Mai Thái Lĩnh
Huyền thoại về một
nhà nước tự tiêu vong
Bàn về lý thuyết Nhà nước của Karl Marx
8 kì
Chương VII
Dân chủ vô sản: từ lý luận đến
hiện thực
Phần lớn những luận điểm mà Lenin nêu ra trong Nhà
nước và cách mạng thực ra chỉ
là giải thích lại những
quan điểm của Marx và Engels. Nếu có một
cái gì có thể gọi là mới,
là sáng tạo của riêng Lenin thì
đó chính là khái niệm dân
chủ vô sản. Lúc
còn sống, Marx và Engels chưa hề nói
đến dân chủ vô sản, mà chỉ
nói đến
chuyên chính vô sản. Có lẽ do
chỗ hai ông đều cho rằng cách mạng vô
sản
chỉ có thể thành công bằng
cách nổ ra đồng loạt ở những nước tiên tiến
nhất, và chuyên chính vô sản
chỉ là nhà nước tạm thời nên hai
ông không
xác định đó là một chế độ
dân chủ, một nền dân chủ.
Tiến hơn một bước so với hai nhà cách mạng tiền
bối, Lenin đưa ra khái niệm dân chủ
vô sản (proletarian democracy, démocratie
prolétarienne) để đối lập với khái
niệm dân chủ tư sản. Khi đưa ra
khái niệm này, Lenin nhằm vào những
khía cạnh sau đây:
Một là, Lenin muốn làm
rõ việc giai cấp vô sản, sau khi đập bỏ
nhà nước tư sản, đã thay thế vào
đó một cái không phải
là nhà nước theo đúng nghĩa của từ ấy
nữa:
… chế độ dân chủ, từ chỗ là
dân chủ tư sản đã biến thành
dân chủ vô
sản, từ chỗ là nhà nước (= lực lượng đặc biệt để
trấn áp một giai cấp
nhất định) nó biến thành một cái
gì thực ra không phải là nhà
nước hiểu
theo nghĩa thật sự nữa. (Lenin, Nhà nước
và cách mạng, sđd., tr. 68)
Hai là, Lenin muốn đối lập
khái niệm dân chủ vô sản
với khái niệm dân chủ thường
dùng, mà ông gán cho
cái nhãn là dân
chủ tư sản. Theo ông, dân chủ
vô sản là dân chủ cho tuyệt
đại đa số nhân dân, dân chủ cho người
nghèo; còn dân chủ tư sản chỉ
là dân chủ cho một thiểu số rất nhỏ,
dân chủ cho người giàu. (Sđd, tr.
139-144)
Quan niệm này được Lenin phát triển chẳng những
nhằm để chống lại
giai cấp tư sản, mà còn nhằm để chống lại
các nhà lý luận của Quốc tế
II, như Kautsky chẳng hạn. Năm 1919, ông viết:
Chế độ dân chủ tư sản, tuy là một tiến bộ lịch sử
vĩ đại so với
thời trung cổ, song trước sau nó vẫn là, -
và dưới chế độ tư bản nó
không thể không là - một chế độ
dân chủ chật hẹp, bị cắt xén, giả hiệu,
giả dối, một thiên đường cho bọn giàu
có, một cái cạm bẫy và một
cái
mồi giả dối đối với những người bị bóc lột, đối với những
người nghèo.
(Lenin, Cách mạng vô sản và
tên phản bội Cau-xky, sđd, tr.30)
Ba là, việc đưa ra khái niệm
dân chủ vô sản đối lập với khái
niệm dân chủ tư sản giúp Lenin biện minh cho việc
thực hiện chuyên
chính đối với giai cấp bóc lột:
Đồng thời với việc mở rộng rất nhiều chế độ
dân chủ – lần đầu tiên
biến thành chế độ dân chủ cho người
nghèo, chế độ dân chủ cho nhân
dân
chứ không phải cho bọn nhà giàu
– chuyên chính vô sản
còn thực hành một
loạt biện pháp hạn chế quyền tự do đối với bọn áp
bức, bọn bóc lột, bọn
tư bản. Chúng ta phải trấn áp bọn đó
để giải phóng nhân loại khỏi chế
độ nô lệ làm thuê, phải dùng
bạo lực để đập tan sự phản kháng của
chúng, và chỗ nào có trấn
áp, có bạo lực, thì đương
nhiên là chỗ đó
không có tự do mà cũng không
có dân chủ. (Lenin, Nhà nước
và cách mạng, sđd., tr. 142)
Dân chủ vô sản không dựa trên
chế độ đại nghị mà dựa trên một nền
dân chủ trực tiếp tương
tự như chế độ dân chủ thời nguyên thuỷ của
nhân loại. Đáp lại sự phê
phán của Bernstein đối với “chủ nghĩa
dân chủ nguyên thuỷ”, Lenin viết:
Cũng như tất cả bọn cơ hội chủ nghĩa, cũng như bọn Cau-xky
ngày nay, Béc-stanh hoàn
toàn không hiểu rằng, một là không
thể nào
chuyển từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội
mà không “trở về”
ít
nhiều với chủ nghĩa dân chủ “nguyên
thuỷ” (vì xét đến cùng,
làm thế nào
khác thế được để khiến cho đa số dân
chúng, hơn nữa, khiến cho toàn thể
dân chúng làm được những chức năng của
nhà nước?); hai là, “chủ nghĩa
dân chủ nguyên thuỷ”, dựa trên
cơ sở chủ nghĩa tư bản và văn hoá tư bản
chủ nghĩa, không phải là chủ nghĩa dân
chủ nguyên thuỷ của những thời
nguyên thuỷ hoặc tiền tư bản chủ nghĩa. Văn hoá tư
bản chủ nghĩa đã tạo ra nền sản xuất
lớn, những công xưởng, những đường sắt, bưu chính,
điện thoại,v.v…, và trên cơ
sở ấy,
tối đại đa số những chức năng của “chính quyền
nhà nước” cũ đã được đơn
giản hoá, và có thể biến
thành những công việc vào sổ, ghi
chép, kiểm
tra đơn giản đến nỗi những chức năng ấy có thể
hoàn toàn hợp với sức
của hết thảy mọi người biết chữ, đến nỗi những chức năng ấy
hoàn toàn
có thể làm được với một số “tiền lương
công nhân” thông thường, cho
nên
người ta có thể (và cần phải) tước bỏ tất cả mọi
dấu vết đặc quyền,
“cấp bậc” của những chức năng ấy đi. (Lenin, Sđd,
tr.70-71)
Theo Lenin, chế độ dân chủ vô sản là chế
độ dân chủ của đại đa số
dân cư, của những người lao động bị bóc lột,
vì vậy nó ưu việt hơn chế
độ dân chủ tư sản:
Chế độ dân chủ vô sản so với bất cứ chế độ
dân chủ tư sản nào, cũng dân chủ hơn gấp
triệu lần; chính quyền xô-viết so với
nước cộng hoà tư sản dân chủ nhất thì
cũng dân chủ hơn gấp triệu lần. (Lenin, Cách
mạng vô sản và tên phản bội Cau-xky,
sđd., tr. 39)
Với một niềm lạc quan cao độ, Lenin hoàn toàn tin
tưởng rằng sau khi phá bỏ nhà nước cũ,
có thể xây dựng một nhà nước
kiểu mới
trong đó mọi người lao động đều có thể tham gia
vào công tác hành
chính, không cần đến bộ máy quan
liêu (tức là bộ máy công
chức). Nhà
nước kiểu mới đó sẽ dần dần tự tiêu vong
khi xã hội bước vào giai đoạn cao của
xã hội cộng sản (chủ nghĩa cộng sản), tức
là khi sản xuất đã phát triển đến mức
có thể áp dụng nguyên tắc
“làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu”.
Còn trong giai đoạn đầu của xã hội cộng
sản (chủ nghĩa xã hội),
tức là giai đoạn áp dụng nguyên tắc
“làm theo năng lực, hưởng theo lao
động”, thì nhà nước vô sản
vẫn còn tồn tại vì còn phải trấn
áp thiểu số
bóc lột, nhưng việc trấn áp này
không khó khăn lắm và không
đòi hỏi
phải có một bộ máy tốn kém:
Tiếp nữa, trong thời kỳ quá độ từ chủ
nghĩa tư bản lên chủ nghĩa cộng sản, sự trấn áp vẫn
còn
tất yếu, nhưng nó đã là sự trấn
áp của đa số bị bóc lột đối với thiểu
số bóc lột. Cơ quan đặc biệt, bộ máy trấn
áp đặc biệt là “nhà
nước” vẫn còn cần thiết, nhưng
nó đã là nhà nước
quá độ, mà không còn
là nhà nước theo đúng nghĩa của
nó nữa, vì việc đa số người hôm
qua
là nô lệ làm thuê trấn
áp thiểu số người bóc lột, là việc
tương đối dễ
dàng, đơn giản, tự nhiên, nên sẽ rất
ít tốn máu hơn việc trấn áp những
cuộc khởi nghĩa của nô lệ, của nông nô,
của công nhân làm thuê,
nên,
đối với nhân loại, sẽ ít tốn kém hơn
nhiều. (…) Bọn bóc lột dĩ nhiên
là
không thể trấn áp được nhân
dân, nếu không có một bộ máy
trấn áp rất
phức tạp để làm nhiệm vụ đó, còn nhân
dân thì dầu chỉ có một
“bộ máy” rất giản đơn, hầu như
không cần có “bộ
máy” nữa, không cần có cơ
quan đặc biệt nữa, mà chỉ với tổ chức quần
chúng vũ trang đơn giản (đại
loại như Xô-viết đại biểu công nhân
và binh sĩ, - đây là chúng
tôi xin
nêu trước như vậy), cũng có thể trấn áp
được bọn bóc lột. (Lenin, Nhà nước
và cách mạng, sđd, tr.145)
Một khi các giai cấp bị bóc lột bị trấn
áp xong, vẫn còn có những đối tượng
cần trấn áp, đó là một số
cá nhân có những hành vi
thái quá, nhưng việc trấn áp
những phần tử như vậy cũng không khó khăn
gì, và cũng không ngăn cản
quá trình tự tiêu vong của
nhà nước:
Chúng ta không phải là những người
không tưởng, và chúng ta nhận rằng
những hành vi thái quá của một
số cá nhân
là có thể có và
không thể nào tránh được,
chúng ta cũng không phủ nhận
sự cần thiết phải trấn áp những hành vi
thái quá ấy. Nhưng, trước hết,
tuyệt nhiên không cần phải có một bộ
máy đặc biệt, một bộ máy trấn áp
đặc biệt để trấn áp; nhân dân vũ trang
sẽ tự mình làm việc đó một
cách
cũng giản đơn, cũng dễ dàng như bất cứ một đám
đông những người văn
minh nào, ngay trong xã hội hiện nay, đứng ra can
những người đánh nhau
hay ngăn không cho ức hiếp phụ nữ. Thứ nữa, chúng
ta biết rằng nguyên
nhân xã hội sâu xa của những
hành vi thái quá vi phạm quy tắc của
cuộc
sống chung trong xã hội, là sự bóc lột
những quần chúng lâm vào cảnh
thiếu thốn, cùng khổ. Một khi gạt bỏ được nguyên
nhân chủ yếu ấy, thì
những hành vi thái quá tất
nhiên sẽ bắt đầu “tiêu
vong”. Những
hành vi đó tiêu vong mau
chóng như thế nào, mức độ như thế nào,
thì
chúng ta không biết, nhưng chúng ta
biết rằng chúng thế nào cũng sẽ
tiêu vong. Và cùng với sự
tiêu vong đó, nhà nước cũng sẽ
tiêu vong theo. (Sđd, tr. 146)
Nhà nước vô sản tiêu vong
tức là chế độ dân chủ vô sản
cũng tiêu vong, nhường chỗ cho một xã
hội hoàn toàn không có
nhà nước, trong xã hội đó
“sự tất yếu phải tuân theo
những quy tắc đơn giản và cơ bản của mỗi xã hội
loài người sẽ rất mau trở thành một tập
quán.”(Sđd, tr.
164).
Như vậy, khái niệm dân chủ vô
sản thực ra là một khái niệm
được nêu ra nhằm đối phó với quan điểm của những
người cải cách, kể cả
những người xét lại một cách triệt để như
Bernstein cũng như những
người có lập trường trung dung hơn như Kautsky. Lenin
có ý muốn biện
minh cho quan niệm chuyên chính
vô sản, cho con đường cách mạng
(đập tan hoàn toàn bộ máy
nhà nước cũ để xây dựng một bộ máy
nhà nước
hoàn toàn mới). Cho nên nền tảng của
của khái niệm “dân chủ vô
sản”
chính là khái niệm
“chuyên chính vô
sản”. Chuyên chính nhưng lại rất
dân chủ, chuyên chính để có
đân chủ: chuyên chính đối với thiểu số
để
có dân chủ đối với đa số, chuyên
chính đối với giai cấp bóc lột để có
dân chủ đối với giai cấp vô sản và
nhân dân lao động nói chung.
Chúng
ta thử xét xem khi hai khái niệm đối nghịch
này cùng được nhét chung
vào một bị thì hậu quả sẽ như thế nào?
*
Mặc dù Marx và Engels đề cao Công
xã Paris, coi đó là nhà
nước vô sản đầu tiên trên thế giới;
nhưng nhà nước này chỉ tồn tại trong một thời
gian ngắn (72 ngày), và
trong một hoàn cảnh đặc biệt (thù trong, giặc
ngoài), cho nên không thể
coi là một nhà nước vô sản kiểu mẫu,
đúng nghĩa được. Có thể nói
chính
Lenin mới là người đầu tiên áp dụng chuyên
chính vô sản vào
thực tế. Không chỉ đề cao khái niệm
này, coi đó là tiêu chuẩn
thực sự
phân biệt những người mác-xít
chân chính với những người giả-mác
xít,
ông còn tô vẽ cho nó một bộ
mặt dân chủ, và chỉ đạo thực hiện mô
hình
đã vạch ra.
Mâu thuẫn đầu tiên mà Lenin phải giải
quyết sau Cách mạng tháng Mười là
mâu thuẫn giữa một bên là quốc
gia - dân tộc và một bên
là giai cấp. Khi phải chọn giữa Quốc
hội lập hiến (được bầu theo nguyên tắc phổ
thông đầu phiếu bởi tất cả các giai cấp)
và các Xô-viết (chỉ
đại biểu cho những người lao động, nghĩa là loại bỏ những
tầng lớp tư
sản và quý tộc), Lenin đã
kiên quyết chọn các Xô-viết, nghĩa
là chọn
giai cấp thay vì quốc gia–dân tộc.
Trong thực tế, cuộc bầu cử Quốc hội diễn ra sau Cách mạng
tháng
Mười Nga đã dẫn đến kết quả là Đảng bolshevik chỉ
chiếm thiểu số trong
Quốc hội mới. Đảng bolshevik chỉ chiếm 175 trong tổng số 707 ghế; nếu
cộng thêm 40 ghế của những người xã
hội-cách mạng cánh tả (là những
người ủng hộ Đảng bolshevik) thì cũng chỉ đạt 215 ghế. Trong
khi đó,
chỉ riêng những người xã hội-cách mạng
cánh hữu đã chiếm đến 370 ghế,
chưa kể đến những nhóm khác không
có cảm tình với Đảng bolshevik [1]
. Những người bolshevik đặt ra kế hoạch giải tán Quốc hội
như sau: họ
soạn sẵn một nghị quyết lấy tên là
“Tuyên ngôn về quyền của những người
lao động và bị bóc lột” trong
đó xác nhận việc đặt quyền lực của Quốc
hội dưới quyền lực của các Xô-viết, nhằm buộc Quốc
hội thông qua, nếu
không được thì giải tán Quốc hội.
Ngày 18 tháng 1 năm 1918 Quốc hội lập hiến
nhóm họp tại lâu đài
Tauride ở Petrograd trong một bầu không khí hết
sức căng thẳng. Các
thuỷ thủ và vệ binh đỏ bao vây lâu
đài, các phái đoàn đến
chào mừng
Quốc hội đều bị giải tán bằng những phát
súng. Những người bolshevik có
vũ trang tràn ngập các khán
đài. Tuy nhiên, các đại biểu vẫn họp,
và
bầu Chernov – một lãnh tụ xã hội -
cách mạng, làm chủ tịch. Lenin đến
dự phiên họp nhưng không ngồi vào chỗ
dành riêng cho ông mà nằm
dài
trên lối đi giữa những hàng ghế, khi
thì cuời phá lên, khi lại giả vờ
ngủ; sau cùng, ông đứng dậy và bỏ ra
khỏi phòng họp, dành việc “kết
thúc" phiên họp cho các cận vệ của
ông [2] .
Bản tuyên ngôn do những người bolshevik đề nghị bị
bác bỏ, do đó
những đại biểu bolshevik và các đại biểu
xã hội - cách mạng ủng hộ họ
rời bỏ phòng họp. Quốc hội họp đến tận buổi tối, giữa tiếng
la huyên
náo của đám đông bolshevik ngồi đầy
các khán đài. Sau cùng, một
thuỷ
thủ lên diễn đàn nhắc nhở chủ tịch rằng cần phải
chấm dứt phiên họp vì
đội cảnh vệ “đang cần ngủ”. Quốc hội bế mạc,
và không bao giờ họp trở
lại được nữa.
Ngày hôm sau Ban chấp hành Trung ương
các Xô-viết đã thông qua một
sắc lệnh giải tán Quốc hội lập hiến. Marcel Liebman nhận
xét:
Như vậy là chấm dứt giai đoạn đại nghị của lịch sử nước Nga.
Nó chỉ kéo dài chưa đến 24 tiếng đồng
hồ. (Marcel Liebman, Sđd, tr. 371)
Việc giải tán Quốc hội lập hiến đã bị dư luận
các nước phương tây
đánh giá là “một cuộc đảo
chính chống lại nền dân chủ”. Nhưng nếu
xét
theo quan điểm đập tan nhà nước cũ, xoá
bỏ chế độ đại nghị mà Lenin đã chấp
nhận trong Nhà nước và cách
mạng, thì hành động này
hoàn toàn hợp lôgic.
Điều đáng nói là vấn đề này
đã trở thành một lý do tranh
cãi giữa
những người dân chủ - xã hội và những
người cộng sản. Kautsky phê bình
những người bolshevik đã “thủ tiêu chế
độ dân chủ mà nhân dân Nga
đã
giành được trong cuộc cách mạng tháng
Hai năm 1917”. Ông cho rằng trước
kia Lenin rất hăng hái đòi hỏi triệu tập Quốc hội
lập hiến; và chỉ vì
những người bolshevik chiếm thiểu số trong Quốc hội cho nên
Lenin coi
Xô-viết cao hơn Quốc hội và tìm
cách giải tán Quốc hội. Lenin cho đó
là
điều bịa đặt, và trả lời rằng ông đã
bác bỏ chế độ đại nghị tư sản ngay
từ trước Cách mạng tháng Mười Nga:
… mọi người đều biết rằng, ngay từ ngày đầu
tiên khi tôi trở về
Nga, ngày 4 tháng Tư năm 1917, tôi
đã đọc trước công chúng những đề
cương, trong đó tôi tuyên bố rằng một
nhà nước kiểu Công xã Pa-ri ưu
việt hơn là nền cộng hoà đại nghị tư sản. (Lenin,
Cách mạng vô sản và tên phản
bội Cau-xky, sđd, tr.71)
Ông gọi Kautsky là “một kẻ vô
lại đã bán mình cho giai cấp tư
sản”,
và đánh giá quan điểm của Kautsky về
vấn đề Quốc hội lập hiến là một
“quan điểm hình thức”:
Trong đề cương của tôi, tôi đã
nói rõ ràng và nhắc lại
nhiều lần
rằng lợi ích của cách mạng cao hơn các
quyền hạn hình thức của Quốc hội
lập hiến (…). Quan điểm dân chủ thuần
tuý hình thức chính là quan
điểm
của người dân chủ tư sản, là
kẻ không thừa nhận rằng lợi ích của giai cấp
vô sản và của cuộc đấu tranh giai cấp của
vô sản cao hơn hết. (Sđd, tr.76)
Để đạt thắng lợi cho giai cấp vô sản,
Lenin đã bất chấp mọi quy tắc của nền dân chủ,
mà ông coi là dân
chủ tư sản, dân chủ thuần tuý, dân chủ
hình thức; đồng thời cũng bất chấp mọi thứ luật
pháp, như ông đã viết:
Chuyên chính là một chính
quyền dựa trực tiếp vào bạo lực và
không bị một luật pháp nào hạn chế cả.
Chuyên chính cách mạng của giai cấp
vô sản là một chính quyền do
giai cấp vô sản giành được và duy
trì bằng bạo lực đối với giai cấp tư
sản, chính quyền không bị một luật pháp
nào hạn chế cả. (Sđd, tr. 18)
Đối với Lenin, các Xô-viết đại biểu công
nhân, binh lính và nông
dân chính là một nhà
nước kiểu mới. Ông hy vọng qua đó tạo
điều kiện cho mọi người lao động được tham gia
vào việc quản lý nhà nước,
và bằng cách đó nền
dân chủ xô-viết sẽ trở thành
dân chủ gấp triệu lần so với nền dân chủ
tư sản.
Trong thực tế, việc phá huỷ bộ máy nhà
nước cũ, xây dựng nhà nước
kiểu mới không dễ dàng như Lenin đã
tưởng. Vào cuối năm 1920, Lenin đã
phải thừa nhận công khai rằng nước Nga xô-viết
là một “Nhà nước công
nhân với sự biến dạng quan liêu” (Marcel
Liebman, Sđd, tr. 399). Tại Đại hội lần thứ XI của
Đảng cộng sản (b) [3] Nga
(tháng 3 năm 1922), ông đã
nêu một dẫn chứng đáng kinh ngạc:
Lực lượng kinh tế mà nhà nước vô sản
Nga đang nắm trong tay hoàn
toàn đủ bảo đảm cho bước chuyển sang chủ nghĩa cộng sản. Như
vậy thì
thiếu cái gì? Rõ ràng,
cái còn thiếu chính là
trình độ văn hoá của
những người cộng sản lãnh đạo. Nhưng nếu ta lấy
Mát-xcơ-va – nghĩa là
lấy 4700 đảng viên cộng sản phụ trách –
và đem đối chiếu với bộ máy
quan liêu, với cái khối to lớn ấy, thử hỏi ai
lãnh đạo ai? Tôi rất
không tin là có thể nói được
rằng những người cộng sản đang lãnh đạo.
Nói cho đúng ra, không phải họ
lãnh đạo. Mà chính là họ bị
lãnh đạo.
(Lênin, "Báo cáo chính trị
của Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản
(b) Nga", Toàn tập, tập 45, Nxb Tiến bộ,
Matxcơva 1978, tr. 114)
Chúng ta có thể đặt câu hỏi: tại sao
gần 5 năm sau khi Cách mạng tháng Mười
thành công, nghĩa là sau khi Lenin
đã đập tan bộ máy nhà nước cũ,
mà vẫn còn tồn tại bộ máy
quan liêu? Và điều đáng
nói là ở nhiều nơi, bộ máy
quan liêu ấy
đã điều khiển Đảng cộng sản bolshevik chứ không
phải ngược lại! Mặc dù
Lenin đưa ra lý do là những người cộng sản thiếu
trình độ văn hoá,
nhưng thật ra không hẳn như vậy!
Để có thể đánh giá đúng tầm
mức nghiêm trọng của vấn đề, cần phải
tìm hiểu trong “Những bức thư và
bài báo cuối cùng của Lenin”
(Lê-nin, Toàn tập, tập
45, tr. 391-460), tức là những gì được viết trong
thời gian ông cảm
thấy sức khoẻ suy kiệt, gần kề cái chết (từ 23.12.1922 đến
2.3.1923).
Trong Thư gửi Đại hội [4] ,
ông thừa nhận bộ máy nhà nước
Xô-viết là “một bộ máy đang
còn hết sức tồi”, là “kế thừa
của chế độ cũ”:
Nếu trong vòng năm năm mà chúng ta
đã xây dựng được một kiểu nhà
nước mới, trong đó công nhân
lãnh đạo nông dân đấu tranh chống giai
cấp
tư sản thì như thế cũng đã tươm rồi,
và trong điều kiện hoàn cảnh quốc
tế thù địch thì điều ấy cũng đã
là một sự nghiệp vĩ đại. Nhưng việc
nhận thức rõ điều ấy tuyệt nhiên không
thể làm cho chúng ta không
nhìn
thấy một điều là thực ra chúng ta đã
tiếp thu bộ máy cũ của Nga hoàng,
của giai cấp tư sản, và giờ đây, khi đã
có hoà bình, những nhu cầu tối
thiểu đã được bảo đảm để thoát khỏi cảnh
đói khổ, thì toàn bộ hoạt động
phải được hướng vào việc cải tiến bộ máy. (Sđd,
tr. 397-398)
Trong lá thư Về vấn đề dân tộc
hoặc vấn đề “tự trị hoá”
(ngày 30.12.1922), Lenin cũng thừa nhận bộ máy
nhà nước Xô-viết là bộ
máy “đã vay mượn của chế độ Nga
hoàng và chỉ quét lên
chút ít bằng một
lớp sơn xô-viết”. Ông viết tiếp:
Còn bây giờ chúng ta cần
thành thật mà nói một điều
trái lại là bộ
máy mà chúng ta gọi là của
mình, thực ra vẫn còn hoàn
toàn xa lạ với
chúng ta, nó là một mớ hổ lốn tư sản
và Nga hoàng; cải tạo bộ máy ấy
trong vòng năm năm trong điều kiện không
có sự giúp đỡ của các nước
khác và trong điều kiện chúng ta chủ
yếu đang bận vào những “công
việc”
chiến tranh và chống đói, - đó
là điều hoàn toàn không thể
làm được. (Sđd, tr. 408)
Ở đây ta không nói đến lời
bào chữa của Lenin muốn biện hộ cho cách
mạng bằng cách đổ tội cho chế độ Nga hoàng, cho
chế độ tư bản,… Vấn đề
đặt ra ở đây là: sau nhiều năm hô
hào đập tan bộ máy nhà nước
cũ, coi
đó như điều kiện tiên quyết để tiến
hành cuộc cách mạng vô sản, đến
lúc
này Lenin lại thừa nhận bộ máy nhà
nước mới là bộ máy được tiếp thu
từ bộ máy cũ của Nga hoàng, của giai cấp tư sản,
chỉ có cái vỏ ngoài là
mới (lớp sơn xô-viết) và đã đến
lúc phải tìm cách cải tiến
nó. Như vậy là ông
gián tiếp thừa nhận sự thất bại trong việc xoá
bỏ bộ máy quan liêu, một trong hai
thành tích của Công xã
mà Marx đã từng ca ngợi.
Thành tích thứ hai của Công
xã (giải tán quân đội thường
trực),
khi đem áp dụng vào thực tế cũng đem lại kết quả
tương tự. Năm 1917,
Lenin nhận định rằng “nhân dân
thì dầu chỉ có một “bộ
máy” rất giản
đơn, hầu như không cần có “bộ
máy” nữa, không cần có cơ
quan đặc biệt
nữa, mà chỉ với tổ chức quần chúng vũ trang đơn
giản (…) cũng có thể
trấn áp được bọn bóc lột” (Lenin, Nhà
nước và cách mạng, sđd, tr.145).
Trong thực tế, nhân dân tự vũ trang chỉ
có thể giúp những người
bolshevik thành công trong khởi nghĩa, chứ
không thể bảo đảm chống lại
được các lực lượng phản cách mạng trong nội
chiến; vì thế, mùa hè năm
1918, quân đội thường trực được thành lập. Sắc
lệnh đặc biệt về việc tổ
chức Hồng quân đánh giá rằng
“cần phải thành lập quân đội
đó dựa trên
khoa học quân sự, bằng cách tận dụng kinh nghiệm
và kiến thức của những
chuyên gia quân sự của quân đội
cũ”. [5]
Có lẽ vào lúc này, Lenin
đã thấm thía tính chất
không tưởng
của những ý tưởng của Marx và Engels, nhưng lại
không có đủ can đảm
thừa nhận điều đó, vì thừa nhận có
nghĩa là chấp nhận lập trường của
phái cải cách, nghĩa là đặt vấn đề
xét lại ngay chính những bài học
kinh điển của Marx và Engels. Là một
môn đệ quá trung thành, quá
tin
tưởng vào Marx và Engels cho nên
ông không bao giờ dám nghĩ rằng những
người thầy của mình lại có thể sai. Mặt
khác, là một người rất tự cao,
ông không thể nào thừa nhận sự sai lầm
của mình trước các đối thủ mà
ông đã chửi rủa một cách thậm tệ như
Kautsky, Vandervelde,...
Việc không dám nhìn thẳng
vào sự thật đó khiến cho Lenin lúng
túng
về mặt lý luận. Điều này bộc lộ ngay trong đề
án mà ông dồn hết tâm
huyết và sức lực cuối cùng để gửi Đại hội Đảng
lần thứ XII, được trình
bày qua hai bài viết cuối cùng: Chúng
ta phải cải tổ Bộ dân uỷ Thanh tra Công
nông như thế nào? (23.1.1923)
và Thà ít
mà tốt (2.3.1923) (Lenin,
Toàn tập, tập 45, sđd, tr.435-460).
Trong hai bài viết nói trên, Lenin đề
nghị “mở một cuộc thi soạn
hai cuốn sách giáo khoa, hoặc nhiều hơn nữa, viết
về tổ chức công tác
nói chung, và đặc biệt là về
công tác quản lý”.
Ông nêu ví dụ về hai
cuốn sách của Ec-man-xki và
Kéc-gien-txép, là những cuốn
sách nói về
phương pháp Taylor, với hy vọng sử dụng những kinh nghiệm
đó của chủ
nghĩa tư bản để cải tiến lề lối làm việc của các
cơ quan nhà nước. Ông
còn đề nghị “cử một vài người
có năng lực và tận tâm sang Đức hay
sang
Anh để sưu tầm tài liệu và nghiên cứu
vấn đề”, thậm chí “sang Mỹ hay
Canada”.
Nhưng điều khó khăn hơn hết là ở chỗ:
chính quyền xô-viết, xét về
bản chất vẫn là bộ máy nhà nước kiểu
cũ, nhưng nó lại được lãnh đạo bởi
Đảng cộng sản bolshevik Nga. Có thể nói
nó là một sự hỗn hợp giữa bộ
máy quan liêu của Nga hoàng, của
Kerensky với bộ máy của Đảng cộng sản
bolshevik Nga, và được hướng dẫn về lý
thuyết bởi chủ nghĩa Marx.
Nếu chỉ cải tiến lề lối làm việc của bộ máy
nhà nước bằng cách dựa vào
kinh nghiệm của các nước tư bản thì vẫn
không thể giải quyết được vấn
đề, vì nguy cơ lớn nhất nằm ngay trong cơ quan đầu
não của Đảng, như Lenin đã cảnh
báo trong Thư gửi Đại hội.
Để giải quyết được mâu thuẫn nói trên,
Lenin đề nghị cải tiến bộ
máy nhà nước (và của đảng) bằng
cách “hợp nhất một cách độc
đáo bộ máy
kiểm tra của đảng với bộ máy kiểm tra của chính
quyền”. Bộ máy kiểm tra
của đảng tức là Ban kiểm tra Trung ương. Lenin hy vọng rằng
Ban kiểm
tra trung ương (với khoảng từ 75 đến 100 uỷ viên mới được lựa
chọn từ
công nhân và nông
dân) sẽ góp phần chấn chỉnh lại Đảng bolshevik
đang
có nguy cơ bị chia rẽ:
Và những uỷ viên Ban kiểm tra trung ương
có nhiệm vụ tham dự, với
một số lượng nhất định, vào mỗi phiên họp của Bộ
chính trị, sẽ phải là
một nhóm cố kết, nó, “không
được vị nể cá nhân”, phải giữ
gìn sao cho
không một quyền uy nào của Tổng bí thư
hay là của một uỷ viên nào trong
Ban chấp hành trung ương có thể ngăn cản
mình chất vấn, kiểm tra các hồ
sơ, và nói chung, nắm được tình
hình hết sức rõ ràng và xử
lý mọi việc
hết sức đúng đắn. (Sđd, tr. 440)
Mặt khác, bằng cách kết kợp Ban kiểm tra trung
ương của đảng với Bộ
dân uỷ thanh tra công nông của
nhà nước (gồm khoảng 300-400 nhân viên
được lựa chọn cẩn thận), Lenin hy vọng dùng quyền lực của
Đảng để nâng
cao uy tín của Bộ dân uỷ này. Với kinh
nghiệm học được từ các nước tư
bản, Bộ này sẽ cải tiến được bộ máy của nước Nga
xô-viết, sẽ góp phần
chống được chủ nghĩa quan liêu, bởi vì
“bọn quan liêu ấy đang tồn tại
không những trong các cơ quan xô-viết
mà cả trong các cơ quan đảng nữa”
(Sđd, tr. 451).
Có một chi tiết đáng nêu ra ở
đây: đó là việc trả lương cho
các viên chức Nhà nước ngang
với mức tiền lương của công nhân. Như
chúng ta đã biết, đây là một
trong hai biện pháp chống quan liêu của
Công xã mà Engels đã đề cao
là rất hữu hiệu. Trong Nhà nước
và cách mạng,
Lenin đã nhiệt liệt bênh vực cho biện
pháp này, chống lại ý kiến của
Bernstein. Nhưng trong đề án về việc cải tổ Bộ dân
uỷ thanh tra công
nông, ông lại đề nghị như sau:
Theo kế hoạch của tôi thì số 300 đến 400
nhân viên của Bộ dân uỷ
thanh tra công nông hiện còn lại, một
mặt sẽ làm nhiệm vụ thư ký cho
những uỷ viên khác trong Bộ dân uỷ thanh
tra công nông cũng như cho
những uỷ viên mới của Ban kiểm tra trung ương; mặt
khác, họ sẽ phải có
khả năng công tác cao, phải được thanh tra một
cách cẩn thận, phải là
người đặc biệt tin cẩn, và sẽ được hưởng lương cao
giúp cho họ thoát
khỏi hoàn cảnh thật sự là khốn khổ (nếu
không phải là hơn thế) như hoàn
cảnh hiện thời của những viên chức trong Bộ dân uỷ
thanh tra công nông (Sđd, tr.
438).
Điều đó có nghĩa là Lenin bắt đầu thấy
rõ việc trả lương cho viên
chức nhà nước ngang với lương công nhân
cũng tỏ ra là một biện pháp không
tưởng.
Thực tế lịch sử của Liên Xô sau khi Lenin mất
đã chứng minh rằng đề
án mà ông đề nghị với Đại hội XII (về
việc cải tổ Bộ dân uỷ thanh tra
công nông) là một dự án
không có hiệu quả. Lenin muốn ngăn ngừa sự chia
rẽ trong Đảng, nhưng sự chia rẽ giữa Stalin và Trotsky
mà ông nhìn thấy
trước, vẫn diễn ra theo một chiều hướng còn vượt
quá sự tưởng tượng của
chính ông: chẳng những loại bỏ Trotsky, Stalin
còn lần lượt loại bỏ hầu
hết những nhà lãnh đạo của Đảng bolshevik thuộc
thế hệ đầu tiên như:
Zinoviev, Kamenev, Bukharin, nguyên soái
Tukhachevsky...; đó là chưa kể
đến sự thanh trừng tàn nhẫn đối với chính những
thuộc hạ của ông [6] .
Việc xoá bỏ những nguyên tắc của chế độ đại nghị,
việc thực hiện nguyên tắc tập trung dân
chủ đã
tước mất của chế độ dân chủ vô sản cái
khả năng ngăn chặn xu hướng
chuyên chính hoá, quan liêu
hoá. Có thể nói sự thất bại của Lenin
và
Đảng cộng sản bolshevik Nga trong việc xoá bỏ bộ
máy nhà nước cũ, xây dựng bộ
máy nhà nước kiểu mới trong
thực tế đã làm cho chuyên
chính vô sản ngày càng biến
dạng, ngày càng
không giống với những hình ảnh đẹp đẽ
mà Marx và Engels đã vẽ ra bằng
trí tưởng tượng phong phú của hai ông.
© 2005 talawas
[1]Marcel
Liebman, "La révolution russe", collection Marabout
université, Ed. Gérard &
C°, Verviers-Belgique, 1967, tr. 368.
[2]Lénine,
La révolution bolchéviste,
Petite bibliothèque Payot, Paris 1963, tr. 26.
[3](b):
viết tắt của chữ bolshevik.
[4]Thường
được gọi là “Di chúc của
Lenin”.
[5]Histoire
de l’U.R.S.S., Editions
du Progrès, Moscou, 1977, tr. 82.
[6]Theo
tiết lộ của Khrushchev, trên tổng số gần 2000 đại biểu dự Đại
hội lần
thứ XVII (năm 1934) của ĐCSLX (một đại hội thể hiện sự chiến thắng
hoàn
toàn của phe Stalin), gần 60% đã bị bắt giam
vì những tội phản cách
mạng, chủ yếu trong những năm 1937-1938. Cũng trong thời gian thanh
trừng nói trên, trong tổng số 130 uỷ
viên Ban chấp hành trung ương được
bầu, 98 người (nghĩa là 70%) bị bắt và bị
hành quyết (Isaac Deutscher, Staline,
Gallimard, Paris 1964, tr. 689; Raymond Aron, "Démocratie et
totalitarisme", Collection Idées,
Gallimard, Paris 1965, tr. 278-279).