vườn nhỏ bé mới tạm giao
cho các gia đình sử
dụng, - nhưng người ta vẫn không hề cần đến cái bộ
máy quản lý cồng
kềnh và phức tạp của chúng ta. Mọi việc đều do
những người hữu quan tự
giải quyết lấy và trong đa số các trường hợp, một
tập quán lâu đời đã
giải quyết trước tất cả mọi việc rồi. (Sđd, T. VI,
tr. 151-152)
Dưới thời cộng sản nguyên thuỷ, sự phân
công lao động hoàn toàn
mang tính chất tự nhiên: chỉ có sự
phân công giữa nam và nữ. Kinh tế
gia đình là kinh tế cộng sản chung cho nhiều gia
đình, thường là chung
cho một số lớn gia đình. “Cái
gì cùng nhau làm ra và
dùng chung, cái đó
là tài sản chung, như nhà cửa, vườn
tược và thuyền độc mộc”. (Sđd, T.
VI, tr. 244)
Sự phân công lao động xã hội lớn đầu
tiên là sự tách rời giữa
trồng trọt và chăn nuôi.
Ở các bộ lạc du mục, sản xuất tăng nhanh và sở
hữu tư nhân bắt đầu xuất
hiện. Khi các đàn gia súc trở
thành sở hữu tư nhân thì việc trao đổi
hàng hoá trở thành thường
xuyên; gia súc bắt đầu trở thành tiền
tệ (vật
ngang giá chung). Người ta làm ra được khung dệt
và chế tạo ra các công
cụ bằng đồng. Nghề trồng trọt và nghề thủ công
cũng phát triển hơn. Sản
xuất tăng nhanh khiến cho sản phẩm làm ra nhiều hơn số sản
phẩm cần
thiết cho sinh hoạt của thị tộc. Do đó đẻ ra nhu cầu thu
hút sức lao
động mới. Tù binh trong chiến tranh biến thành
người nô lệ. Như vậy, từ
sự phân công lao động xã hội lần thứ
nhất, đã nảy sinh ra sự phân chia giai
cấp đầu tiên: xã hội phân
thành hai giai cấp – chủ nô
và nô lệ. Chế độ mẫu quyền sụp đổ,
nhường chỗ cho chế độ phụ quyền.
Đến thời đại đồ sắt, lại diễn ra sự phân công lao
động xã hội lớn lần thứ hai: thủ công
nghiệp tách khỏi nông nghiệp. Chế
độ nô lệ trở thành bộ phận cấu thành
chủ yếu của hệ thống xã hội: nô lệ
không chỉ là người giúp việc đơn thuần
mà bị đẩy đi làm việc ngoài đồng
ruộng và trong xưởng thợ thành từng
đoàn mươi, mười hai người một. Sản
xuất hàng hoá ra đời, và
cùng với nó là thương nghiệp.
Bên cạnh sự phân
biệt giữa người tự do và nô lệ đã xuất
hiện sự phân biệt giữa kẻ giàu
và người nghèo. Đất đai do thị tộc tạm cấp trước
đây dần dần chuyển
thành sở hữu tư nhân. Sự hợp nhất những bộ lạc
biến lãnh thổ riêng của
các bộ lạc thành lãnh thổ chung. Thủ
lĩnh quân sự (rex, basileus,
thiudans) do dân bầu ra dần dần trở thành
viên chức thường xuyên. Các
cơ quan của xã hội thị tộc trước đây (thủ lĩnh
quân sự, hội đồng, đại
hội nhân dân) phát triển
thành nền dân chủ quân sự
(military democracy, démocratie militaire).
Chiến tranh trước kia chỉ nhằm để trả thù những vụ
xâm lược hay để
mở rộng lãnh thổ thì nay trở thành một
ngành “kinh doanh” thường
xuyên.
Những cuộc chiến tranh cướp bóc làm tăng
thêm quyền lực của thủ lĩnh
quân sự tối cao cũng như quyền lực của các thủ
lĩnh quân sự dưới quyền
của người đó. Tập quán lựa chọn thủ lĩnh trong
cùng một gia đình dần
dần trở thành một sự kế thừa cha truyền con nối:
Như vậy là những cơ quan của tổ chức thị tộc đã
dần dần tách khỏi
cái gốc rễ của chúng trong nhân
dân, trong thị tộc, bào tộc, bộ lạc; và
toàn bộ tổ chức thị tộc chuyển hoá
thành cái đối lập với nó; từ chỗ
là
một tổ chức của bộ lạc nhằm giải quyết một cách tự do những
công việc
của mình, tổ chức thị tộc đã trở thành
một tổ chức để cướp bóc và áp
bức láng giềng; và do đó,
các cơ quan của nó, lúc đầu
là công cụ của ý
chí của nhân dân, đã trở
thành những cơ quan độc lập nhằm thống trị và
áp bức chính ngay nhân dân. (Sđd,
T. VI, tr. 252)
Lúc này ta đang đứng ở ngưỡng cửa của thời đại
văn minh. Sự đối lập
giữa thành thị và nông thôn
càng trầm trọng. Lại xuất hiện thêm sự
phân công lớn lần thứ ba: sự xuất hiện của thương
nghiệp:
Ở đây, lần đầu tiên, xuất hiện một giai cấp, tuy
không tham gia sản
xuất một tí nào, nhưng lại chiếm toàn
quyền lãnh đạo sản xuất và bắt
những người sản xuất phụ thuộc vào mình về mặt
kinh tế; nó tự đứng ra
làm kẻ trung gian không thể thiếu được giữa hai
người sản xuất và bóc
lột cả hai. (Sđd, T. VI, tr.254)
Cùng với những thương nhân là sự xuất
hiện của tiền kim loại (tức
tiền đúc), và xuất hiện việc cho vay lấy
lãi. Bên cạnh của cải bằng
hàng hoá và nô lệ,
bên cạnh của cải bằng tiền, còn xuất hiện của cải
bằng ruộng đất. Từ chỗ là tài sản của thị tộc,
ruộng đất trở thành hàng
hoá, có thể đem bán hay cầm cố được.
Sự tích tụ và tập trung của cải
vào tay một số ít người diễn ra cùng
lúc với sự bần cùng hoá
ngày càng
tăng của quần chúng và sự tăng thêm của
đám đông dân nghèo.
Bên cạnh
những người dân tự do phân chia thành
nhiều giai cấp tuỳ theo tài sản
của họ, thì số nô lệ tăng lên rất
đông (nhất là ở Hy Lạp); lao động
cưỡng bách của nô lệ là cơ sở
trên đó xây dựng nên kiến
trúc thượng
tầng của toàn bộ xã hội. Xã hội thị
tộc tan rã, nhường chỗ cho xã hội
có giai cấp đối kháng:
Cuối cùng, tổ chức thị tộc đã sinh ra từ một
xã hội không biết đến
mâu thuẫn nội tại và nó chỉ
thích hợp với một xã hội kiểu ấy mà
thôi.
Ngoài dư luận công chúng ra,
nó không có một phương tiện cưỡng chế
nào
cả. Nhưng bây giờ, một xã hội mới đã ra
đời, một xã hội do toàn bộ
những điều kiện kinh tế của sự tồn tại của nó mà
phải chia ra thành
những người tự do và nô lệ, thành những
kẻ giàu có đi bóc lột và
những
người nghèo khổ bị bóc lột, một xã hội
không những không thể lại điều
hoà một lần nữa những mặt đối lập đó,
mà còn buộc phải đẩy chúng đi đến
chỗ ngày càng gay gắt. Một xã hội như
vậy chỉ có thể tồn tại trong cuộc
đấu tranh không ngừng và công khai giữa
các giai cấp đó với nhau, hoặc
giả là tồn tại dưới sự thống trị của một lực lượng thứ ba,
một lực
lượng tựa hồ như đứng trên các giai cấp đang đấu
tranh với nhau, dập
tắt cuộc xung đột công khai giữa các giai cấp ấy
và cùng lắm là để cho
cuộc đấu tranh giai cấp diễn ra trong lĩnh vực kinh tế, dưới một
hình
thức gọi là hợp pháp. Tổ chức thị tộc
đã không còn tồn tại nữa. Nó
đã
bị sự phân công và hậu quả của sự
phân công ấy, tức là sự phân
chia của
xã hội thành giai cấp, phá tan.
Nó đã bị nhà nước
thay thế. (Sđd, T. VI, tr. 258-259)
Từ những căn cứ đó, Engels kết luận:
Vậy nhà nước quyết không phải là một
quyền lực từ bên ngoài áp đặt
vào xã hội. Nó càng
không phải là cái "hiện thực của
ý niệm đạo đức",
là "hình ảnh và hiện thực của
lý tính" như Hegel khẳng định. Đúng
ra,
nhà nước là sản phẩm của một xã hội
đã phát triển tới một giai đoạn
nhất định; nó là sự thú nhận
xã hội đó bị lúng túng
trong một mối mâu
thuẫn với bản thân mà không sao giải
quyết được, rằng xã hội đó đã bị
phân thành những mặt đối lập không thể
điều hoà mà xã hội đó bất
lực
không sao loại bỏ được. Nhưng muốn cho những mặt đối lập
đó, những giai
cấp có quyền lợi kinh tế mâu thuẫn nhau
đó, không đi đến chỗ tiêu diệt
lẫn nhau và tiêu diệt luôn cả
xã hội trong một cuộc đấu tranh vô ích,
thì cần phải có một lực lượng cần thiết, một lực
lượng tựa hồ như đứng
trên xã hội, có nhiệm vụ làm
dịu bớt sự xung đột và giữ cho sự xung đột
đó nằm trong vòng "trật tự"; và lực
lượng đó, nảy sinh ra từ xã hội,
nhưng lại đứng lên trên xã hội
và ngày càng xa rời xã hội,
chính là nhà
nước. (Sđd, T. VI, tr. 260-261)
Engels nêu ra những đặc trưng của nhà nước
làm cho nó phân biệt với tổ chức điều
hành của xã hội thị tộc:
- Đặc trưng thứ nhất của nhà nước là ở
chỗ nó phân chia dân cư theo
địa vực chứ không phải theo quan hệ
dòng máu.
- Đặc trưng thứ hai là sự thiết lập một quyền
lực công cộng tách rời khỏi
xã hội: quân đội thường trực thay
cho nhân dân tự vũ trang, ngoài ra
còn có đội cảnh binh và
những công cụ vật chất khác như nhà
tù và đủ loại cơ quan cưỡng
bức khác.
- Đặc trưng thứ ba là sự đóng
góp của công dân thông qua thuế
má nhằm để duy trì quyền lực
công cộng đó; trong thời hiện đại,
ngoài thuế ra còn có công
trái.
- Đặc trưng thứ tư là bọn quan lại
(các công chức) [7] .
Nắm được quyền lực công cộng và quyền thu thuế,
các quan lại (công
chức) được đặt lên trên xã hội.
Nhà nước mọc lên từ xã hội nay trở
thành xa lạ, đối lập với xã hội; quyền uy mang
tính chất cưỡng bách
thay cho lòng tôn kính tự nguyện trước
kia:
Viên cảnh
sát tồi nhất của một
nhà nước văn minh vẫn có “quyền
uy” hơn tất cả những cơ quan của xã hội
thị tộc cộng lại; nhưng một vương công có thế lực
nhất, một chính khách
hoặc một chỉ huy quân sự lớn nhất của thời đại văn minh vẫn
có thể ghen
với vị thủ lĩnh nhỏ nhất trong thị tộc về sự tôn
kính tự nguyện và
không thể tranh cãi được mà vị thủ lĩnh
ấy được hưởng. Đó là vì vị thủ
lĩnh thị tộc nằm ngay trong lòng xã hội,
còn những người kia thì bắt
buộc phải mong muốn đại biểu cho một cái gì ở
bên ngoài và đứng trên
xã
hội. (Sđd, T. VI, tr. 263)
Về bản chất của nhà nước, Engels cho rằng mặc dù
trong quá trình
phát triển, nhà nước đã mang nhiều
hình thức khác nhau, nhưng bao giờ
nó cũng là công cụ của một
giai cấp thống trị về mặt kinh tế; điều đó
làm cho nhà nước mang bản chất giai cấp:
Vì nhà nước nảy sinh ra từ nhu cầu phải kiềm chế
những sự đối lập
giai cấp, nhưng vì nhà nước đồng thời cũng nảy
sinh ra giữa cuộc xung
đột của các giai cấp ấy, cho nên theo lệ thường,
nhà nước là nhà nước
của giai cấp có thế lực nhất, của cái giai cấp
thống trị về mặt kinh tế
và nhờ có nhà nước, mà cũng
trở thành giai cấp thống trị về mặt chính
trị và do đó có thêm được
những phương tiện mới để đàn áp và
bóc lột
giai cấp bị áp bức. (Sđd, T. VI, tr. 263)
Engels nêu ra “ba hình thức nô
dịch lớn đặc trưng cho ba thời đại lớn của văn minh”: chế
độ nô lệ thời cổ, chế độ nông nô thời
trung cổ, và chế độ làm thuê thời hiện
đại (Sđd, T. VI,, tr.
269). Tương ứng với ba hình thức bóc lột
đó là: nhà nước của chủ
nô dùng để đàn áp
nô lệ, nhà nước phong kiến -
cơ quan của bọn quý tộc dùng để đàn
áp nông nô và những
nông dân bị phụ thuộc, và nhà
nước đại nghị hiện đại - công cụ của tư bản
dùng để bóc lột lao động làm
thuê (Sđd, T. VI,, tr.
263). Tuy nhiên, ông cũng thừa nhận rằng trong một
số trường hợp ngoại
lệ, nhà nước có thể có một mức độ độc
lập nào đó đối với các giai cấp
đang đối địch nhau; đó là những thời kỳ
mà những giai cấp đang đấu
tranh lẫn nhau lại gần đạt được một thế quân bình.
Chẳng hạn như chế độ
quân chủ chuyên chế ở thế kỷ XVII và
XVIII (do thế thăng bằng giữa bọn
quý tộc và giai cấp tư sản); như chế độ Bonaparte
của Đế chế I và đặc
biệt là của Đế chế II ở Pháp (đứng giữa giai cấp
tư sản và giai cấp vô
sản), hay nhà nước Đức của Bismarck (do thế quân
bình giữa các nhà tư
bản và công nhân).
Theo Engels, trong đa số nhà nước đã từng tồn tại
trong lịch sử,
những quyền ban cho công dân còn tỷ lệ
với tài sản của họ, điều đó cho
thấy rằng nhà nước là một tổ chức của
giai cấp hữu sản, dùng để bảo vệ giai cấp này
chống lại giai cấp không có của.
Tuy nhiên việc thừa nhận về mặt chính trị sự
chênh lệch về tài sản
không phải là một dấu chỉ căn bản; nó
chỉ chứng tỏ rằng nhà nước đang
còn ở một trình độ thấp. Đối với chế độ cộng
hoà dân chủ là hình thức
nhà nước cao hơn, sự chênh lệch về của cải
không còn được chính thức
thừa nhận về mặt pháp lý. Trong chế độ
đó, của cải vẫn phát huy quyền
lực của nó một cách gián tiếp, nhưng
lại càng chắc chắn hơn nhiều: một
mặt, dưới hình thức trực tiếp mua chuộc những người
công chức; mặt
khác, dưới hình thức liên minh giữa
chính phủ và sở giao dịch. Ngoài
ra, dưới chế độ cộng hoà dân chủ, giai cấp hữu sản
thống trị trực tiếp
bằng hình thức đầu phiếu phổ thông.
Đối với Engels, đầu phiếu
phổ thông là một cách thức thống trị
của giai cấp tư sản; nhưng cũng là
“cái thước đo sự trưởng thành của giai
cấp công nhân”.
Việc xác định rằng trong quá khứ,
đã từng có lúc xã hội
loài người không có nhà nước
củng cố thêm lòng tin của những người cộng sản về
một tương lai trong
đó nhà nước sẽ tự tiêu vong. Engels
đã khẳng định điều đó bằng một
giọng văn hùng hồn:
Như vậy là không phải lúc
nào cũng đã có nhà nước.
Đã từng có những
xã hội không cần đến nhà nước,
không có một khái niệm nào
về nhà nước
và chính quyền nhà nước cả. Đến một
giai đoạn phát triển kinh tế nhất
định, giai đoạn tất nhiên phải gắn liền với sự phân
chia xã hội thành
giai cấp thì sự phân chia đó
làm cho nhà nước trở thành một tất
yếu.
Bây giờ, chúng ta đang bước nhanh đến gần một giai
đoạn phát triển sản
xuất, trong đó sự tồn tại của những giai cấp nói
trên không những không
còn là một sự tất yếu nữa, mà
đã trở thành một trở ngại trực tiếp cho
sản xuất. Những giai cấp đó nhất định sẽ biến mất cũng như
xưa kia,
chúng nhất định phải xuất hiện. Giai cấp tiêu vong
thì nhà nước cũng
không tránh khỏi tiêu vong theo.
Xã hội sẽ tổ chức lại nền sản xuất
trên cơ sở liên hợp tự do và
bình đẳng giữa những người sản xuất, sẽ
đem toàn thể bộ máy nhà nước xếp
vào cái vị trí thật sự của
nó lúc bấy
giờ: vào viện bảo tàng đồ cổ, bên cạnh
cái xa kéo sợi và cái
rìu bằng
đồng. (Sđd, T. VI, tr. 265-266)
Có thể nói kể từ khi xuất bản, tác
phẩm Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu
và của nhà nước của Engels
đã trở thành một trong những tác phẩm
kinh điển của chủ nghĩa Marx. Nó tạo ra một căn cứ khoa
học, hay ít ra cũng cung cấp một lớp vỏ bề
ngoài mang dáng vẻ khoa học cho
lý thuyết mác-xít về nhà
nước và chuyên chính vô sản.
Đầu thế kỷ XX,
Lenin đã dựa vào nó như một
tác phẩm căn bản để nghiên cứu lý
thuyết
mác-xít về nhà nước, cũng như để viết
cuốn Nhà nước và cách mạng.
© 2005 talawas
[1]"Lassalle,
Ferdinand", Microsoft® Encarta® Encyclopedia
2001, © 1993-2000
[2]Harry
W. Laidler, History of Socialism, Thomas Y. Crowell
Company, New York 1968, tr. 226-227.
[3]"Proudhon,
Pierre Joseph", “Anarchism”; Microsoft®
Encarta® Encyclopedia 2001, © 1993-2000.
[4]“Proudhon,
Pierre-Joseph”, Encyclopaedia Britannica 2000,
1994-2000.
[5]“Bakunin,
Mikhail Aleksandrovich”, Encyclopaedia Britannica
2000, 1994-2000.
[6]“Russian
anarchist thought”, Encyclopædia
Britannica 2000; “Anarchism”, Microsoft®
Encarta® Encyclopedia 2001.
[7]Trong
bản dịch tiếng Pháp: fonctionnaires (công chức).
Xem: Fr. Engels, L’origine de la famille, de la
propriété et de l’Etat, traduit par
Bracke (A.M. Desrousseaux, Alfred Costes, Paris 1946, tr.
225).