Mai Thái Lĩnh
Huyền thoại về một
nhà nước tự tiêu vong
Bàn về lý thuyết Nhà nước của Karl Marx
8 kì
Chương VIII
Từ chuyên chính vô sản đến
chuyên chính của đảng
Trái với dự kiến của Marx và Engels, quan niệm “chuyên
chính vô sản” khi đem
áp dụng vào thực tế đã không
tạo ra được một nhà nước kiểu mới chuẩn bị cho sự
tiêu vong của chính mình,
mà cũng không thể tạo ra những thiết chế
dân chủ hơn so với chế độ dân
chủ tư sản. Lịch sử trong thế kỷ XX đã cho thấy quan niệm ấy
chỉ dẫn
đến sự ra đời của một chế độ chuyên
chính kiểu mới, về bản chất
có nhiều điểm tương đồng với các chế độ độc
tài (chuyên chính) đã từng
có trong lịch sử, nhưng về hình thức
thì được hiện đại hoá, và được
tô
vẽ bằng một bề ngoài cách mạng,
dân chủ.
Nhà nước xô-viết - nhà nước
chuyên chính vô sản đầu tiên
trên thế giới, trong thực tế đã trở
thành một nhà nước tiêu biểu cho chế
độ toàn trị
(totalitarianism, totalitarisme), nghĩa là một thể chế trong
đó Nhà
nước khống chế, kiểm soát toàn bộ các
hoạt động của xã hội. Nhận xét về
nhà nước xô-viết dưới thời Stalin, Raymond Aron
cho rằng hiện tượng toàn trị thể hiện ở
năm yếu tố như sau:
- Một đảng duy nhất nắm độc quyền trong hoạt động
chính trị.
- Đảng chính trị độc quyền được trang bị một
ý thức hệ (hệ tư tưởng) và ý thức hệ
này trở thành chân lý
chính thống của Nhà nước.
- Để rao giảng chân lý chính
thống đó, Nhà nước nắm độc
quyền về các phương tiện bạo lực và
các phương tiện tuyên truyền. Tất
cả các phương tiện thông tin đại chúng
đều được lãnh đạo, chỉ huy bởi
Nhà nước.
- Phần lớn các hoạt động kinh tế và
nghề nghiệp đều lệ thuộc
vào Nhà nước và theo một
cách nào đó, trở thành một
bộ phận của chính
Nhà nước. Các hoạt động kinh tế và
nghề nghiệp này cũng được nhuộm màu
ý thức hệ.
- Mọi hoạt động đều là hoạt động của
Nhà nước và đều lệ
thuộc vào ý thức hệ, do đó mọi sai lầm
trong hoạt động kinh tế và nghề
nghiệp đồng thời cũng là một sai lầm về ý thức
hệ. Cuối cùng dẫn đến
một tình trạng chính trị hoá,
một sự chuyển hoá ý thức hệ
đối với mọi sai lầm có thể có của mọi
cá nhân; điều này dẫn đến một sự
khủng bố vừa mang tính chất cảnh sát, vừa mang
tính chất ý thức hệ. [1]
Sau Chiến tranh Thế giới thứ hai, chuyên chính
vô sản được nhân
rộng ra nhiều nước trên thế giới: ở Đông
Âu, châu Á, châu Mỹ
la-tinh,... Nhưng dù mang hình thức
nào, xô-viết hay
dân chủ nhân dân,
chuyên chính vô sản cũng là
một chế độ toàn trị, biểu hiện qua tình trạng độc
quyền toàn diện.
Chế độ toàn trị tuy có những điểm tương đồng
nhưng cũng có những
đặc điểm riêng làm cho nó
khác với các chế độ độc tài
khác trong xã hội
hiện đại. Trong khi một số chế độ độc tài (như của Salazar ở
Bồ Đào
Nha) chỉ độc quyền về chính trị nhưng vẫn cho
phép xã hội dân sự tồn
tại ở một mức dộ nhất định, thì chế độ toàn trị
không cho phép bất cứ
một hội đoàn, tổ chức xã hội nào hoạt
động, ngoại trừ các tổ chức do
Đảng lập ra hoặc kiểm soát, chi phối. Trong khi chế độ quốc
xã của
Hitler công khai bác bỏ các
giá trị dân chủ thì chế độ
toàn trị một mặt
áp dụng các biện pháp độc
tài, chuyên chế, mặt khác lại tự đề cao
mình
như một chế độ dân chủ ưu việt nhất, đích thực
nhất. Dựa trên thực tế
của nhà nước xô-viết, chúng ta
có thể xem xét chế độ toàn trị
trên ba
phương diện:
Trước hết là nạn độc quyền về
chính trị.
Mặc dù trong quan niệm của Marx và Engels,
chuyên chính vô sản là
chuyên chính của cả một giai cấp, và
giai cấp này theo dự kiến của Marx
sẽ ngày càng chiếm tuyệt đại đa số trong
xã hội, nhưng trong thực tế, chuyên
chính vô sản đã dần dần trở
thành chuyên chính của Đảng
cộng sản.
Có hai nguyên nhân dẫn đến
tình trạng độc quyền chính trị này.
Trước hết là việc chối bỏ những nguyên tắc của chế
độ đại nghị. Theo dự
kiến của Marx, hành động đập tan bộ máy
nhà nước cũ sẽ tạo điều kiện
cho giai cấp vô sản nói riêng
và nhân dân lao động nói
chung trực tiếp
nắm lấy quyền lực chính trị, không cần đến bộ
máy nhà nước chuyên môn
hoá nữa. Nhưng những lời thú nhận của Lenin trước
khi mất cho thấy dự
kiến này là một ảo tưởng. Xã hội hiện
đại không thể không cần đến bộ
máy nhà nước, vì vậy một khi bộ
máy nhà nước cũ bị đập tan thì ngay
lập
tức một bộ máy khác sẽ thay thế vào
đó. Bộ máy nhà nước mới, cho
dù
mang hình thức mới, về bản chất vẫn là một bộ
máy nhà nước tách rời
khỏi xã hội. Do chỗ những nguyên tắc của chế độ
đại nghị bị chối bỏ, bộ
máy này không gặp một sự ngăn cản, hạn
chế nào trên con đường phát
triển theo chiều hướng chuyên chính
hoá, quan liêu hoá. Các đảng
phái
chính trị khác lần lượt bị loại bỏ hoặc nếu
còn thì cũng chỉ là hình
thức trang trí; chế độ chuyên chính
vô sản về thực chất là chế độ độc đảng,
trong đó Đảng gắn chặt với Nhà nước.
Nhà nước là tổ chức công khai để
cai trị, điều hành xã hội, nhưng Đảng cộng sản ở
hậu trường mới là tổ
chức nắm thực quyền về chính trị.
Nguyên nhân thứ hai bắt nguồn từ chính
nguồn gốc của Đảng bolshevik
Nga. Như chúng ta đã biết, Đảng bolshevik Nga
lúc đầu chỉ là một bộ
phận của Đảng Dân chủ - xã hội Nga (tên
đầy đủ là Đảng Công nhân Dân
chủ - xã hội Nga, Russian Social Democratic Workers' Party).
Sự khác
biệt về quan điểm giữa Lenin và các
lãnh tụ khác của đảng xung quanh
vấn đề tổ chức đảng đã có ngay từ đầu thế kỷ XX.
Năm 1902, Lenin cho
xuất bản cuốn Làm gì?,
trong đó ông lập luận rằng cuộc cách
mạng ở Nga phải được lãnh đạo bởi một đảng bao gồm những
nhà cách mạng chuyên nghiệp, được tổ
chức theo kỷ luật kiểu quân sự,
nhằm lãnh đạo quần chúng công
nhân đến thắng lợi. Tại Đại hội lần 2 của
Đảng DCXH Nga (năm 1903), quan niệm của Lenin về tổ chức đảng
đã giành
được sự ủng hộ của đa số đại biểu, do đó mà phe
ủng hộ Lenin được gọi
là phái bolshevik (trong
tiếng Nga có nghĩa là đa số); trong
khi phe chủ trương đảng phải được tổ chức một cách lỏng lẻo
hơn, mở
rộng hơn – trong đó có Martov, chỉ
chiếm được thiểu số, được gọi là
phái menshevik (theo tiếng Nga
có nghĩ là thiểu số). Cuộc đấu
tranh giữa những người bolshevik và menshevik đã
dẫn đến kết quả là vào
năm 1912, những người bolshevik tách ra để thành
lập một đảng độc lập
lấy tên là Đảng bolshevik Nga.
Có thể nói tính chất kỷ kuật
sắt là một trong những yếu tố
quan trọng làm nên sức mạnh của Đảng bolshevik.
Trong hoàn cảnh của
những nước lạc hậu về kinh tế, trình độ dân
trí không cao, phong trào
cách mạng chịu sự đàn áp ác
liệt của các thế lực bảo thủ, phản động,
thì trong số các đảng phái đấu tranh
cho sự đổi mới, đảng cộng sản được
tổ chức theo kiểu bolshevik là tổ chức có sức
chịu đựng cao nhất, có
khả năng vượt qua được những sự đàn áp khốc liệt
nhất. Chính kỷ luật
sắt và ý chí cao đã
giúp Đảng bolshevik giành được chính
quyền và lần
lượt loại bỏ các đảng phái khác ra
khỏi chính trường nước Nga. Nhưng ưu
điểm trong đấu tranh giành quyền lực lại cũng là
nhược điểm trong thời
kỳ nắm chính quyền. Tính chất kỷ luật
sắt, tâm lý phục tùng
là
những yếu tố tạo điều kiện thuận lợi cho xu hướng tập trung quyền
hành,
độc đoán, chuyên quyền, nhất là khi
Đảng bolshevik độc chiếm chính
quyền.
Một số nhà nghiên cứu bênh vực cho Lenin
đã gán hết mọi sai lầm cho
Stalin, và lập luận rằng nếu Lenin còn sống,
có thể chế độ xô-viết sẽ
tốt hơn, dân chủ hơn. Tuy nhiên, mặc dù
chúng ta không thể lẫn lộn giữa
Stalin với Lenin, nhưng cũng cần phải thấy rằng xu hướng độc quyền
chính trị đã có ngay từ thời Lenin
còn sống.
Trong tác phẩm Bệnh ấu trĩ tả khuynh của
phong trào cộng sản (1920), Lenin
đã giải thích về mối quan hệ giữa lãnh
tụ - đảng - giai cấp - quần chúng như sau:
Thực hiện nền chuyên chính, là do giai
cấp vô sản được tổ chức
trong các Xô-viết và chịu sự
lãnh đạo của Đảng cộng sản
bôn-sê-vích gồm
611000 đảng viên, theo số liệu của Đại hội vừa qua (IV.1920).
(…)
Trong công tác, đảng dựa trực tiếp vào các
công đoàn mà theo số liệu của
đại hội vừa qua (IV.1920) thì hiện có
trên bốn triệu đoàn viên, và
về hình thức thì đó là
những tổ chức không đảng.
Thực ra, tất cả những cơ quan lãnh đạo của tuyệt đại đa số
công đoàn và
trước hết, dĩ nhiên là Trung ương hay Thường vụ
các công đoàn toàn Nga
(Hội đồng trung ương các công đoàn
toàn Nga) đều gồm những đảng viên
cộng sản và thi hành tất cả những chỉ thị của
đảng. Tóm lại, chúng ta
có một bộ máy vô sản, về
hình thức thì không phải là
cộng sản, một bộ
máy mềm dẻo và tương đối rộng rãi, rất
mạnh, một bộ máy mà thông qua
đó
đảng liên hệ chặt chẽ với giai cấp
và với quần chúng
và thông qua đó,
chuyên chính của giai cấp được thực hiện
dưới sự lãnh đạo của đảng. (Lenin, Sđd, tr.
57-59)
Như vậy có nghĩa là Đảng bolshevik độc chiếm
chính quyền, với một
bề ngoài mang dáng dấp “nhân
dân”. Nhưng nói Đảng bolshevik
lãnh đạo
không có nghĩa là quyền hành
được phân chia đồng đều cho hơn nửa triệu
đảng viên. Cũng chính Lenin đã giải
thích về cách điều hành hoạt động
của Đảng như sau: Đảng họp đại hội hàng năm, và
bầu ra một Ban chấp
hành trung ương gồm 19 uỷ viên.
“Và trong nước cộng hoà của
chúng ta,
không có một vấn đề chính trị hay tổ
chức quan trọng nào do một cơ quan
nhà nước giải quyết mà lại không
có chỉ thị của Ban chấp hành trung
ương Đảng”. Công tác hàng
ngày thì giao cho những tập thể ít
người hơn,
gọi là Ban Tổ chức (Orgburo, Orgbureau)
và Bộ chính trị (Politburo, Politbureau)
do Ban chấp hành bầu ra, mỗi tập thể có 5 uỷ
viên cử trong số uỷ viên Ban chấp hành
Trung ương. Lenin xác nhận: “Như vậy
là thành “nhóm quả
đầu” thực
sự” (Sđd, tr. 58).
Chế độ quả đầu (oligarchy, oligarchie) [2]
chính là chế độ thiểu số trị:
quyền hành tập trung vào tay một số
ít người.
Có thể trong thâm tâm Lenin vẫn tin rằng
với cách lãnh đạo
như thế, Đảng bolshevik sẽ giúp giai cấp công
nhân vươn lên làm chủ
được Nhà nước. Nhưng với những điều ông
thú nhận vào cuối đời, chúng ta
thấy rõ niềm tin đó chỉ là một ảo
tưởng.
Sau khi Lenin mất, Stalin đã tiến thêm một bước
mới khi ông công khai thừa nhận chuyên
chính vô sản là chuyên
chính của một đảng:
Ở Liên Xô, trên một đất nước
mà nền chuyên chính của giai cấp
vô
sản đang có hiệu lực, không có vấn đề
quan trọng nào về chính trị hay
về tổ chức, được giải quyết bởi các xô-viết
và các tổ chức quần chúng
khác của chúng ta, mà không
có chỉ thị từ Đảng của chúng ta. Theo nghĩa
đó, chúng ta có thể nói
rằng nền chuyên chính của giai cấp vô
sản xét
về bản chất là nền chuyên chính của
Đảng, với tư cách là lực lượng lãnh
đạo giai cấp vô sản một cách hiệu quả. (J. Stalin,
Leninism, 1928, tập 1, tr. 23. Trích
theo: Harry W. Laidler, History of Socialism, sdd,
tr. 428)
Song song với quá trình tập trung hoá,
chuyên chính hoá của quyền
lực Nhà nước, là một quá
trình tập trung quyền lực bên trong nội bộ
Đảng. Quá trình này đã diễn
ra ngay từ khi Đảng bolshevik nắm được
chính quyền, nhưng khi Lenin còn sống,
bên trong Đảng vẫn còn tồn tại
một tình trạng dân chủ nội bộ ở một mức độ nhất
định. Tuy vẫn còn ảnh
hưởng của nếp sinh hoạt chặt chẽ theo kỷ luật thép
và chỉ đạo từ bên
trên của thời kỳ hoạt động bí mật, sinh hoạt đảng
đã trở thành công
khai và các cuộc thảo luận diễn ra cũng
khá sôi nổi. Với uy tín cá
nhân
và kinh nghiệm dày dạn của mình, Lenin
đã cho phép các cuộc tranh luận
công khai trong nội bộ Đảng, trong Bộ chính trị
và Ban chấp hành Trung
ương, và thông thường thì ông
có khả năng thuyết phục được các đồng
chí
của mình.
Sau khi Lenin mất, Đảng cộng sản bolshevik ngày
càng đánh mất tính
chất dân chủ trong nội bộ Đảng. Quá
trình quan liêu hoá bộ máy
của Đảng
đã giúp cho Stalin kiểm soát được vấn
đề nhân sự, và củng cố vị trí
Tổng bí thư của ông. Bằng cách
liên minh khi thì với cánh tả, khi
thì
với cánh hữu trong Đảng, Stalin đã luôn
luôn giành được đa số trong các
cơ quan lãnh đạo tối cao của Đảng, và cuối
cùng đã loại bỏ được
Trotsky, kẻ thù nguy hiểm nhất của ông ta. Từ năm
1930 cho đến khi chết
(đầu năm 1953) là giai đoạn Stalin giành được
quyền lực tuyệt đối, là
người quyết định tất cả các vấn đề quan trọng. Tất cả
các phe phái đều
bị tiêu diệt một cách tàn nhẫn. Tất cả
những người chống đối, dù là
tiềm tàng, đều bị coi như những kẻ phản bội, bị
xét xử công khai hay bị
thủ tiêu trong nhà tù. [3]
Quyền uy tuyệt đối đã biến Stalin trở thành gần
như một bạo chúa.
Ông đã gây ra một tác động
khủng bố về mặt tâm lý chẳng những đối với
nhân dân Liên Xô mà
đối với cả các đồng chí của ông. Tại
Đại hội XX của
Đảng cộng sản Liên Xô (năm 1956), Tổng
bí thư Đảng lúc đó là N.
Khrushchev (người thường được coi là đại biểu cho chủ
nghĩa xét lại hiện đại) đã
phát biểu như sau:
Chính Stalin đã phát minh ra
khái niệm “kẻ thù của nhân
dân”.
(...); danh từ đó mở ra khả năng sử dụng sự đàn
áp khốc liệt nhất...
chống lại bất cứ ai tỏ ra, dù chỉ một chút, bất
đồng ý kiến với Stalin.
(Trích theo: Isaac Deutscher, Sđd, tr.
680)
Sau khi Stalin mất đi, một quá trình
dân chủ hoá đã diễn ra trong
nội bộ Đảng cộng sản Liên Xô. Những người cộng sản
Liên Xô tìm cách hạn
chế sự chuyên quyền của một cá nhân,
thay thế quyền lực của một cá nhân
bằng quyền lực của lãnh đạo tập thể,
nhưng điều đó cũng không thể làm cho
Nhà nước Xô-viết trở thành một chế độ
dân chủ.
Trước hết là mối quan hệ giữa Đảng và
Nhà nước. Theo hiến pháp
(được thông qua vào năm 1936 và được
sửa đổi vào tháng 10 năm 1977) thì
nền tảng chính trị của Liên bang Xô viết
được tạo thành bởi các Xô-viết
Đại biểu Nhân dân (Soviets
trong tiếng Nga có nghĩa là Hội
đồng). Các Xô-viết này hiện hữu ở tất
cả các cấp của hệ thống hành
chính, và xét về mặt danh nghĩa
thì quyền lực trên toàn thể
Liên bang
nằm trong tay Xô-viết tối cao bao gồm hai viện:
Xô-viết Liên bang và
Xô-viết các dân tộc. Điều
đáng nói là trong khi bầu cử
các Xô-viết, các
cử tri hiếm khi được phép chọn lựa ứng cử viên
nào khác mà phải chọn
những người đã được Đảng cộng sản giới thiệu. Mà
Đảng cộng sản Liên Xô
(ĐCSLX), mãi cho đến khi có sự sửa đổi điều 6 của
hiến pháp (tháng 3
năm 1990), vẫn luôn là “lực lượng
lãnh đạo và hướng dẫn của xã hội
xô-viết và là hạt nhân của hệ
thống chính trị”. Do đó, tuy về mặt
lý
thuyết, việc ban hành luật pháp đòi
hỏi phải có sự phê chuẩn của cả hai
viện của Xô-viết tối cao, nhưng trong thực tế, mọi quyết định
đều nằm
trong tay một nhóm nhỏ của Xô-viết tối cao được
biết dưới cái tên là
Đoàn chủ tịch (Presidium). Cơ quan này chịu ảnh
hưởng mạnh mẽ của Bộ
chính trị ĐCSLX, và mỗi quyết định có
sẵn khi đưa ra Xô-viết tối cao
đương nhiên được sự nhất trí
phê chuẩn của các đại biểu. Vai
trò của các Xô-viết trong
các nước cộng hoà và các
vùng lãnh thổ khác
chỉ là thực hiện các quyết định của
Xô-viết tối cao Liên Xô. Cho
nên có
thể nói đây là một hệ thống
chính trị độc đoán và cực kỳ tập trung
hoá.
Như vậy, xét về hình thức thì chế độ
xô-viết vẫn có Nhà nước với hệ
thống hoàn chỉnh từ trên xuống dưới, nhưng quyền
hành trong thực tế lại
nằm trong tay ĐCSLX. [4]
Ở Liên Xô, hiến pháp tuy có
nhưng chỉ là hình thức trang trí
bên
ngoài, còn nghị quyết của Đảng mới là
văn bản có giá trị pháp lý
cao
nhất. Hiến pháp đặt dưới nghị quyết của Đảng,
pháp luật đặt dưới kỷ luật của Đảng, đó
là sợi chỉ đỏ xuyên suốt hệ thống chính
trị xô-viết, một khuôn mẫu điển hình của
chuyên chính vô sản.
Bây giờ xét đến mối quan hệ bên trong
ĐCSLX. Xét theo điều lệ, cơ
quan lãnh đạo tối cao của Đảng là Đại hội Đảng,
nhưng Đại hội chỉ được
triệu tập năm năm một lần và mỗi kỳ đại hội có
đến hàng ngàn đại biểu
tham dự. Do đó Đại hội Đảng bầu ra các uỷ
viên của Ban chấp hành Trung
ương (BCHTƯ), và cũng theo điều lệ, BCHTƯ này
điều hành các công việc
của Đảng giữa hai kỳ đại hội. Do chỗ BCHTƯ cũng gồm đến hàng
trăm
người, lại chỉ họp mỗi năm hai lần, quyền hành trong thực tế
lọt vào
tay hai tổ chức: Bộ chính trị (Politburo)
và Ban bí thư (Secretariat).
Đây mới thực sự là những cơ quan nắm quyền thực sự
trong hệ thống chính
trị xô-viết. Bộ chính trị, với khoảng 12-15 uỷ
viên chính thức và 5-8
uỷ viên dự khuyết, do Ban chấp hành Trung ương bầu
ra, là cơ quan tối
cao hoạch định chính sách của đất nước,
và thực hiện quyền lực trên mọi
mặt của đời sống công cộng, kể cả đối nội và đối
ngoại. Ban bí thư chịu
trách nhiệm về các công việc
hành chính thường ngày của Đảng. Theo
điều
lệ, thành viên của Bộ chính trị
là do BCHTƯ bầu ra, nhưng trong thực
tế, Bộ chính trị là một cơ quan tự quyết định sự
tồn tại và kế tục của
chính mình, bởi vì chỉ có
Bộ chính trị mới có quyền quyết định thu nhận
thành viên mới và trục xuất
thành viên cũ. [5]
Chế độ xô-viết về thực chất là một chế độ thiểu
số trị (oligarchy, oligarchie): quyền lực tập trung
vào tay một cá nhân
hay ở một mức độ “dân chủ” hơn, được chia
sẻ giữa một vài cá nhân
có thế lực trong Bộ chính trị. Sự tranh chấp
quyền lực, nếu có, chỉ
diễn ra ở hậu trường, trong chốn cung đình, và
thường mãi về sau mới
được công chúng biết đến. Chế độ độc đảng
và nguyên tắc tập trung dân
chủ đã tước mất của nhân dân
Liên Xô cái khả năng kiểm
soát, khống chế
bộ máy Nhà nước. Nhân dân
không bao giờ làm chủ được về mặt chính
trị,
không bao giờ được quyền chọn lựa những người lãnh
đạo đất nước. Có thể
nói: quyền lực chính trị bị Đảng cộng
sản tước đoạt từ tay nhân dân
và trong nội bộ Đảng, quyền lực chính trị lại bị
một thiểu số tước đoạt
từ tay đại bộ phận đảng viên.
Đặc trưng thứ hai của chuyên chính vô
sản là độc quyền về tư tưởng.
Điều này bắt nguồn trước hết từ tính chất, đặc
điểm của chủ nghĩa
Marx. Xuất thân là một nhà triết học,
nhưng ngay từ lúc trở thành người
cộng sản, Marx đã muốn biến triết học thành
“vũ khí tư tưởng của giai
cấp vô sản”. Ông coi giai cấp
vô sản là giai cấp cách mạng nhất
của xã hội hiện đại, và tư tưởng của
ông chính là tư tưởng của giai cấp
vô sản, nghĩa là tư tưởng tiên tiến
nhất, cách mạng nhất. Trong thực tế
ông luôn luôn công
kích một cách gay gắt tất cả các
trường phái khác,
không phải chỉ những trường phái phi -
xã hội chủ nghĩa mà cả những
trường phái xã hội chủ nghĩa như Lassalle,
Proudhon, v.v...
Đến Lenin thì mức độ không khoan nhượng
càng tăng lên một bậc. Tự
coi là người mác-xít chân
chính nhất, trung thành nhất với tư tưởng của
Marx và Engels, Lenin đả kích gay gắt mọi
lãnh tụ tư tưởng khác của
phong trào mác-xít đương thời, kể cả
Kautsky và Plekhanov là những
người mà ông đã từng ngưỡng mộ.
Ông gọi những người bất đồng tư tưởng
trong phong trào công nhân bằng những
danh từ tệ hại nhất : tên phản bội, kẻ đầy tớ của
giai cấp tư sản, kẻ vô lại bán mình cho
giai cấp tư sản, thậm chí: “con
chó”. [6]
Thái độ gay gắt đến mức thù địch của Lenin đối
với các lãnh tụ của Quốc
tế II có thể giúp ta hiểu được phần
nào thái độ độc đoán, kiêu
ngạo của
những người cộng sản đối với những người cộng tác với họ,
thậm chí đã
từng đồng cam cộng khổ với họ, nhưng không chịu phục
tùng họ hoặc tỏ ra
bất đồng ý kiến với họ.
Sau khi Lenin chết, Stalin đã biến Lenin trở
thành một vị thánh.
Chủ nghĩa Marx trở thành hệ tư tưởng chính thống,
và để phân biệt chủ
nghĩa Marx theo cách giải thích của Lenin với chủ
nghĩa Marx theo cách
giải thích của Bernstein hay Kautsky, Stalin đã
sáng tạo ra một tên gọi
mới: chủ nghĩa Marx-Lenin (marxism-leninism,
marxisme-léninisme).
Với bộ máy nhà nước hùng mạnh trong
tay, Stalin đã biến chủ nghĩa Marx-Lenin thành
một ý thức hệ mang tính hệ
thống, được đại chúng hoá đến mức có
thể dùng làm kinh điển để
dạy cho bất cứ ai, từ học sinh, sinh viên cho đến
cán bộ, đảng viên -
kể cả những người có một trình độ học vấn rất
thấp. Triết học bị tiêu
diệt. Cái gọi là triết học Marx-Lenin thực tế chỉ
còn là một mớ giáo
điều được giải thích theo một cách duy nhất,
tương tự như Nho giáo ở
Trung Quốc và Việt Nam thời trung cổ chỉ được
phép giải thích theo sách
của Chu Hy.
Chủ nghĩa Marx-Lenin trở thành ý thức hệ quốc
gia, chiếm địa vị
thống trị trong toàn bộ đời sống tư tưởng - văn
hoá của xã hội. Chẳng
những chi phối toàn bộ các môn khoa học
xã hội, nó còn thống trị cả
các
hoạt động văn học - nghệ thuật, thậm chí còn chi
phối cả các môn khoa
học tự nhiên nữa. Chủ nghĩa hình thức (formalism,
formalisme) trong âm
nhạc đã từng bị kết án là tư sản
và phản động. Trường phái trừu tượng
trong hội hoạ trong một thời gian dài bị coi như một biểu
hiện của sự
sa đoạ tư sản. Thậm chí học thuyết di truyền của Mendel cũng
bị kết án,
dẫn đến sự chậm tiến của ngành sinh học trong một thời gian
dài.
Mục đích của độc quyền về tư tưởng là để nhằm bảo
vệ chuyên chính
vô sản, bảo vệ độc quyền của Đảng trong lĩnh vực
chính trị, đúng như
nhận xét của Raymond Aron:
Công thức chuyên chính vô sản
được dùng để biện minh cho độc quyền
mà đảng tự giành cho mình;
công thức dân chủ tập trung được dùng để
biện minh và nguỵ trang cho quyền lực toàn năng
của một vài người hay,
đôi khi, cho một người duy nhất. (R. Aron, Sđd, tr.265).
Sự thống trị của một ý thức hệ chính thống tương
tự như một thứ quốc giáo đã
khiến cho một số nhà nghiên cứu muốn xếp
nhà nước xô-viết vào loại chế độ thần
quyền, thần học trị (theocracy, théocratie).
Giáo sư C. Northcote Parkinson, trong giáo
trình Sự tiến hoá của tư tưởng
chính trị (The Evolution of Political Thought)
đã viết:
Nếu những nét đặc trưng của chế độ thần quyền là
một giáo chủ, một
huyền thoại, một cuốn Kinh thánh, một tầng lớp tăng lữ, một
địa điểm
hành hương, một Toà án tôn
giáo, thì chủ nghĩa cộng sản phải được coi
là một trong những tôn giáo
trên thế giới. (C.Northcote Parkinson, L’évolution
de la pensée politique, bản dịch tiếng
Pháp, Nxb Gallimard, Collection Idées,
Paris 1964, 2 tập)
Ông nhận xét về cuốn Tư bản,
tác phẩm quan trọng nhất và đồ sộ nhất của Marx
như sau:
Chính vì thế cuốn Tư bản
không thể so sánh với bất cứ một
tác phẩm khoa học nào khác. Người ta
gọi nó là “Kinh thánh của
người
lao động”, và điều đó đủ để
nói lên bản chất của nó. Tốt hơn
là so sánh
nó với Kinh Thánh, Kinh Coran, với Luận ngữ. Chỉ
có những sách tôn giáo
mới không bao giờ lỗi thời. (Sđd, tr. 341)
Parkinson cũng nhận xét rằng người ta có thể
tìm thấy ở những người
cộng sản sự thiếu khoan dung của Ki-tô giáo thời
nguyên thuỷ, sự cuồng
tín của Hồi giáo buổi ban đầu (Sđd, tr.
342).
Mặc dù vậy, chúng ta cũng không thể xếp
chuyên chính vô sản vào
loại chế độ thần quyền (thần học trị), bởi vì giữa chủ nghĩa
Marx và
các tôn giáo có một số điểm
khác biệt: các tôn giáo
hướng đến thế giới
bên kia (au-delà) trong khi chủ nghĩa Marx hướng
đến thế giới hiện tồn
(en-deçà); niềm tin tôn giáo
không dựa vào lý trí,
vào khoa học trong
khi chủ nghĩa Marx tự nhận mình là khoa học.
Các tôn giáo chỉ sa lầy
vào chính trị khi có sự lẫn lộn giữa
thần quyền và thế quyền; tách Giáo
hội ra khỏi Nhà nước là có thể trả
tôn giáo trở về với bản chất đích
thực của nó. Trong khi đó, Marx chủ trương dấn
thân, nhập thế, hứa hẹn
vào một thiên đàng ngay giữa
chốn trần gian; cho nên khi thực
tế không chứng minh được lý thuyết thì
quần chúng sẽ dễ dàng thức tỉnh
và một khi đảng cộng sản tách ra khỏi quyền lực
Nhà nước, sức mạnh của
chủ nghĩa Marx cũng nhanh chóng bị đánh mất. Mặc
dù niềm tin cộng sản
có những điểm tương đồng với niềm tin tôn
giáo nhưng về lâu về dài,
quần chúng không thể lấy niềm tin cộng sản để thay
thế cho niềm tin tôn
giáo. Về điểm này, chủ nghĩa Marx gần gủi với Nho
giáo hơn là các tôn
giáo trên thế giới. Nhưng chủ nghĩa Marx cũng
khác với Nho giáo ở chỗ
Khổng Tử kêu gọi lòng nhân
ái, mặc dù lòng nhân
ái của ông bị các vua
chúa lợi dụng; trong khi Marx lại khơi dậy lòng
hận thù và chấp nhận
bạo lực như một đòn bẩy để thúc đẩy sự
phát triển của xã hội.
Một cách chính xác hơn, có
lẽ chúng ta nên coi chuyên
chính vô sản như một chế độ tư tưởng
trị, ý thức hệ trị (idéocratie), tức
là một chế độ dựa trên một ý thức hệ
và muốn làm cho xã hội phù
hợp với ý thức hệ đó. (Xem: R.Aron, Sđđ,
tr. 243)
Đặc điểm thứ ba của chuyên chính vô sản
là độc quyền về kinh tế.
Kinh nghiệm của cách mạng vô sản Nga và
các cuộc cách mạng theo
khuôn mẫu của Lenin đã cho thấy sau khi
xoá bỏ chế độ tư hữu, những
người bolshevik đã không thể thiết lập chế độ
công hữu xã hội chủ nghĩa
hay cộng sản chủ nghĩa, mà chỉ có thể thiết lập chế
độ sở hữu Nhà nước nhân
danh lý tưởng cộng sản. Sự hình thành
một khu vực kinh tế quốc doanh
rộng lớn sau cách mạng vô sản đã tạo
cho chuyên chính vô sản một chỗ
dựa vô cùng to lớn về mặt kinh tế. Nói
cách khác, độc quyền về kinh tế
là điều kiện để củng cố độc quyền về chính trị.
Năm 1957, một nhà lý luận cộng sản ly khai người
Nam Tư tên là Milovan Djilas đã cho
công bố một tác phẩm nhan đề Giai cấp mới,
trong đó ông cho rằng ở Liên
Xô và các nước cộng sản
khác, sau khi giai
cấp tư sản và các giai cấp có nguồn
gốc cũ bị tiêu diệt thì một giai cấp mới
được hình thành: đó
là giai cấp thư lại (bureaucracy, bureaucratie)
[7] , hay
nói chính xác hơn là giai
cấp thư lại chính trị (political bureaucracy). Gốc
rễ của giai cấp này bắt đầu từ một đảng chính trị
đặc biệt: đảng kiểu bolshevik.
Nói chính xác hơn, những người
tiên khởi của giai cấp này xuất phát từ
một giai tầng đặc biệt trong lòng đảng chính trị
kiểu bolshevik, đó là
các nhà cách mạng chuyên
nghiệp. Giai cấp này, theo Djilas, là những
ông chủ mới và những kẻ bóc lột mới
trong xã hội cộng sản:
Là đảng viên của Đảng cộng sản trước
Cách mạng có nghĩa là sự hy
sinh. Trở thành một nhà cách mạng
chuyên nghiệp là một trong những vinh
dự cao nhất. Ngày nay đảng đã củng cố quyền lực
của mình, là đảng viên
có nghĩa là thuộc về một giai cấp có
đặc quyền. Và ở cốt lõi của của
đảng là những kẻ bóc lột và những
ông chủ nắm mọi quyền lực. (Milovan
Djilas, The New Class, trích từ:
Essential Works of Marxism, edited by Arthur P. Mendel,
Bantam Books, Bantam Matrix Edition, New York 1965, tr. 327)
Thực ra, nếu xem xét theo đúng định nghĩa của
Marx về giai cấp thì
giai cấp thư lại mà Djilas nói đến
không phải là một giai cấp đúng
nghĩa, bởi vì tiêu chuẩn để định nghĩa giai cấp
này là tiêu chuẩn chính
trị chứ không phải tiêu chuẩn kinh tế. Trong
xã hội cộng sản, trước hết
phải là đảng viên hay cán bộ, người ta
mới được hưởng các đặc quyền về
kinh tế; trong trường hợp mất chức hoặc bị khai trừ Đảng,
thì lập tức
các đặc quyền kinh tế cũng bị mất theo. Có thể
nói đây là một đẳng cấp hơn
là một giai cấp.
Đẳng cấp này rất giống với đẳng cấp quan lại trong
các xã hội Á Đông
theo Nho giáo (Trung Quốc, Việt Nam). Nhưng khác
với đẳng cấp quan lại,
đẳng cấp mới này (thường được gọi là nomenklatura),
ngoài các
quan chức nhà nước còn bao gồm các
nhà quản lý kinh tế (managers) và
các nhà kỹ thuật (technicians). Tiêu
chuẩn để gia nhập đẳng cấp này
trước tiên và chủ yếu phải là
lòng trung thành tuyệt đối đối với Đảng
cộng sản – dù là đảng viên
hay là người ngoài đảng. Tiêu chuẩn
này
tương tự như tiêu chuẩn trung quân
của đẳng cấp quý tộc - quan lại ở các nước
Á Đông theo Nho giáo ngày
xưa.
Cũng cần nói thêm là chế độ sở hữu
nhà nước không phải là điều mới
lạ trong lịch sử. Năm 1957, một nhà sử học-xã hội
học người Mỹ gốc Đức
tên là Karl Wittfogel đã xuất bản một
tác phẩm nhan đề Chủ nghĩa chuyên chế
phương Đông (Oriental Despotism), với nội dung như
sau:
Trong cuốn Góp phần phê phán
khoa kinh tế - chính trị học, ngoài
những phương thức sản xuất cổ đại, phong kiến, tư bản chủ nghĩa, Marx
còn thừa nhận một phương thức sản xuất khác
mà ông gọi là phương thức sản
xuất châu Á.
Phương thức này được Marx (và cả Lenin nữa)
đánh giá là hoàn
toàn khác
với tất cả các phương thức mà người ta
có thể tìm thấy trong các
xã hội
phương Tây.
Trong phương thức sản xuất châu Á, Nhà
nước nuốt chửng toàn bộ xã
hội, hay ít nhất cũng mạnh hơn xã hội, bởi
vì những người quản lý lao
động tập thể là những công chức. Nông
nghiệp đòi hỏi việc sử dụng
thường xuyên nước của các dòng
sông. Chính vì thế, ở Ai Cập
và Trung
Quốc, đã hình thành một chế độ kinh tế
và xã hội trong đó Nhà nước
nếu
không phải là chủ sở hữu của các phương
tiện sản xuất thì ít nhất cũng
là người tổ chức lao động tập thể. Những người được hưởng
đặc quyền là
những người bằng cách này hay cách
khác gắn bó với Nhà nước hay đại
diện cho Nhà nước. Phương thức sản xuất châu
Á không bao gồm những giai
cấp theo nghĩa phương tây của danh từ, mà bao gồm
một sự phân chia đẳng
cấp mang tính nhà nước và quan
liêu. Những đế quốc lớn ở châu Á
và vùng
Cận Đông, được xây dựng trên phương thức
sản xuất châu Á, là những đế
quốc đặc biệt bền vững. Kết cấu xã hội vừa đơn giản vừa vững
bền. Nhà
nước chiếm lấy toàn bộ các chức năng
lãnh đạo, điều hành của xã hội
bằng cách loại trừ tất cả các trung tâm
quyền lực độc lập. Khi việc
quản lý lao động thuộc về Nhà nước và
Nhà nước là duy nhất, thì
xã hội
vừa có tính đồng nhất vừa có
tính đẳng cấp. Các tập thể, cộng đoàn
trong xã hội tuy khác nhau về lối sống, về phong
cách sống, nhưng không
có cộng đoàn hay tập thể nào
có quyền lực riêng, bởi vì tất cả đều
hội
nhập vào cơ cấu của Nhà nước.
Những đặc điểm của các đế chế quan liêu ấy cũng
có thể được tìm
thấy trong các xã hội được tổ chức theo kiểu mẫu
của chế độ xô-viết:
Nhà nước độc quyền quản lý lao động tập thể, bộ
máy thư lại Nhà nước,
giai cấp đặc quyền đặc lợi, những đối kháng không
có đấu tranh giai cấp
theo nghĩa của phương Tây. [8]
Mặc dầu quan niệm về nền văn minh thuỷ lực (hydraulic
civilization)
của Wittfogel bị nhiều nhà sử học phê
phán vì ông coi các
công trình
thuỷ lợi như nguyên nhân hàng đầu
hình thành nên các thiết chế
chính
trị mang tính cưỡng chế [9]
, nhưng những trình bày của ông về chế
độ chuyên chế phương Đông giúp
chúng ta thấy rõ sự xuất hiện của chế độ sở hữu
Nhà nước trong lịch sử,
và tác động to lớn của nó đối với
các chế độ chính trị chuyên chế kiểu
phương Đông.
Nước Nga dưới thời Sa hoàng là một quốc gia nửa
- châu Á,
chính Lenin cũng thừa nhận như vậy. Do đó, sau
Cách mạng tháng Mười,
khi những người bolshevik xoá bỏ chế độ tư hữu
thì chế độ sở hữu Nhà
nước kiểu châu Á lại tái sinh, với quy
mô lớn hơn, và tính chất hiện
đại hơn. Độc quyền về kinh tế không hề tạo điều kiện cho một
chế độ
chính trị dân chủ mà chỉ tạo điều kiện
cho một chế độ Nhà nước toàn
trị: Nhà nước nuốt chửng toàn bộ xã
hội công dân thay vì xã hội
công
dân nuốt chửng toàn bộ Nhà nước như
Marx đã tiên đoán.
Thực tế của xã hội xô-viết và tất cả
các nước được tổ chức theo mô
hình đó đã chứng tỏ rằng một chế độ
độc quyền về kinh tế, trong đó Nhà
nước nắm hầu hết các phương tiện sản xuất chủ yếu,
không thể tạo điều
kiện cho người dân làm chủ xã hội. Về
điểm này thì Proudhon có lý
hơn
Marx. Và điều này cũng lý giải được
tình hình tại sao đến cuối thể kỷ
XX – đầu thế kỷ XXI, một số đảng cộng sản cầm quyền (như ở
Trung Quốc,
Việt Nam) đã buộc phải chấp nhận kinh tế thị trường nhưng
vẫn cố ôm khư
khư một khu vực kinh tế quốc doanh rộng lớn (nhưng kém hiệu
quả) để
củng cố vai trò độc tôn của mình trong
lĩnh vực chính trị.
*
Chuyên chính vô sản, qua các
đặc điểm vừa nêu trên, không thể
là một chế độ dân chủ, mà chỉ
là một chế độ thiểu số trị (oligarchy, oligarchie),
trong đó quyền lực rơi vào tay một đẳng cấp
có đặc quyền trong xã hội
(các đảng viên cộng sản); và trong nội
bộ đẳng cấp này, quyền lực lại
được tập trung vào tay một vài người
có thế lực trong Bộ chính trị,
thậm chí rơi vào tay một cá
nhân.
Nguyên nhân của tình hình
này bắt nguồn từ chỗ Marx bác bỏ những
nguyên tắc của chế độ đại nghị. Chính
vì bác bỏ chế độ đại nghị cho nên
chuyên chính vô sản thiếu hẳn một cơ
chế hãm có khả năng ngăn
chặn tình trạng lạm dụng quyền lực. Điều đáng lưu
ý là những giải pháp
mang tính dân chủ mà Marx và
Engels đã nêu lên qua kinh nghiệm của
Công
xã Paris đều không được thực hiện, hay
nói đúng hơn là không thể
thực
hiện được:
Trước hết là việc bầu và bãi miễn
các thành viên của Nhà nước.
Do
chỗ Đảng cộng sản độc chiếm quyền lực chính trị cho
nên việc bầu cử
trong các nước xã hội chủ nghĩa theo mô
hình của Lenin chỉ là một sinh
hoạt mang tính hình thức nhằm hợp pháp
hoá việc chọn lựa nhân sự của
Đảng: dân được quyền bầu cử, nhưng danh sách ứng
cử viên lại do Đảng
chọn; dân chỉ được quyền chọn lựa trong số những người Đảng
đã chọn
trước. Những người bất đồng chính kiến hay không
được Đảng tin cậy đều
bị gạt ra khỏi danh sách trước đó. Việc bầu
các chức danh chủ chốt lại
càng chặt chẽ hơn, đến mức các chức vụ chủ chốt
của bộ máy Nhà nước hầu
như được qưyết định trước trong các cuộc họp của Đảng.
Với cung cách ứng cử, bầu cử như thế thì người
dân hoàn toàn không
có quyền bầu và bãi miễn bất cứ một
ai. “Đảng cử, dân bầu”.
Nói cách khác bầu cử chỉ là
một hình thức xem xét mức độ tín nhiệm
để bảo đảm cho ý Đảng hợp với lòng
dân.
Trong trường hợp lòng dân và
ý Đảng không phù hợp thì
người dân cũng
không biết cách nào hơn là
trông chờ vào sự sáng suốt của Đảng: sự
trông chờ này có cái
gì tương tự như sự trông chờ của dân
đen vào sự sáng suốt của thiên
tử và các cận thần trong
các xã hội Á Đông chịu ảnh
hưởng của Nho giáo.
Mặt khác, trong khi Marx và Engels ca ngợi
Công xã Paris vì đã
công
khai hoá mọi hoạt động của mình, thừa nhận những
khuyết điểm của mình
thì chuyên chính vô sản trong
thực tế luôn luôn che giấu các hoạt động
của mình, nhất là che giấu khuyết điểm - kể cả
những sai lầm tệ hại
nhất. Câu chuyện về Di chúc của Lenin
là một ví dụ điển hình cho
tính chất che giấu, bí mật trong các
hoạt động của Đảng cộng sản LiênXô.
Văn kiện này có tên chính
thức là Thư gửi Đại hội.
Lá
thư này gồm có hai phần: phần đầu được viết trong
thời gian từ 23 đến
26.12.1922, phần thứ hai (bổ sung) được viết vào
ngày 4.1.1923, với mục
đích dành để gửi cho một Đại hội thường kỳ của
ĐCS (b) Nga. Do tình
trạng sức khoẻ kém, Lenin không thể tự viết
mà phải đọc cho thư ký ghi.
Lá thư được chép thành vài
bản, được niêm phong cẩn thận. Chỉ có Lenin
mới được mở niêm phong và trong trường hợp
ông chết, thư phải do chính
tay Krupskaia (vợ ông) mở. Mặc dù lá
thư được viết trước Đại hội lần
thứ XII (tháng 4 năm 1923), nhưng lá thư vẫn chưa
được công bố tại Đại
hội này. Mãi đến tháng 5 năm 1924, bốn
tháng sau khi Lenin mất và vài
ngày trước khi khai mạc Đại hội lần thứ XIII, Krupskaia mới
chuyển lá
thư đến Ban chấp hành trung ương và
nói rõ yêu cầu của Lenin là
lá thư
phải được công bố trước Đại hội. Nhưng BCH TƯ (lúc
này đã bị Stalin
khống chế ) quyết định chỉ đọc lá thư tại từng
đoàn đại biểu riêng lẻ
thay vì đọc trước Đại hội, đồng thời cấm sao
chép, công bố hay trích
dẫn. Do sự ém nhẹm đó, bức thư đã
không được công chúng ở Liên
Xô biết
đến; mặc dù ở phương tây, Max Eastman
đã công bố vài đoạn của lá
thư
trong tác phẩm Từ khi Lenin chết
vào năm 1925, và báo The New
York Times
đã công bố toàn văn lá thư
vào năm 1926. Ở Liên Xô, mãi
đến Đại hội XX
của ĐCSLX (năm 1956), người ta mới biết được lá thư
đó. Tại Đại hội,
Khrushchev đã trích đọc một số đoạn trong
lá thư để làm căn cứ cho việc
tố giác tội ác của Stalin; và sau Đại
hội, toàn văn di chúc của Lenin
được công bố rộng rãi cho công
chúng biết [10] .
Che giấu sự thật gần như trở thành đặc điểm chung cho tất cả
các chế độ học tập theo mô hình
chuyên chính vô sản của Lenin. “Dân
biết, dân bàn, dân làm,
dân kiểm tra”; trong bốn vế ấy, chỉ
có vế thứ ba (dân làm)
là được thực hiện, còn ba vế kia chỉ
là khẩu hiệu suông, không có
thực chất.
Marx và Engels mong ước sau khi giai cấp vô sản
nắm chính quyền, sẽ
khởi đầu một quá trình xã hội
hoá Nhà nước, đến mức xã hội
công dân
nuốt mất Nhà nước. Trong thực tế, đã diễn ra một
quá trình nhà-nước-hoá
xã hội công dân, đến mức Nhà
nước nuốt chửng toàn bộ xã hội. Sở dĩ
có
quá trình đảo ngược ấy là do sự
lãnh đạo của Đảng cộng sản được tổ chức theo
khuôn mẫu của Đảng bolshevik.
© 2005 talawas
[1]Raymond
Aron, Démocratie et totalitarisme, sđd,
tr. 287-288.
[2]Oligarchy,
oligarchie: Danh từ có nguồn gốc từ chữ Hy Lạp oligo
(số ít) và arkhê (quyền
chỉ huy). Dùng để chỉ một chế độ chính trị trong
đó quyền lực nằm trong
tay một vài người hay một vài gia đình
(Petit Larousse). Đào Duy Anh
dịch là quả đầu chính trị (Từ
điển Hán Việt), Thanh Nghị dịch là quả
đầu chính thể (Pháp Việt tân
từ điển minh hoạ). Quả trong tiếng
Hán-Việt có nghĩa là ít.
Cách dịch này chính xác hơn
là cách dịch hiện nay : chính
thể đầu sỏ, chế độ đầu sỏ.
[3]Raymond
Aron, Sđd, tr. 258-264.
[4]“Union
of Soviet Socialist Republics”, Encyclopædia
Britannica 2000, 1994-2000.
[5]“Communist
Party of the Soviet Union”, Encyclopædia
Britannica 2000, 1994-2000.
[6]“So
với tên phản bội Kautxky, thì tên phản
bội Bernstein chẳng qua chỉ là một con chó con
mà thôi” (Lenin, Cách
mạng vô sản và tên phản bội Cau-xky,
sđd, tr. 27).
[7]Còn
được dịch là giai cấp quan liêu.
[8]Raymond
Aron, Sđd, tr. 312-315.
[9]Xem:
“Hydraulic civilization”, Encyclopædia
Britannica 2000, 1994-2000.
[10]“Lenin’s
Testament”, Encyclopædia Britannica 2000,
1994-2000.