Milovan Djilas
Giai cấp mới
10 ḱ
Phạm Minh Ngọc dịch
Giai cấp mới
1.
Như đă nói ở trên, tại Liên Xô và các nước cộng sản khác, tất cả đă diễn ra
không như tưởng tượng của các lănh tụ nổi tiếng nhất như Lenin, Stalin, cũng
như Trotsky và Bukharin. Cứ theo quan niệm của họ th́ bộ máy nhà nước Liên
Xô sẽ ngày một yếu đi, trong khi nền dân chủ sẽ ngày một mạnh thêm. Đă xảy
ra điều hoàn toàn ngược lại. Người ta cho rằng mức sống sẽ được nâng cao
nhanh chóng trong một tương lai không xa, nhưng hoá ra đời sống được cải
thiện không đáng kể, trong các nước Đông Âu mức sống lại có phần bị sụt giảm:
dù sao th́ sự cải thiện điều kiện sống cũng không tương xứng với mức độ công
nghiệp hoá. Người ta từng tin tưởng rằng mâu thuẫn giữa thành thị và nông
thôn, giữa lao động trí óc và lao động chân tay sẽ dần được san bằng, nhưng
hoá ra các mâu thuẫn này ngày một sâu sắc thêm. T́nh h́nh cũng xảy ra tương
tự trong các lĩnh vực khác, kể cả các dự đoán về sự phát triển của thế giới
phi cộng sản.
Nhưng ảo tưởng lớn nhất chính là ảo tưởng rằng cùng với việc công nghiệp hoá
và tập thể hoá nghĩa là cùng với việc thủ tiêu sở hữu tư bản chủ nghĩa, Liên
Xô sẽ trở thành xă hội phi giai cấp. Năm 1936, nhân dịp công bố Hiến pháp
mới, Stalin tuyên bố rằng ở Liên Xô đă không c̣n giai cấp bóc lột, nhưng
trên thực tế người ta không chỉ thực hiện xong quá tŕnh thủ tiêu các nhà tư
sản và các giai cấp khác của chế độ cũ mà c̣n thiết lập một giai cấp hoàn
toàn mới, chưa từng có trong lịch sử.
Dễ hiểu là giai cấp mới này, cũng như mọi giai cấp trước nó trong quá khứ đă
tự coi sự thống trị của ḿnh là sự toàn thắng của hạnh phúc và tự do cho tất
cả mọi người. Chỉ có một khác biệt duy nhất: thiếu khoan dung hơn, nó không
cho phép nghi ngờ những ảo tưởng do nó áp đặt và không cho phép nghi ngờ
quyền cai trị của ḿnh. Điều đó lại chứng tỏ rằng sự thống trị của nó toàn
triệt hơn mọi chế độ từng được biết đến trong lịch sử, thành kiến và ảo
tưởng giai cấp của nó cũng tương đương như thế.
Cái giai cấp mới, tầng lớp quan liêu, đúng hơn phải nói tầng lớp chính trị
quan liêu, không những mang trong ḿnh nó tất cả đặc thù của các giai cấp
bóc lột trước đó mà c̣n có những đặc trưng riêng biệt, khác hẳn. Ngay sự
xuất hiện của nó, tuy có nhiều điểm chung với sự xuất hiện của những giai
cấp khác, nhưng vẫn có những khác biệt.
Các giai cấp khác, trong đại đa số các trường hợp, cũng giành được tài sản
và quyền lực bằng con đường cách mạng, nghĩa là phá bỏ các quan hệ chính
trị, xă hội và các quan hệ cũ khác. Nhưng các giai cấp đó giành được chính
quyền sau khi các h́nh thức kinh tế mới đă có thế thượng phong trong ḷng xă
hội cũ. Giai cấp mới trong hệ thống cộng sản xuất hiện không phải với mục
đích hoàn thành các cuộc cải cách mà với ư định đặt nền móng cho các quan hệ
kinh tế mới và sự thống trị của chính nó đối với xă hội.
Trong các thời đại trước, việc giành chính quyền của một giai cấp, một bộ
phận của giai cấp hay của một đảng nào đó chính là hành động cuối cùng trong
việc tạo lập và h́nh thành ư thức của thời đại. Tại Liên Xô t́nh h́nh diễn
ra khác hẳn: giai cấp mới chỉ thực sự h́nh thành sau khi đă nắm được quyền
lực. Nhận thức về thời đại tiếp tục phát triển - và phải phát triển v́ cho
đến lúc đó nó chưa ăn sâu, bén rễ vào đời sống của dân tộc – vượt trước cả
khả năng kinh tế và khả năng vật lí của nó; c̣n vai tṛ của dân tộc và bức
tranh của thế giới th́ được vẽ ra dưới dạng lí tưởng hoá. Điều này tuy nhiên
không làm giảm khả năng thực tế của nó. Ngược lại là khác. Cùng với những ảo
tưởng và mặc dù có những ảo tưởng như thế, giai cấp mới chính là hiện thân
của xu hướng công nghiệp hoá, một xu hướng đă trở thành đ̣i hỏi khách quan.
Từ đó cũng xuất hiện tính thực dụng của nó. Niềm tin vào một thế giới lí
tưởng do chính nó hứa hẹn đă cố kết đội ngũ, đă reo rắc ảo tưởng vào trong
quần chúng nhưng cũng kêu gọi và động viên họ hoàn thành những công việc có
ư nghĩa thực tiễn to lớn.
V́ giai cấp mới không thoát thai từ cội nguồn của các tiến tŕnh kinh tế-xă
hội hiện thực, ta chỉ có thể t́m thấy mầm mống của nó bên trong một tổ chức
đặc biệt, một tổ chức dựa trên kỉ luật sắt và sự thống nhất về mặt tư tưởng.
Họ phải lấy những nhân tố chủ quan, đấy là sự thống nhất về nhận thức và kỉ
luật sắt để bù vào những khiếm khuyết khách quan trong lĩnh vực kinh tế và
các lĩnh vực khác trong đời sống xă hội trong những giai đoạn đầu.
Nguồn gốc của giai cấp mới là đảng kiểu mới, đảng bolshevik. Lenin đă hoàn
toàn có lí khi cho rằng đảng do ông thành lập là đảng đặc biệt trong lịch sử
loài người, nhưng ông không thể nghĩ rằng chính đảng đó lại là cội nguồn của
một giai cấp mới.
Đúng hơn phải nói rằng mầm mống của giai cấp mới không phải nằm trong toàn
bộ đảng bolshevik mà chỉ nằm trong tầng lớp các nhà cách mạng chuyên nghiệp,
lực lượng ṇng cốt của đảng trước khi đảng giành được chính quyền. Không
phải vô t́nh mà sau thất bại của Cách mạng năm 1905 Lênin đă khẳng định rằng
chỉ có các nhà cách mạng chuyên nghiệp, nghĩa là những người lấy hoạt động
cách mạng làm nghề nghiệp chính, ngoài ra họ không làm ǵ khác, mới có thể
thành lập được một đảng kiểu mới mà thôi. Stalin, người kiến tạo giai cấp
mới là biểu hiện rơ ràng nhất h́nh ảnh người cách mạng chuyên nghiệp kiểu
đó. Nhóm các nhà cách mạng chuyên nghiệp đó đă phát triển dần dần thành một
giai cấp cầm quyền mới. Các nhà cách mạng này sẽ c̣n đóng vai tṛ hạt nhân
của nó trong một thời gian dài nữa. Trotsky đă nhận xét rằng chính các nhà
cách mạng chuyên nghiệp đă tạo ra mầm mống của bộ máy quan liêu của Stalin.
Nhưng ông đă không hiểu một điều, đây chính là mầm mống của một giai cấp cầm
quyền, giai cấp bóc lột mới.
Nhưng điều đó không có nghĩa là đảng và giai cấp là một. Đảng chỉ là hạt
nhân, là cơ sở. Thật khó, thậm chí không thể xác định được ranh giới của
giai cấp mới và không thể liệt kê được tất cả các thành viên của nó. Nói
chung, bất cứ người nào nhờ độc quyền trong việc quản lí mà có đặc lợi về
kinh tế th́ đều có thể coi là thuộc giai cấp mới cả.
Đồng thời công tác quản lí cũng là một công việc cần thiết cho xă hội cho
nên cá nhân có thể vừa là một người có ích vừa là một kẻ ăn bám. Rơ ràng
rằng không phải đảng viên nào cũng nằm trong giai cấp, cũng như không phải
bất ḱ người thợ thủ công hay đảng viên đảng tư sản nào cũng được coi là nhà
tư bản vậy.
Một cách chung nhất có thể nói rằng: cùng với việc củng cố giai cấp mới, khi
bộ mặt của nó ngày càng thể hiện rơ th́ vai tṛ của đảng cũng ngày càng giảm
đi. Hạt nhân và cơ sở của giai cấp mới đă h́nh thành ở bên trong cũng như
trên đỉnh quyền lực của đảng cũng như của bộ máy nhà nước. Cái đảng từng có
lúc là một tổ chức sinh động, đầy sáng kiến, th́ nay, đối với những người
cầm đầu của giai cấp mới, họ đă biến thành một vật trang trí, càng ngày chỉ
càng kéo vào hàng ngũ của ḿnh những kẻ hănh tiến, những kẻ muốn nhập vào
hàng ngũ của giai cấp mới và đẩy những người vẫn c̣n tin vào lí tưởng ra.
Đảng sinh ra giai cấp. Sau đó giai cấp tự phát triển bằng chính nguồn lực
của ḿnh và sử dụng đảng như là cơ sở. Giai cấp th́ mạnh lên, trong khi đảng
th́ yếu đi, đấy là số phận không thể cưỡng lại được của tất cả các đảng cộng
sản cầm quyền.
Một đảng không quan tâm đến việc tái sản xuất, nghĩa là không mang trong
ḿnh nó giai cấp mới và tài sản của giai cấp ấy th́ không thể nào trụ vững
được về mặt tư tưởng và đạo đức, hơn nữa lại có thể cầm quyền lâu trong một
thời gian dài như đảng cộng sản. Sau khi hoàn thành kế hoạch năm năm lần thứ
nhất, Stalin hùng hồn tuyên bố rằng nếu không thành lập được bộ máy th́
“chúng ta” đă thất bại rồi! Đáng ra phải nói thành lập “giai cấp mới” th́
mọi sự đă rơ ràng hơn.
Việc một đảng chính trị trở thành mầm mống của một giai cấp mới có vẻ như là
một việc không hoàn toàn b́nh thường. Thường th́ đảng là sản phẩm của các
giai cấp hay tầng lớp dân cư đă đạt đến một tŕnh độ phát triển kinh tế và
tinh thần nhất định. Nhưng nếu xem xét kĩ các bước thăng trầm của nước Nga
và các nước khác, nơi mà chủ nghĩa cộng sản đă giành thắng lợi bằng nội lực
th́ ta sẽ thấy rằng cái đảng kiểu mới đó chính là sản phẩm của những hoàn
cảnh cụ thể và không phải là hiện tượng bất thường và vô t́nh. Mặc dù chủ
nghĩa cộng sản có nguồn gốc từ trong sâu thẳm của lịch sử Nga, nó c̣n là phó
sản của hoàn cảnh chính trị mà nước Nga rơi vào trong cuộc chuyển tiếp giữa
thế kỉ XIX và thế kỉ XX. Sự phát triển đă buộc nước Nga phải thoát ra khỏi
chế độ độc tài chuyên chế, nhưng chủ nghĩa tư bản lại quá yếu, phụ thuộc vào
tư bản nước ngoài, không đủ sức thực hiện cách mạng công nghiệp. Việc đó chỉ
có thể được thực hiện bởi một giai cấp mới, dĩ nhiên là giai cấp này sẽ thực
hiện theo những quan điểm riêng của ḿnh.
Giai cấp như vậy chưa tồn tại.
Lịch sử không quan tâm đến việc ai làm, quan trọng là điều cần thiết đă được
làm. Điều đó đă xảy ra ở Nga và ở các nước đă từng diễn ra các cuộc cách
mạng cộng sản khác. Cách mạng đă tạo ra lực lượng: đấy là các lí tưởng, các
tổ chức và những lănh tụ cần thiết. Giai cấp mới đă h́nh thành từ những điều
kiện khách quan, do ư chí, tư tưởng và hành vi của những lănh tụ cách mạng.
2.
Giai cấp mới có nguồn gốc từ những người vô sản. Quí tộc thoát thai từ tầng
lớp nông dân, giai cấp tư sản sinh ra từ những người buôn bán, thợ thủ công,
các điền chủ thời trung cổ, tương tự như vậy, giai cấp mới được h́nh thành
từ tầng lớp vô sản. Ở đây có thể có một số ư kiền bất đồng là do điều kiện
đặc thù của từng dân tộc. Nhưng “vật liệu” h́nh thành nên giai cấp mới th́
vẫn là tầng lớp vô sản ở những nước kém phát triển và chính tầng lớp ấy cũng
c̣n rất lạc hậu
Nhưng nguồn gốc không phải là lí do duy nhất, thậm chí chỉ là lí do phụ giải
thích v́ sao giai cấp mới luôn luôn nói rằng họ là đại diện của giai cấp
công nhân. Họ làm điều đó v́ những lí do khác. Thứ nhất giai cấp này tuyên
bố lập trường chống tư bản cho nên nó phải t́m sự ủng hộ của các tầng lớp
lao động, thứ hai nó dựa vào cuộc đấu tranh và niềm tin của giai cấp vô sản
về chế độ cộng sản, nơi không c̣n cảnh người bóc lột người dă man nữa. Ngoài
ra giai cấp mới c̣n phải quan tâm đến việc đảm bảo cho qúa tŕnh sản xuất
hoạt động b́nh thường, đấy cũng là lí do nó phải cố gắng để không bị mất
liên hệ với quần chúng lao động. Nhưng quan trọng nhất là giai cấp mới không
thể tiến hành công nghiệp hoá và bằng cách đó củng cố sức mạnh của ḿnh nếu
không có giai cấp công nhân, những người vẫn coi việc nâng cao vai tṛ của
công nghiệp là con đường thoát khỏi cảnh nghèo nàn và tuyệt vọng mà chính
giai cấp này cũng như toàn dân tộc đang lâm vào. Quyền lợi, lí tưởng, hi
vọng và niềm tin của giai cấp mới, của một bộ phận giai cấp công nhân và bần
cố nông đă song hành với nhau trong một thời gian dài. Sự đồng thuận như vậy
cũng đă từng xảy ra giữa các giai tầng của các giai cấp khác nhau trong quá
khứ. Chả phải là giai cấp tư sản đă là người đại diện cho tầng lớp nông dân
trong cuộc đấu tranh phản phong đấy ư?
Con đường đưa giai cấp mới đến với quyền lực là tham gia vào cuộc đấu tranh
của giai cấp vô sản và những tầng lớp cùng khổ khác, các tầng lớp này chính
là chỗ dựa của đảng, đúng hơn phải nói: của giai cấp mới. Quyền lợi của các
lực lượng này liên kết chặt chẽ với nhau cho đến khi giai cấp mới thiết lập
được sự thống trị của ḿnh. Sau đó th́ giai cấp vô sản và các tầng lớp nghèo
khổ khác chỉ c̣n được quan tâm v́ nhu cầu của sản xuất và giữ cho những tầng
lớp dễ biến động và nổi loạn trong ṿng ḱm kẹp mà thôi.
Địa vị độc tôn đối với toàn xă hội mà giai cấp mới nhân danh giai cấp công
nhân lập nên trước hết là sự độc tôn ngay với giai cấp công nhân, ban đầu là
trong lĩnh vực tinh thần, dưới danh nghĩa là đội tiên phong của giai cấp vô
sản, sau đó là trong tất cả các lĩnh vực khác, thực chất là một sự lừa dối
vĩ đại mà giai cấp mới buộc phải thực hiện. Nhưng điều đó cũng chứng tỏ rằng
nguồn sức mạnh và lĩnh vực quan tâm của giai cấp mới chính là công nghiệp.
Không có công nghiệp th́ giai cấp mới không những không thể ổn định mà cũng
không thể khẳng định được địa vị thống trị của ḿnh.
Giai cấp mới luôn luôn được bổ sung bằng những người xuất thân từ giai cấp
công nhân. Số phận của tầng lớp nô lệ từ xưa đến nay vẫn là như thế, họ phải
cống nạp cho các ông chủ những đại diện tài năng nhất, có tầm nh́n xa trông
rộng nhất của ḿnh. Trong trường hợp này giai cấp bóc lột mới đă phát sinh
và phát triển từ chính giai cấp bị bóc lột.
3.
Khi phân tích một cách có phê phán hệ thống cộng sản người ta thường đưa ra
đặc trưng cơ bản nhất của hệ thống này, đây là việc toàn dân phải chịu khuất
phục trước một tầng lớp đặc biệt, tầng lớp các viên chức quan liêu. Nói
chung th́ điều đó đúng. Nhưng khi phân tích một cách kĩ hơn th́ ta sẽ thấy
rằng toàn dân phải chịu khuất phục trước những con người cụ thể, những người
trong thực tế không phải là quan chức hành chính, những người hợp thành hạt
nhân của bộ máy quan liêu, hay theo cách gọi của tôi là giai cấp mới. Trên
thực tế đấy chính là bộ máy quan liêu chính trị, bộ máy của đảng. Tất cả các
viên chức khác chỉ là người giúp việc, ở đây có thể là một bộ máy vừa to lớn
vừa chậm chạp nhưng cần thiết cho mọi cộng động. Sự phân biệt giữa nhóm thứ
nhất và nhóm thứ hai có thể được nhận biết về mặt xă hội học, nhưng trong
cuộc sống th́ hai nhóm này là không thể tách biệt. Vấn đề không chỉ bởi v́
toàn bộ hệ thống cộng sản là một hệ thống có tính chất quan liêu, tầng lớp
quan liêu chính trị và hành chính đều có thể náu ḿnh trong đó mà c̣n v́ các
đảng viên thường khi cũng thực hiện những nhiệm vụ quản lí có ích nhất định.
Ngoài ra, tầng lớp quan chức chính trị không thể nắm hết đặc quyền đặc lợi,
nó phải chia bớt một phần cho những quan chức khác nữa.
Ngoài ra cần phải nhận rơ sự khác nhau giữa bộ máy quan liêu chính trị đă
nói ở trên với bộ máy quan liêu xuất hiện trong quá tŕnh tập trung hoá của
nền sản xuất hiện đại (sự độc quyền, các công ty, tài sản nhà nước). Trong
các công ty độc quyền tư bản số lượng viên chức cũng đang tăng lên một cách
nhanh chóng. Điều đó cũng đúng đối với cả các ngành công nghiệp đă được quốc
hữu hoá ở phương Tây nữa. R. Dabin khẳng định rằng các viên chức nhà nước
hoạt động trong lĩnh vực sản xuất được coi là một tầng lớp đặc biệt: “Các
viên chức thường sống gắn bó với các đồng nghiệp. Quyền lợi chung thường
đóng vai tṛ chất kết dính, gắn bó họ với nhau, đặc biệt là sự cạnh tranh
nội bộ ít xảy ra v́ sự thăng tiến phụ thuộc vào thâm niên công tác. Khả năng
xảy ra xung đột nội bộ như vậy là gần như không có, và người ta cho rằng
điều đó có ảnh hưởng tích cực đối với bộ máy quan liêu. Nhưng tinh thần đồng
đội và cơ cấu xă hội lại dẫn đến kết quả là cá nhân thường chăm lo đến quyền
lợi của ḿnh chứ không c̣n quan tâm đến khách hàng hay các viên chức cấp cao
do bầu cử mà ra”
[1] .
Mặc dù có nhiều điểm giống nhau, nhất là tinh thần đồng đội, nhưng các viên
chức quan liêu cộng sản không phải là các quan chức phương Tây đă được nói
tới ở trên. Khác biệt là ở chỗ: tuy cũng là một giai tầng đặc biệt nhưng các
viên chức nhà nước trong các nước không cộng sản không có quyền quyết định
về tài sản, trong khi các viên chức cộng sản lại làm chính công việc ấy. Bên
trên các viên chức phương Tây là các chính trị gia, thường là thông qua bầu
cử hoặc là các ông chủ thực sự, trong khi đó bên trên các viên chức cộng sản
th́ không c̣n ai, không có chủ nhân cũng chẳng c̣n người quản lí nào khác,
chỉ có họ với nhau mà thôi. Ở phương Tây th́ đấy là các công chức trong nhà
nước hiện đại hay các viên chức trong nền kinh tế tư bản chủ nghĩa, c̣n ở
đây là một hiện tượng hoàn toàn khác, ta thấy một giai cấp mới.
Tương tự như các giai cấp hữu sản khác, minh chứng cho sự tồn tại của một
giai cấp đặc biệt chính là sở hữu và quan hệ đặc thù của nó với những giai
cấp khác. Chỉ cần nh́n vào đặc quyền do cái sở hữu kia mang lại là ta biết
ngay một cá nhân cụ thể có thuộc về giai cấp ấy hay không.
Nếu xem xét khái niệm “sở hữu” theo quan điểm được khoa học xác định ngay từ
thời La Mă, như là quyền chiếm hữu, quản lí và sử dụng (usus, Fructus,
abusus) sản phẩm vật chất th́ tầng lớp quan liêu cộng sản đă thực hiện chính
những quyền ấy đối với tài sản quốc gia. C̣n muốn biết một người có thuộc
tầng lớp quan liêu, tầng lớp hữu sản hay không, chỉ cần xem người đó được sử
dụng những ǵ do tài sản đó mang lại, trong trường hợp này là tài sản đă
được quốc hữu hoá. Một người được coi là thuộc về tầng lớp đảng trị quan
liêu, thuộc về giai cấp mới nếu người đó nhận được nhiều hơn cái đáng lẽ xă
hội phải trả cho phần công việc mà người đó thực hiện, cũng như trong mọi vị
trí xă hội đặc quyền đặc lợi khác, chính vị trí mang lại cho người ta quyền
được hưởng mọi ưu đăi. Trên thực tế quyền sở hữu của giai cấp mới được thể
hiện trong việc bộ máy quan liêu đảng trị nắm toàn bộ quyền hành trong việc
phân phối thu nhập quốc dân, định đoạt mức lương, lựa chọn phương hướng phát
triển của nền kinh tế, cũng như quản lí số tài sản đă được quốc hữu hoá cũng
như mọi tài sản khác mà trong con mắt một người dân b́nh thường th́ đây là
công việc vừa sức, có thu nhập cao chứ hoàn toàn không phải là một công việc
quá nặng nề đối với người cán bộ cộng sản.
Sau khi đă huỷ bỏ quyền sở hữu tư nhân, về nguyên tắc giai cấp mới không thể
dựa vào một kiểu sở hữu tương tự được nữa. Quan hệ sở hữu tư nhân không
những không phù hợp đối với việc thiết lập quyền thống trị của giai cấp mới
mà việc băi bỏ quan hệ sở hữu này c̣n là điều kiện cần thiết về mặt kinh tế
để cải tạo toàn bộ dân tộc. Giai cấp mới khai thác sức mạnh, đặc quyền, tư
tưởng và thói quen từ một h́nh thức sở hữu đặc thù. Đấy là sở hữu tập thể,
nghĩa là cái sở hữu mà nó có quyền quản lí và phân phối “nhân danh” dân tộc,
“nhân danh” xă hội.
H́nh thức quan hệ sở hữu cộng sản nói trên có xu hướng ràng buộc với những
quan hệ xă hội hoàn toàn xác định. Đấy là quan hệ giữa sự quản lí độc quyền,
một bên là một nhóm người rất nhỏ làm công việc quản lí và bên kia là đám
quần chúng công nhân, nông dân và trí thức chẳng có một chút quyền hành ǵ.
Nhưng mối quan hệ đó vẫn chưa phải là tất cả v́ tầng lớp quan liêu cộng sản
c̣n nắm độc quyền trong việc phân phối sản phẩm nữa.
Từ đó có thể thấy rằng bất ḱ sự thay đổi quan hệ xă hội nào, nghĩa là sự
thay đổi quan hệ giữa những kẻ giữ độc quyền quản lí và người lao động nhất
định sẽ dẫn tới thay đổi trong quan hệ sở hữu. Và ngược lại: sự giảm thiểu
hay loại bỏ độc quyền phân phối sản phẩm sẽ làm thay đổi quan hệ xă hội đă
nói ở trên, nghĩa là sẽ làm thay đổi t́nh trạng trong đó một số người được
độc quyền quản lí c̣n số khác th́ buộc phải làm việc.
Trong chế độ cộng sản quan hệ chính trị - xă hội và sở hữu (chính quyền toàn
trị và độc quyền về sở hữu) liên kết và bổ sung cho nhau một cách hữu hiệu
hơn bất ḱ hệ thống xă hội nào khác.
Tước bỏ quyền của những người cộng sản đối với sở hữu cũng có nghĩa là thủ
tiêu họ như một giai cấp. Đấu tranh để buộc họ cho những lực lượng xă hội
khác tham giai quản lí tài sản (giống như các nhà tư sản bị các cuộc đ́nh
công và quốc hội buộc phải cho công nhân tham gia vào việc phân chia lợi
nhuận) cũng có nghĩa là tước bỏ của họ độc quyền đối với tài sản, độc quyền
tư tưởng và độc chiếm chính quyền. Đấy sẽ là khởi đầu của dân chủ và tự do
dưới chế độ cộng sản. V́ vậy khi điều đó chưa xảy ra th́ việc thuyết phục
người ta rằng có thể đạt được những thay đổi sâu sắc và nghiêm túc dưới chế
độ cộng sản là một việc bất khả thi. Như vậy, sự thay đổi thật sự sâu sắc
chỉ có thể là loại bỏ độc quyền cộng sản về kinh tế và chế độ toàn trị. Hiện
tại th́ chưa có tín hiệu nào rằng điều đó sẽ xảy ra trong một tương lai gần.
Quyền sở hữu của giai cấp mới cũng như việc một người được coi là thuộc vào
giai cấp đó, như đă nói ở trên, được thực hiện thông qua đặc quyền quản lí
của họ. Đặc quyền này bao trùm lên toàn bộ đời sống xă hội, từ quản lí nhà
nước và quản lí kinh tế cho đến các cơ sở thể thao hoặc từ thiện. Lănh đạo
đảng, lănh đạo chính trị chính là hạt nhân của toàn bộ hệ thống, có khả năng
quản lí tất. Chính nó tạo ra đặc quyền đặc lợi. A. Uralov
[2] viết rằng lương trung b́nh của người công nhân Liên Xô
vào năm 1935 chỉ có một ngàn tám trăm rub, trong khi bí thư huyện uỷ lĩnh
tổng cộng khoảng 45 ngàn rub. Từ đó đến nay vị trí của người công nhân và
cán bộ đảng đă có thay đổi. Nhưng thực chất vẫn như xưa. Các tác giả khác
cũng đưa ra những số liệu tương tự. Không thể che giấu được những mối quan
hệ như thế với ngay cả những người khách viếng thăm Liên Xô và các nước cộng
sản khác trong thời gian vừa qua.
Các hệ thống khác cũng có các chính khách chuyên nghiệp. Ta muốn nghĩ về
tầng lớp này thế nào cũng được, tốt có, xấu có, nhưng họ là một tầng lớp cần
thíêt. Xă hội không thể tồn tại mà không có chính quyền, không có nhà nước,
cũng như không thể thiếu những người đấu tranh để giành quyền lực.
Nhưng các chính khách chuyên nghiệp trong các hệ thống ấy là những người
khác hẳn với các chính trị gia cộng sản. Trong trường hợp xấu nhất các chính
khách đó có thể sử dụng quyền lực để giành đặc lợi cho ḿnh hoặc cho những
kẻ đồng hội đồng thuyền với ḿnh, hoặc bảo vệ quyền lợi kinh tế của những
giai tầng nhất định trong xă hội. Xă hội cộng sản th́ khác hẳn. Ở đây chính
sự quản lí, chính quyền lực đă đồng nghĩa với chiếm hữu, quản lí và sử dụng
gần như toàn bộ nguồn lực quốc gia. Giành được chính quyền nghĩa là giành
được đặc quyền đặc lợi, và một cách gián tiếp là giành được sở hữu. Cho nên
trong chế độ cộng sản quyền lực, chính trị như là một nghề, đă trở thành nếu
không phải là nghề lí tưởng của tất cả mọi người (v́ đối với số đông th́
được làm quan là việc thiên nan vạn nan) th́ cũng là nỗi khát khao của những
người kẻ muốn được sống ăn bám hoặc cảm thấy rằng có hi vọng “lọt” vào được
tầng lớp ăn bám đó.
Trước cách mạng, đảng viên cộng sản có nghĩa là nghèo khổ về vật chất, thoát
li hoạt động cách mạng là vinh dự, th́ giờ đây, khi đảng đă nắm được chính
quyền đảng viên đồng nghĩa với thành viên của giai cấp nắm quyền, hoạt động
cách mạng đồng nghĩa với việc trở thành những kẻ bóc lột đầy quyền uy.
Cách mạng cộng sản và hệ thống cộng sản cố t́nh che giấu bản chất của ḿnh
trong một thời gian dài. Tương tự như vậy, quá tŕnh h́nh thành giai cấp mới
không chỉ được che đậy bằng những thuật ngữ xă hội chủ nghĩa mà quan trọng
hơn bằng h́nh thức sở hữu mới, sở hữu tập thể. Một h́nh thức sở hữu mới, sở
hữu tập thể, hay như thường gọi là sở hữu xă hội xă hội chủ nghĩa là cần
thiết cho quá tŕnh công nghiệp hoá, nhưng thực ra đấy chính là h́nh thức sở
hữu của tầng lớp quan liêu chính trị. Bản chất giai cấp của h́nh thức sở hữu
này được che đậy bằng b́nh phong quyền lợi của toàn dân tộc.
4.
Marx - Lenin - Stalin - Khrushchev: lănh tụ thay đổi, cách truyền bá tư
tưởng cũng thay đổi theo. Marx là người có ư chí, nhưng ông không thể tưởng
tượng ra cảnh cấm một người nào đó tŕnh bày tư tưởng của anh ta; Lenin vẫn
c̣n khoan dung với những cuộc thảo luận trong đảng và không cho rằng tổ chức
đảng hay lănh tụ đảng có quyền coi điều này là “đúng đắn” về tư tưởng, điều
kia là “sai lầm”; Stalin cấm mọi cuộc thảo luận trong nội bộ đảng và
“chuyển” cho trung ương, nghĩa là cho chính ḿnh độc quyền về tư tưởng. Các
h́nh thức của phong trào cũng biến đổi theo: Liên hiệp công nhân quốc tế của
Marx (Quốc tế thứ nhất), chưa phải là tổ chức mac-xit về tư tưởng mà chỉ là
sự kết hợp của các nhóm khác nhau, cùng ra các nghị quyết với một sự đồng
thuận nhất định; đảng của Lenin là một nhóm tiên phong với một sự thống
nhất, một tư tưởng và đạo đức của riêng họ và một mức độ dân chủ nhất định;
dưới gót giày của Stalin, đảng đă trở thành một đám đông ù ĺ về tư tưởng
(v́ tư tưởng được “rót từ trên xuống”), nhưng toàn tâm toàn ư bảo vệ hệ
thống, bảo vệ đặc quyền đặc lợi cho họ. Thực ra Marx chưa hề thành lập ra
bất ḱ đảng phái nào; Lenin tiêu diệt mọi đảng phái, kể cả các đảng xă hội
chủ nghĩa, chỉ để lại đảng của chính ḿnh; Stalin th́ đẩy ngay cả đảng
bolsevk vào hậu trường sau khi đă biến hạt nhân của nó thành hạt nhân của
giai cấp mới và biến toàn đảng thành một giai tầng đặc quyền đặc lợi vô cảm
và phi nhân.
Marx đă tạo ra một lí thuyết nhất quán về tác động của các giai cấp và đấu
tranh giai cấp đối với sự phát triển của xă hội (mặc dù đây không phải là
phát kiến của chính ông), ông đánh giá con người chủ yếu từ thành phần giai
cấp của họ. Mặc dù vậy ông vẫn thường nhắc đi nhắc lại lời giáo huấn của
Terentius: Nihil a me alienum puto (đúng hơn phải là: Nihil humani a me
alienum puto – Không có ǵ của con người là xa lạ với tôi); Lenin đánh giá
con người trên cơ sở quan điểm tư tưởng của người đó chứ không dựa vào thành
phần giai cấp nữa; Stalin th́ chia loài người thành hai: trung thành và kẻ
thù. Marx chết như một người nhập cư nghèo khổ ở London, nhưng ông được cả
những nhà tư tưởng lớn cũng như các đồng chí trong phong trào đánh giá rất
cao; Lenin chết khi đă là lănh tụ của một trong những cuộc cách mạnh vĩ đại
nhất, và đă là một nhà độc tài v́ xung quanh ông đă có một số nịnh thần rồi;
Stalin th́ đă được người ta biến thành thánh.
Sư biến đổi trong những khuôn mặt đại diện nói trên chỉ là phản ánh sự biến
đổi của hiện thực khách quan và dĩ nhiên cũng là sự biến đổi của đời sống
tinh thần của phong trào nữa.
Lenin, người sáng lập đảng bolshevik, một đảng kiểu mới và lí thuyết về vai
tṛ đặc biệt của nó trong việc xây dựng xă hội mới chính là cha đẻ về mặt
tinh thần và thực tế của giai cấp mới, mặc dù ông không hề nhận thức được
điều đó. Dĩ nhiên đây không phải là trang sử duy nhất trong khối di sản đồ
sộ và nhiều mặt của ông. Nhưng nó xuất hiện từ chính những hành động của
ông, dù ông không hẳn muốn như thế, và v́ vậy giai cấp mới cho đến nay vẫn
coi ông là người cha tinh thần của ḿnh.
Người sáng lập thật sự giai cấp mới chính là Stalin. Đấy là một người vai
so, chân tay quá dài, thân người lại ngắn, bụng bự, khuôn mặt nông dân, khá
điển trai, đôi mắt nâu, sáng, tinh ranh và lúc nào cũng như đang cười cợt,
tỏ ra khoái trá mỗi khi nói được một lời châm biếm chua cay hay khôn vặt;
một người thích những chuyện tiếu lâm thô lậu, thiếu giáo dục và không hẳn
có tài về văn chương, một diễn giả kém, nhưng là một nhà tổ chức thiên tài,
một người giáo điều thâm căn cố đế, nhưng cũng là một nhà quản lí vĩ đại,
một người Gruzia, nhưng lại hiểu rơ hơn ai hết khát vọng của những người Nga
mới – ông đă sáng lập ra một giai cấp mới bằng những phương pháp tàn bạo
nhất. Dễ hiểu rằng ban đầu ông đă được giai cấp mới đẩy lên để rồi sau đó
lại phải cúi rạp ḿnh tuân phục những hành vi tàn bạo và không có ai kiềm
chế được của Stalin. Stalin đă là người dẫn đầu, là lănh tụ xứng đáng trong
khi cái giai cấp ấy tiến từng bước một lên đỉnh cao quyền lực của ḿnh.
Giai cấp mới đựơc tượng h́nh trong băo tố của cách mạng, trong ḷng của đảng
cộng sản, nhưng nó đă có h́nh hài như ngày nay là nhờ cách mạng công nghiệp:
vị trí của nó chẳng thể vững chắc và sức lực của nó chẳng thể được củng cố
nếu không có cuộc cách mạng công nghiệp và nền công nghiệp ấy. Hoàn thành sự
nghiệp công nghiệp hoá xă hội cũng đồng nghĩa với việc giai cấp mới đă giành
thắng lợi. Hai quá tŕnh đó đă song hành với nhau và do hoàn cảnh đă đan
xen, đă xoắn xuưt với nhau một cách chặt chẽ nhất.
Giữa cao trào công nghiệp hoá, sau khi đă mở tung cánh cửa của đủ mọi thứ
đặc quyền đặc lợi, Stalin bắt đầu đưa ra các mức lương chênh lệch nhau một
trời một vực. Ông ta hiểu rằng không thể thực hiện được tiến tŕnh công
nghiệp hoá nếu như giai cấp mới không nhận được quyền lợi về mặt vật chất,
nếu không cho nó quyền sở hữu tài sản. Nếu không có công nghiệp hoá th́ giai
cấp mới cũng khó mà sống c̣n được: không có nguồn sống và cũng chẳng thể t́m
được sự biện hộ về mặt lịch sử.
Cùng với việc công nghiệp hoá là sự mở rộng đội ngũ của tầng lớp quan liêu,
tăng cường số lượng đảng viên của đảng. Khởi đầu công nghiệp hoá, năm 1927
đảng có tổng cộng 887.233 đảng viên, th́ năm 1934, nghĩa là sau kế hoạch năm
năm lần thứ nhất, đă có 1.847.448 người. Đây là một hiện tượng mới, liên
quan trực tiếp đến quá tŕnh công nghiệp hoá: các cơ hội của giai cấp mới đă
tăng lên, đặc quyền đặc lợi của những thành viên của nó cũng gia tăng. Hơn
thế nữa, đặc quyền đặc lợi và chính cái giai cấp đó đă ph́nh lên nhanh hơn
tốc độ công nghiệp hoá. Khó mà đưa ra được các số liệu chứng minh cho điều
đó, nhưng một người quan sát b́nh thường cũng có thể nhận thấy điều đó, hơn
nữa nếu ta nhớ rằng sản xuất đă phát triển nhanh hơn khả năng cải thiện điều
kiện sống của người dân. Phần lớn thành quả của tiến bộ kinh tế đạt được
bằng giá của những mất mát và sự nỗ lực vô bờ bến của quần chúng rơ ràng là
đă rơi vào tay giai cấp mới.
Chính quá tŕnh h́nh thành giai cấp mới cũng không diễn ra một cách hoàn
toàn suôn sẻ. Sự kháng cự không chỉ xuất phát từ các giai cấp và các đảng
phái cũ, mà từ ngay một số người người cách mạng, những người không thể chấp
nhận hiện thực nhăn tiền khi so sánh nó với lí tưởng mà họ từng theo đuổi.
Tại Liên Xô sự phản kháng của những người cách mạng thể hiện rơ nhất trong
cuộc xung đột giữa Trotsky và Stalin. Không phải vô t́nh mà cuộc tranh chấp
giữa Trotsky và Stalin, giữa những người đối lập trong đảng với Stalin, giữa
chế độ và tầng lớp nông dân, lại có những h́nh thức biểu hiện rơ rệt nhất
chính vào lúc quyền lực và sự thống trị của giai cấp mới được củng cố.
Trotsky, một diễn giả tài ba, một ng̣i bút tinh tế, sắc sảo, một người thông
minh, có tầm hiểu biết rộng, nhưng lại thiếu một điều: cảm nhận thực tế. Ông
muốn tiếp tục là người cách mạng khi mà mọi người đă muốn sống cuộc sống đời
thường. Ông muốn làm hồi sinh một đảng cách mạng, trong khi chính nó đă biến
thành một giai cấp mới, giai cấp không c̣n quan tâm tới những lí tưởng cao
cả nữa, nhưng lại hoàn toàn không thờ ơ đối với những tiện nghi trong sinh
hoạt hàng ngày. Ông chờ đợi phản ứng của quần chúng, cái quần chúng đă bị
chiến tranh, đói khát làm cho kiệt quệ ngay đúng vào lúc giai cấp mới đă nắm
được trọn vẹn quyền lực. Sau khi đă giành được đặc quyền đặc lợi giai cấp
mới bắt đầu ru ngủ quần chúng bắng cách vẽ ra cảnh ấm no mà người ta từng mơ
ước bấy lâu. Ánh hào quang mà Trotsky vẽ ra có thể nhuộm hồng những chân
trời xa tít, nhưng không thể khơi lên ngọn lửa trong bếp của những con người
đói khát. Ông đă cảm thấy một cách rơ ràng mặt trái của những hiện tượng
mới, nhưng ông không hiểu được ư nghĩa của chúng. Hơn nữa ông cũng không
phải là một người bolshevik, đấy vừa là điểm mạnh và cũng là điểm yếu của
ông. Quá khứ “phi” bolshevik làm ông luôn luôn phải hành động với cảm giác
thiếu tự tin. Khi nhân danh cách mạng đả phá tầng lớp quan liêu, ông đă
không nhận ra rằng ḿnh đang tấn công vào uy tín của đảng, nghĩa là tấn công
vào giai cấp mới. Trong khi đó Stalin chẳng thèm quan tâm đến quá khứ cũng
như tương lai. Ông ta đă khống chế được lực lượng của một giai cấp mới, của
chế độ quan liêu đang định h́nh, trở thành lănh tụ và người tổ chức của
chính giai cấp đó. Ông ta không tuyên truyền, ông ta ra lệnh. Dĩ nhiên là
ông ta cũng hứa hẹn một tương lai tươi sáng, nhưng là tương lai hiện thực
đối với tầng lớp quan liêu, để cho tầng lớp ấy hàng ngày hàng giờ cảm thấy
sự quan tâm của Stalin đối với sự sung túc trong đời sống và sự ổn định
trong vị trí xă hội của họ. Các bài diễn văn của ông ta không thể gọi là có
lửa, thực ra phải nói là chán ngắt, nhưng đối với giai cấp mới th́ đấy chính
là ngôn ngữ của thực tế, gần gũi và dễ hiểu. Trotsky mơ ước nh́n thấy một
cuộc cách mạng bao trùm khắp châu Âu và sau đó là toàn thế giới. Stalin
không phản đối, nhưng trước khi thực hiện công việc mạo hiểm đó, ông ta phải
quan tâm đến nước Nga, đến những người mà ông ta dựa vào để củng cố hệ
thống, tạo ra sức mạnh và niềm vinh quang của nhà nước Nga. Trotsky là người
của cuộc cách mạng đă trở thành quá văng, Stalin là người của hôm nay và như
vậy cũng có nghĩa là người của ngày mai.
Trotsky coi thắng lợi của Stalin là sự phản bội, là sự xuyên tạc chính quyền
Xô-viết và thành quả của cách mạng. Ông cho rằng các biện pháp của Stalin là
phi luân chính là v́ như thế. Mặc dù Trotsky là người đầu tiên gần như hiểu
được bản chất của chủ nghĩa cộng sản hiện đại (dù là không cố ư, dù là với
ước mong cứu nó) nhưng phải nhận rằng ông không thể đi đến tận cùng bản chất
ấy. Cho rằng đấy chỉ là “sự bùng phát” nhất thời của chủ nghĩa quan liêu chà
đạp lên đường lối trong sáng của đảng cách mạng, Trotsky tin có thể giải
quyết bằng cách thay đổi ban lănh đạo, tiến hành “đảo chính cung đ́nh” là
được. Nhưng khi cuộc đảo chính ấy diễn ra (sau khi Stalin chết) th́ người ta
mới hiểu rằng bản chất của hệ thống là không thay đổi. Vấn đề hoá ra là có
nguồn gốc sâu xa và căn bản hơn nhiều. Stalin đă để lại không chỉ một chính
quyền mới, chuyên chế hơn chính quyền trước đó, mà c̣n để lại một giai cấp
mới. Một trong những khía cạnh của cách mạng, khía cạnh bạo lực vẫn tiếp
tục; sự sinh thành và củng cố của giai cấp mới đă trở thành hiện tượng đương
nhiên.
Stalin có thể có nhiều lí do hơn cả Trotsky khi tự xưng là người kế tục của
Lenin và con đẻ của cách mạng, dù là đứa con thiếu giáo dục.
Lenin là người kiến tạo một trong những cuộc cách mạng vĩ đại nhất của mọi
thời đại. Stalin là người đă thực hiện một khối lượng công việc cực ḱ to
lớn để thiết lập nên sự thống trị và quyền sở hữu của một giai cấp mới, giai
cấp xuất thân từ trong ḷng của một trong những cuộc cách mạng vĩ đại nhất,
trong một đất nước rộng lớn nhất. Sau Lenin, một người hoàn toàn sống bằng
tư tưởng và ḷng say mê, trên sân khấu đă xuất hiện nhân vật Stalin, biểu
tượng của những bước chân tàn nhẫn, nặng nề của giai cấp mới trong việc
chinh phục đỉnh cao quyền lực của nó.
Sau họ, sau Stalin sẽ đến cái điều phải đến cùng với sự trưởng thành của
giai cấp mới, đấy là sự tầm thường, đấy là lănh đạo tập thể và một người
chân thật, hiền lành, một người “từ nhân dân” mà ra - đấy là Nikita
Khrushchev. Giai cấp mới đă không c̣n cần những nhà cách mạng hay những kẻ
giáo điều nữa. Giai cấp mới có thể chấp nhận những con người “đơn giản” như
kiểu Khrushchev, Malenkov, Bulganin hay Shepilov, họ chính là đại diện trung
b́nh của giai cấp đó. Chính giai cấp mới cũng đă mệt mỏi với những cuộc
thanh trừng và cải tạo bất tận rồi. Sau khi đă ổn định vị trí, giai cấp mới
cần phải tránh ngay cả mối nguy hiểm xuất phát từ chính lănh tụ của ḿnh.
Đấy là do giai cấp đă thay đổi, c̣n Stalin th́ vẫn như cũ, giống như thời
giai cấp c̣n non nớt, những người giao động và những kẻ bị nghi là sẽ giao
động đều bị trừng phạt cả. Chính cá nhân Stalin cũng như lí luận về “sự khốc
liệt của cuộc đấu tranh giai cấp” sau khi “chủ nghĩa xă hội đă thắng lợi”
cũng là điều kiện cần của việc h́nh thành giai cấp mới. Nhưng bây giờ điều
đó đă trở thành thừa. Giai cấp mới không hề phủ nhận những di sản do triều
đại Stalin để lại, nó chỉ phê phán thói lộng hành trong những năm cuối đời
của ông ta, thực ra cũng không phải hoàn toàn như vậy, nó chỉ phủ nhận những
biện pháp đụng chạm đến chính giai cấp, hay nói như Khrushchev là “đụng chạm
đến những người cộng sản tốt” mà thôi.
Thời đại cách của Lenin được thay bằng thời đại củng cố quyền lực và quyền
sở hữu hay thời đại công nghiệp hoá v́ cuộc sống ấm nó, hạnh phúc của giai
cấp mới do Stalin lănh đạo. Chủ nghĩa cộng sản cách mạng của Lenin được thay
bằng chủ nghĩa cộng sản giáo điều Stalin và đến lượt nó, lại được thay bằng
sự lănh đạo tập thể, nghĩa là quyền lănh đạo nằm trong tay một nhóm đầu sỏ.
Đấy là ba giai đoạn phát triển giai cấp mới ở Liên Xô, ba giai đoạn phát
triển của chủ nghĩa cộng sản Nga. Về nguyên tắc đấy cũng là những giai đoạn
phát triển của mọi chế độ cộng sản khác.
Chủ nghĩa cộng sản Nam Tư cũng có đầy đủ đặc trưng của ba giai đoạn như đă
nói ở trên, nhưng lại quyện chặt với vấn đề dân tộc và cá nhân, tập trung
vào một con người, đấy là Tito. Là một nhà cách mạng vĩ đại (nhưng thiếu tư
tưởng độc đáo), một kẻ tiếm quyền (nhưng không có biểu hiện ngờ vực bệnh
hoạn và giáo điều kiểu Stalin), giống như Khrushchev, ông cũng là đại diện
của “nhân dân”, nghĩa là tầng lớp cán bộ trung cấp của đảng. Chính ông là
người luôn luôn bảo vệ một cách nhất quán (nếu so với những người khác) chủ
nghĩa Mác nhưng hành động lại chỉ v́ lợi ích (chỉ cần thấp thoáng bóng dáng
lợi ích thôi cũng đủ); ông chính là tấm gương phản chiếu toàn bộ con đường
của chủ nghĩa cộng sản: cách mạng, rập khuôn chủ nghĩa Stalin và cuối cùng
là từ bỏ nó để t́m diện mạo riêng.
Ba giai đoạn phát triển của giai cấp mới – Lenin, Stalin, “lănh đạo tập thể’
– là không tách rời nhau cả về nội dung và tư tưởng. Lenin đă là người giáo
điều, c̣n Stalin đă là nhà cách mạng, theo cách của ḿnh, cũng như “ban lănh
đạo tập thể”, trong trường hợp cần thiết, có thể sử dụng một cách hữu hiệu
cả những phương pháp cách mạng cũng như phương pháp giáo điều. Hơn thế nữa,
ban lănh đạp tập thể chỉ không chấp nhận phương pháp giáo điều khi nó đụng
chạm quyền lợi của nhóm chóp bu của giai cấp mới mà thôi. Đồng thời nó lại
kiên quyết hơn trong việc “giáo dục” quần chúng”, tích cực nhồi sọ giáo điều
mac-xit - lenin-nít cho họ. Giai cấp mới sau khi nắm được sức mạnh kinh tế
đă tỏ ra mềm dẻo hơn, đă không c̣n khốc liệt và độc đoán như xưa.
Giai đoạn anh hùng của chủ nghĩa cộng sản đă cáo chung.
Thời đại của các lănh tụ vĩ đại đă cáo chung.
Bắt đầu giai đoạn của những kẻ thực dụng. Đấy là giai cấp mới. Giai cấp ấy
đang đứng trên đỉnh cao của quyền lực và tài sản, nhưng thiếu tư tưởng. Giai
cấp ấy không có ǵ để phát biểu nữa. Chỉ c̣n một việc là xem xét thực chất
chính cái giai cấp đó.
© 2005 talawas
[1]R. Dabin, Quan hệ giữa người với người trong môi trường
hành chính, New York 1951, trang 165-166.
[2]A. Uralov, Khi Stalin nắm quyền, Paris.1951, trang
202, 215.