Trả lời một cuộc
phỏng vấn của BBC,
Nguyễn Kiến Giang cho biết bài viết này của ông
đã được trình bày tại
một cuộc hội thảo ở Việt Nam vào năm 1995 (trước Đại hội Đại hội
VIII
của Đảng Cộng sản Việt Nam một năm), điều này cho chúng
ta biết điều
quan trọng sau đây: vào lúc bấy giờ, trong bản
thân tầng lớp giới lãnh
đạo của chế độ cộng sản Việt Nam đã có những chao đảo
khiến những cấm
kỵ về mặt ý thức hệ và hành chính mà
chế độ từng đưa ra để ràng buộc, o
ép giới trí thức và nghiên cứu từ lâu,
nay đã không còn tác dụng trói
buộc những dòng suy tưởng nằm ngay trong vòng kiểm
soát của nó nữa.
Ý thức hệ chính thống của chế độ, mệnh danh là “chủ nghĩa
Mác-Lênin” đã bị cuộc sống đẩy vào một cơn khủng hoảng chưa từng gặp,
điều mà những ai đã sống qua cái đời sống tư tưởng của Việt Nam những
năm 1986 đến 1991 đều không thể nào quên, do những tác động ghê gớm của
perestroika cùng với sự sụp đổ sau đó của Đông Âu và Liên Xô: sau những
nỗ lực “vận dụng” lại chủ nghĩa Mác-Lênin để tạo lại sức sống cho một
mô hình chủ nghĩa xã hội bị xơ cứng, sai lầm, chính trong hàng ngũ
những người cộng sản mà tác giả gọi là “lành mạnh” đã xuất hiện xu
hướng muốn nhìn lại ngay sự tồn tại của bản thân cái học thuyết chính
thống mệnh danh là “Mác-Lênin” ấy.
Những phát biểu của Nguyễn Kiến Giang trong bài viết này đã đi theo
xu hướng “nhìn lại” một cách tổng hợp vai trò lịch sử của cái ý thức hệ
đó đối với xã hội Việt Nam suốt một thế kỷ đã qua. Hàng loạt những vấn
đề học thuật căn bản đã được đặt lại với những lý giải mới (phi chính
thống) dựa vào một số tài liệu mới của giới nghiên cứu (như phương pháp
tiếp cận, bối cảnh lịch sử, các hình thức du nhập…) nhưng điều quan
trọng nhất được tác giả trình bày tập trung ở đây chính là cái học
thuyết “Mác-Lênin” đặc biệt mang nội dung stalinít và maoít được Đảng
Cộng sản chọn lựa, căn cứ vào đó phấn đấu kiến tạo nên một nước Việt
Nam mới trong tương lai.
Phân biệt giai đoạn chống chủ nghĩa thực dân để giành độc lập với
giai đoạn xây dựng hoà bình là điều mấu chốt để tác giả nhìn xét các sự
việc đã qua. Phản bác những ý kiến chỉ nhìn thấy những sai lầm và tai
hại toàn diện, trước sau như một của ý thức hệ Mác-Lênin với đất nước,
tác giả đã phân tích những nhu cầu lịch sử đặc biệt của Việt Nam từ
những năm 20 của thế kỷ trước dưới sự thống trị của thực dân để thuyết
minh cho tính chính đáng của sự lựa chọn cộng sản (mà Hồ Chí Minh là
đại biểu) đối với việc giải quyết điều mà tác giả gọi là “hệ vấn đề”
của đất nước vào lúc bấy giờ, tức là một loạt những vấn đề mà tác giả
cho rằng dù có khác nhau về quan điểm, tất cả các phong trào yêu nước
đều có thể chia sẻ là độc lập dân tộc và canh tân xã hội.
Ý thức hệ cộng sản theo mô thức stalinít được Đảng Cộng sản chọn
lựa để giải quyết “hệ vấn đề” nói trên, tuy mang trong bản thân những
“căn tính” nguy hiểm, nhưng do phải tập trung vào nhiệm vụ quan trọng
nhất trong thời kỳ giành độc lập là chống sự đô hộ của thực dân nên
chưa có điều kiện để bộc lộ, trái lại, theo tác giả, đã chứa đựng nhiều
điều tích cực trong động lực lẫn phương pháp tranh đấu. Tác giả đã dành
nhiều đoạn trình bày luận cứ này: tiếp thêm sức mạnh cho chủ nghĩa yêu
nước nội tại một lý tưởng mới về công bằng xã hội, tìm chỗ dựa có thể
tin cậy ở bên ngoài để hỗ trợ cuộc tranh đấu bên trong, khai thác được
lực lượng quần chúng đông đảo bên dưới làm chỗ dựa, tập trung được sức
mạnh vào bộ tham mưu chỉ huy để giành chiến thắng v.v…
Bên cạnh những mặt tích cực ấy, tác giả cũng đã nói nhiều đến những
tiêu cực của ý thức hệ Mác-Lênin nói trên. Nhưng theo ông thì những sai
lầm ấy chỉ bộc lộ rõ rệt, ngày càng hiển nhiên, trong thời kỳ hoà bình,
đặc biệt vào cuối những năm 70 của thế kỷ trước khi chế độ rơi vào tình
trạng khủng hoảng toàn diện. Những gì tạo ra những cái gọi là “ưu thế”
trong thời kỳ đấu tranh giải phóng dân tộc, mang vào xây dựng, đã có
tác dụng rất tệ hại: gò ép cuộc sống theo cái sơ đồ tương lai không
tưởng, sùng bái các từng lớp bên dưới, xem thường trí thức bên trên,
đồng hoá sự chọn lựa của Đảng với sự chọn lựa của nhân dân, độc tôn
chân lý và quyền lực, bắt con người thường xuyên hy sinh cho tập thể,
kinh tế không hiệu quả, mức sống người dân sa sút, bất mãn, mất lòng
tin v.v…
Qua những gì đã phân tích, tác giả
đã đi đến kết luận hết sức quan trọng sau đây:
“Cuộc sống đã chứng minh khá đầy đủ rằng
chủ nghĩa Mác-Lênin đã thuộc về quá khứ (một quá khứ thật oanh liệt, đầy những hào hùng và những bi kịch),
mà không thuộc về hiện tại, lại càng không thuộc về tương lai. Ở
một mức độ nào đó, “số phận” của nó
cũng giống như “số phận” của Nho giáo ngày
xưa”.
Tác giả cho rằng cuộc sống hiện nay đang phát triển theo
một chiều
hướng khác hoàn toàn với cái ý thức
hệ Mác-Lênin ấy, cho nên ông đã đề
nghị Đảng Cộng sản nên ý thức rõ điều đó để
lãnh đạo dân tộc đi tìm con
đường phát triển mới cho đất nước, trong đó điều đầu
tiên được ông khẩn
thiết kêu gọi là “
không nên biến chủ
nghĩa Mác-Lênin thành một vật phân chia
xã hội về mặt tinh thần và tư tưởng để loại bỏ nhau”.
Giới thiệu một số nét chủ yếu trong bài viết của Nguyễn Kiến Giang
trong tình hình hiện nay, tôi đề nghị độc giả chú ý một số điểm sau
đây:
- Bài viết này của tác giả là một bài phát biểu trước một hội
thảo do chế độ đương quyền tổ chức và kiểm soát. Việc đánh giá các mặt
tích cực lẫn tiêu cực của tác giả với cái ý thức hệ chính thống của chế
độ đã giữ được sự ôn tồn, khách quan để thuyết phục nhưng cũng không vì
thế mà kém quyết liệt, triệt để. Với tư cách là một nhà nghiên cứu,
những vấn đề ông đặt ra là hoàn toàn mang tính chất học thuật nghiêm
chỉnh. Điều này cho chúng ta biết cách đây đã rất lâu rồi, Nguyễn Kiến
Giang là một trong những người đã tạo ra xu hướng nghiên cứu đứng từ
phía bên trong, trực diện yêu cầu Đảng Cộng sản xem xét lại tính chính
đáng của học thuyết mệnh danh “Mác-Lênin” trước tình hình mới của đất
nước và thế giới.
- Kết luận cuối cùng của tác giả về sự lỗi thời bất
lực của
ý thức hệ chính thống của chế độ mà chúng
ta đã biết, đối với riêng
ông, là một kết luận không dễ dàng: trả lời
BBC, ông cho biết kết luận
ấy đã được tìm ra sau một quá trình nhiều
bước khó khăn, đau đớn, dằn
vặt. Vì vậy có thể xem bài viết của ông
là một bản kiểm nghiệm trung
thực, can đảm với bản thân nhưng lại tỏ ra bao dung, thanh thản
trước
cái chế độ mà mình hiến dâng cả đời cho
nó và cũng vì nó mà gặp phải
nhiều lao đao. Với những người đã chọn lựa một thái độ
trí thức như ông
thì những kết án mệnh danh là “phản
bội” đến từ phía bên này hoặc những
yêu cầu đòi phải “sám hối” nhiều hơn
đến từ phía bên kia, là hoàn toàn
vô nghĩa.
- Trong khi kêu gọi Đảng Cộng sản chủ động từ bỏ chủ nghĩa
Mác-Lênin lỗi thời, tác giả không hề đặt quá nhiều ảo tưởng vào đề nghị
ấy. “Có sự từ bỏ ngày càng triệt để. Có sự từ bỏ ngập ngừng. Có sự
từ bỏ theo lối sách lược. Và cũng có cả sự không chịu từ bỏ. Bằng con
mắt bình tĩnh, không khó gì mà không nhận ra tình trạng giằng co hiện
nay xung quanh chủ nghĩa Mác-Lênin” – nhận xét này tác giả đã đưa
ra cách đây hơn 10 năm, đến nay vẫn còn ý nghĩa. Chủ trương “đổi mới”
mà Đảng Cộng sản Việt Nam buộc phải nương theo cuộc sống để thực hiện,
từ đó đến nay, vẫn chưa thoát khỏi tình trạng lùng nhùng về ý thức hệ
như tác giả đã nói, cũng vì thế, bên cạnh những chuyển biến tích cực
thì về nhiều mặt (như chính trị, văn hoá) lại ngày càng đẩy đất nước
vào những khủng hoảng trầm trọng hơn. Việc “biến
chủ nghĩa Mác-Lênin thành một vật phân chia
xã hội về mặt tinh thần và tư tưởng để loại bỏ nhau”
do những chiếc lưỡi gỗ của Đảng chủ xướng vẫn không hề giảm bớt. Cuộc
đấu tranh thanh toán “chủ nghĩa Mác-Lênin” có nội dung stalinít và
maoít mà tác giả trình bày vì vậy vẫn chưa thể chấm dứt.
- Chúng ta không quên rằng bài
phát biểu này của tác giả đã
đã diễn ra cách đây hơn 10 năm rồi. Nếu ngày
nay viết lại, chắc chắn nó
sẽ được tác giả bổ sung về mặt tư liệu lẫn nhận định để
làm cho lập
luận được đầy đủ, chặt chẽ hơn. Đặc biệt không thể triển hạn việc
cần
thiết phải nhìn lại hệ thống tư tưởng của Marx, Engels, căn cứ
vào đó
làm rõ hơn những sai lầm trong nội dung của cái
học thuyết gọi là “chủ
nghĩa Mác-Lênin” mà ông đề cập.
Không làm sáng tỏ được điều này,
chúng
ta không thể nào nhìn ra được cái ảo tưởng
cội nguồn của cuộc cách mạng
mácxít trong cả một thời kỳ, vì đó sẽ
không thể chấm dứt được những
toan tính tiếp tục “vận dụng” chủ nghĩa Marx để biện
minh cho những thể
chế toàn trị, từ đó sinh ra những mưu toan ngược lại,
muốn triệt hạ nó
bằng cách đồng hoá nó với những thể chế
toàn trị ấy. Về mặt lý luận,
chúng ta đều biết rằng bản thân chủ nghĩa Marx là
một vấn đề triết học
phức tạp, không thể “bảo vệ” hoặc “phủ
nhận” bằng những thủ đoạn chính
trị nhất thời, thực dụng và thô bạo.
Sài Gòn, 1-4-2005
Lữ Phương
*
Vào đề
Hiện nay, trong các giới nghiên cứu ở nước ta, vấn đề “số phận” của
chủ nghĩa Mác-Lênin đang được đặt ra với những mức độ khác nhau, trực
tiếp hay gián tiếp. Đây không phải là do ý muốn chủ quan của một ai và
cũng không tùy thuộc vào thái độ chủ quan của một ai cả. Bản thân cuộc
sống đang đặt ra vấn đề này, dù muốn lảng tránh cũng không được. Tất
nhiên, đây là vấn đề rất khó bàn luận, vì đụng tới một học thuyết được
đảng cộng sản, với tư cách đảng cầm quyền, coi là “hệ tư tưởng chính
thống”. Nhưng bằng cách này hay cách khác, người ta vẫn cứ phải đụng
tới. Và ngay cả những người đang đề xướng phải “kiên quyết bảo vệ và
phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin” cũng đang đụng tới trước hết: bảo vệ
cái gì, đối với ai, và tại sao phải phát triển, phát triển như thế nào…
[1]
Ở đây hơn bất cứ một lĩnh vực nào khác, cần lắng nghe nhau, tôn
trọng lẫn nhau để có thể “đãi cát lấy vàng”. Mọi thiên kiến, mọi thành
kiến đều không dẫn tới những kết quả mong muốn. Với tinh thần đó, xin
trình bày một số suy nghĩ của tôi về vấn đề này:
- Bối cảnh lịch sử và xã hội của sự du nhập chủ nghĩa Mác- Lênin vào Việt Nam.
- Ai du nhập và du nhập như thế nào?
- Du nhập những nội dung gì?
- Những hệ quả của sự du nhập này đối với sự phát triển của xã hội Việt Nam cho đến nay.
- Cuối cùng có thể rút ra nhận xét
gì về vị trí của chủ nghĩa Mác-Lênin trong
sự phát triển của đất nước từ nay về sau.
Nhưng trước khi đi vào nội dung nói trên, xin có mấy lời về phương pháp.
Khi nghiên cứu và bàn luận vấn đề này, dễ vấp phải một loạt khó
khăn không dễ vượt qua. Chủ nghĩa Mác-Lênin, khái niệm ấy cần được hiểu
như thế nào đây? Nội hàm của nó là những gì? Cho đến nay vẫn chưa ai
minh định được, và như chúng ta biết từ chính kinh nghiệm bản thân, chủ
nghĩa Mác-Lênin có rất nhiều cách lý giải khác nhau. Trước đây và cả
hiện nay, những người tự xưng là mácxít, lêninít lại có những cách lý
giải khác nhau, thậm chí trái ngược nhau đến mức coi nhau là thù địch
(những tranh chấp về lý luận giữa Đảng Cộng sản Liên Xô và Đảng Cộng
sản Trung Quốc trong những năm 60 và 70 là một ví dụ quá rõ). Đánh
nhau, bỏ tù nhau là những hiện tượng không phải là cá biệt trong cuộc
sống “đấu tranh tư tưởng” nhân danh “bảo vệ sự trong sáng của chủ nghĩa
Mác-Lênin”.
Về mặt lịch sử, khái niệm “chủ nghĩa Mác-Lênin” chỉ mới xuất hiện
chính thức từ những năm 30, trước đó người ta dùng khái niệm “chủ nghĩa
Mác”, và hai khái niệm ấy không phải là đồng nhất. Từ “chủ nghĩa
Mác-Lênin” theo một bài viết trên
Pravda,
xuất hiện lần đầu tiên vào 1925, theo một nguồn tài
liệu khác, vào 1930. Được chính thức sử dụng trong
Tóm tắt lịch sử Đảng Cộng sản Liên Xô
năm 1938; nói chung là dưới thời Stalin. Stalin tự coi và được coi là
người có tiếng nói cuối cùng về những nội dung cơ bản của chủ nghĩa
Mác-Lênin, từ triết học (chương “Duy vật biện chứng và duy vật lịch sử
” trong
Tóm tắt lịch sử ĐCS (b) Liên Xô ) đến chính trị kinh tế học (
Những vấn đề kinh tế của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô,
1952) và chủ nghĩa xã hội khoa học (trong nhiều bài phát biểu khác
nhau). Bản thân Stalin cũng bỏ ra nhiều thời gian để làm công việc lý
giải chủ nghĩa Mác-Lênin. Và sau khi Stalin chết, không biết bao nhiêu
lần chủ nghĩa Mác-Lênin được trình bày với những dạng thức khác nhau,
tùy theo những tác giả có thẩm quyền khác nhau và tùy theo những hoàn
cảnh lịch sử khác nhau.
Ở Việt Nam, theo chỗ tôi biết, ngoài những sách
dịch từ tiếng Nga,
tiếng Hoa ra, chưa có một tác giả nào trình
bày chủ nghĩa Mác-Lênin một
cách đầy đủ và được thừa nhận như tiếng nói
chính thống cả. Một số bài
giảng của người này hay người khác, và cả một
vài cuốn giáo khoa
Mác-Lênin (chủ yếu là của Trường Nguyễn Ái
Quốc) nữa cũng chưa được coi
là chính thống và thường được sửa đi sửa lại cho
hợp với hoàn cảnh từng
lúc. Bây giờ, nghe nói có thành lập
một hội đồng biên soạn và xét duyệt
những giáo trình “chuẩn” về chủ nghĩa
Mác-Lênin, nhưng công việc chỉ
vừa bắt đầu. Tất cả những điều đó nói lên một
nghịch lý: một hệ tư
tưởng được coi là chính thống, nhưng chưa có một
tài liệu chính thống
nào giải thích nó. Vậy thì, nói chủ
nghĩa Mác-Lênin là nói tới những gì
đây? Thế nhưng trên thực tế, người ta vẫn có thể quy
kết người này
“chống chủ nghĩa Mác-Lênin, người kia “phản
bội” nó v.v.. Và trong
“cuộc đấu tranh tư tưởng bảo vệ chủ nghĩa
Mác-Lênin” ấy, không phải
không có những trường hợp cắt xén và
bóp méo Mác-Lênin (lời dự báo của
Mác “Tôi không phải là
mácxít” hóa ra đã thành sự
thực).
Dù sao cũng có một số điểm được số đông (nếu không phải là tất cả)
những người tự nhận là mácxít-lêninít coi là những điểm cơ bản của chủ
nghĩa Mác-Lênin để phân biệt với những trào lưu tư tưởng khác. Chẳng
hạn: luận điểm về đấu tranh giai cấp dẫn tới chuyên chính vô sản, luận
điểm về sứ mệnh lịch sử của giai cấp vô sản như “người đào huyệt chôn
chủ nghĩa tư bản”, luận điểm về xóa bỏ chế độ tư hữu như nguồn gốc của
tình trạng “người bóc lột người", luận điểm về hai giai đoạn của chủ
nghĩa cộng sản… Trên bình diện thế giới, những luận điểm về chủ nghĩa
đế quốc là giai đoạn tột cùng của chủ nghĩa tư bản, về thời đại cách
mạng vô sản, về liên minh giữa phong trào cách mạng vô sản và phong
trào giải phóng dân tộc… Tạm thời, chúng ta hãy lấy những luận điểm ấy
làm những nội dung cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin để xem xét vấn đề của
chúng ta.
Nhưng đó chỉ mới là những khó khăn về phương pháp khi đụng tới chủ
nghĩa Mác-Lênin nói chung trong trường hợp riêng của Việt Nam, chúng ta
lại gặp những khó khăn cũng thật nan giải. Chẳng hạn: Hồ Chí Minh được
thừa nhận là “người cộng sản đầu tiên ở Việt Nam”, người đầu tiên tiếp
thu và truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin ở Việt Nam”, nhưng có thật hoàn
toàn như thế không? Trong cuốn
Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch,
Trần Dân Tiên nói tới sự tiếp thụ của Hồ Chí Minh với cả Jésus, Phật
Thích Ca, Khổng Tử, Gandhi, Tôn Trung Sơn, mà không phải chỉ tiếp thụ
chủ nghĩa Mác-Lênin
[2] .
Chỉ một điểm đó thôi, cũng đủ để chúng ta cần suy nghĩ thật kỹ về
“biến thể Việt Nam” của chủ nghĩa Mác-Lênin. Ngoài Hồ Chí Minh, chúng
ta còn biết tới một số tài liệu khác của một số người được coi là những
nhà lý luận của Đảng Cộng sản Việt Nam, mà thường đó cũng là những
người lãnh đạo chủ yếu của Đảng (Trường Chinh, Lê Duẩn v.v..). Trong
những tài liệu đó, có những điểm thống nhất, nhưng cũng có những điểm
khác nhau (và khác nhau không nhỏ). Chưa nói tới những bài phát biểu
miệng có ảnh hưởng lớn (có khi lớn hơn những bài viết và đăng công
khai) của nhiều người. Cái khó là ở đó: dựa vào những tài liệu nào để
bàn tới những nội dung của chủ nghĩa Mác-Lênin ở Việt Nam?
Nói lên một vài khó khăn về phương pháp như vậy hoàn toàn không có
nghĩa là chúng ta đành bó tay. Điều đó chỉ có nghĩa là cần phải xem xét
thận trọng hơn mà thôi. Ở đây, phải chăng nên phân biệt những “phản ứng
chính trị” trong những bối cảnh khác nhau với những “quan điểm lý luận”
hay có tính chất lý luận. Cái quan trọng nhất đối với chúng ta chính là
ở điểm sau mà không phải ở điểm trước, tuy rằng những “phản ứng chính
trị” từng lúc ấy cũng nói lên khá rõ những “quan điểm lý luận”.
Xin nói thêm một điểm khác ở mục “vào đề” này: lựa chọn cách tiếp
cận vấn đề như thế nào? Thường người ta ít phân biệt rõ mặt chính trị
và mặt khoa học khi xem xét vấn đề chủ nghĩa Mác-Lênin ở Việt Nam. Ở
đây tôi xin tách hai mặt đó ra để xem xét. Ở đây, vấn đề không phải là
dựa vào sự đối nghịch nhau về mặt chính trị, mà là tìm kiếm những sự
thật khoa học có thể đạt tới. Những bất đồng về ý kiến đều không thể
tránh trong mọi nghiên cứu khoa học là tự nhiên và cũng là cần thiết.
Gác mặt chính trị sang một bên, tôi xin
nói tới những cách tiếp cận khoa học đối với vấn đề
này.
Trước hết là cách tiếp cận
sử học. Đó là cách tiếp cận quen
thuộc hơn cả đối với chúng ta. Lý giải các hiện tượng và các quá trình
- ở đây là sự du nhập chủ nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam – trong những
liên hệ với từng bối cảnh lịch sử là yêu cầu hàng đầu của các tiếp cận
sử học.
Một cách tiếp cận khác không thể thiếu được là cách tiếp cận
xã hội học.
Gần đây, một tác giả người Việt ở Pháp, tiến sĩ
Trịnh Văn Thảo, công bố một tác phẩm đáng
chú ý:
Việt Nam từ Khổng giáo đến chủ nghĩa cộng sản (Vietnam du confucianisme au communisme,
L’Harmattan, Paris, 1990, 346 trang). Trong đó ông đã phân tích nhiều
vấn đề có liên quan tới nội dung nghiên cứu của chúng ta bằng phương
pháp xã hội học, từ đó ông đưa ra những nhận xét khá lý thú
[3]
. Chúng ta có thể và cần phải áp dụng cả cách tiếp cận này để đi tới
những kết luận đầy đủ hơn. Yêu cầu hàng đầu của cách tiếp cận xã hội
học là đặt các tác nhân xã hội (agents sociaux) vào những liên hệ chặt
chẽ với các nhóm xã hội nhất định và với những biến đổi xã hội cụ thể,
tìm ra những lực đẩy xã hội đối với các hành vi của những tác nhân xã
hội ấy. Vấn đề này có liên quan với việc xem xét những người du nhập
chủ nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam cũng như những người là đối tượng của
sự du nhập ấy, như những tác nhân xã hội tương ứng. Ở đây lịch sử xã
hội và tư tưởng của các cá nhân tham gia quá trình du nhập ấy giữ một
vị trí rất quan trọng trong việc nghiên cứu.
Một cách tiếp cận nữa không thể thiếu là cách tiếp cận
tâm lý học và
tâm lý xã hội.
Trong thế kỷ XX đầy những biến thiên dồn dập và to lớn của
nước ta,
nhưng phản ứng tâm lý của cá nhân và
cộng đồng rất không đơn giản và
không phải bao giờ cũng ăn khớp với các quan hệ xã
hội, “chụp ảnh
nguyên xi” những biến đổi xã hội đã diễn ra.
Những yếu tố xã hội như
thành phần xã hội – giai cấp, địa vị xã hội
v.v… trong rất nhiều trường
hợp, lùi xuống vị trí thứ yếu so với những phản ứng
tâm lý. Anh em cùng
một bố mẹ có khi đứng hai bên chiến lũy. Sự phân
hóa về tâm lý và tư
tưởng nhiều khi “lệch pha” với sự phân hóa
xã hội. Ảnh hưởng của những
trào lưu tư tưởng khác nhau có ý nghĩa
quyết định trong những bước
ngoặt lịch sử đất nước. Chưa nói tới những yếu tố thuần
túy cá nhân, có
khi là những yếu tố ngẫu nhiên, cũng đóng vai
trò quan trọng. Một ví
dụ: vào cuối những năm 20, đầu những năm 30, thành phần
xã hội và trình
độ học vấn của những người theo Việt Nam Quốc dân đảng và
Đảng Cộng sản
không khác gì nhau bao nhiêu. Nói
chung đội ngũ “cốt cán” của hai chính
đảng này thường bao gồm những người trí thức cỡ trung
bình, có xu hướng
yêu nước. Nhưng điều đó không ngăn cản những cuộc
“đấu tranh tư tưởng"
quyết liệt giữa những tổ chức cách mạng đối địch nhau ấy. Ở
đây, sự
khác nhau nhiều khi chỉ là do người này bắt được
ánh sáng này, người
kia bắt được ánh sáng khác và cứ thế lao
hết mình theo thứ ánh sáng
mình bắt được ấy. Những sự vận động về mặt tâm lý
xã hội dưới sự tác
động của những liên hệ xã hội, ảnh hưởng xã hội,
biểu tượng, niềm tin
v.v… không diễn ra theo lối đơn tuyến mà diễn ra
theo lối đa tuyến. Lý
giải mọi hiện tượng bằng lý luận giai cấp và đấu tranh
giai cấp chỉ là
một mặt cần tính đến nhưng không phải là “vạn
năng”. Nhất là khi đi vào
tiểu sử của những nhân vật có ảnh hưởng lớn tới tiến
trình vận động xã
hội, thì lại càng thấy rõ điều đó.
Với sự vận dụng nhiều cách tiếp cận khác nhau nhưng bổ sung cho
nhau như vừa nói, chúng ta có thể đi tới một bức tranh gần đúng với các
quá trình xã hội hiện thực, ở đây là quá trình du nhập chủ nghĩa
Mác-Lênin mà chúng ta đang nghiên cứu.
I. Bối cảnh lịch sử và xã hội của sự du nhập chủ nghĩa Mác-Lênin vào nước ta
Từ trước đến nay, thường giới hạn bối cảnh này vào những
năm 20. Lý
do: khi Nguyễn Ái Quốc trở thành đảng viên Đảng
Cộng sản Pháp và bắt
đầu tiến hành việc truyền bá chủ nghĩa
Mác-Lênin vào Việt Nam thông qua
báo chí và các tổ chức cách mạng
được ông thành lập sau đó. Đúng là từ
những năm đó, những sự lựa chọn khắc nghiệt được đặt ra trước
những
người yêu nước và cách mạng Việt Nam ở hải ngoại
cũng như ở trong nước.
Đi theo trào lưu cách mạng nào: vô sản hay
không vô sản, tiến hành đấu
tranh cách mạng dưới hình thức nào: bạo lực hay
phi bạo lực; chỗ dựa xã
hội chủ yếu là ở đâu: các tầng lớp “bên
trên” hay các tầng lớp “bên
dưới”… một loạt câu hỏi đặt ra rất bức bách
đối với tình hình xã hội
Việt Nam, theo những thôi thúc mạnh mẽ của những tiến
trình cách mạng
thế giới hồi đó (nhất là cách mạng Nga và
cách mạng Trung Quốc).
Xin lưu ý một điểm: Có thể nói, trong cả thế kỷ
này, những vận động
của xã hội Việt Nam nói chung và của các
trào lưu cách mạng Việt Nam
nói riêng đã chịu sự tác động rất lớn của
những tiến trình chung diễn
ra trên thế giới. Những phong trào cách mạng xung
quanh nước ta, đặc
biệt của cách mạng Trung Quốc. Tất nhiên sự tác
động này thường bị
“khúc xạ” qua những tính đặc thù của
Việt Nam. Nhưng nhìn chung, những
nhịp bước của Cách mạng Việt Nam gần như ăn khớp với những nhịp
bước
của cách mạng thế giới. Riêng về tác động của
cách mạng Trung Quốc, có
thể nói trong mấy chục năm đầu thế kỷ này, Việt Nam gần
như theo sát
từng bước đi của nó: từ phong trào Duy Tân, qua
phong trào cách mạng
kiểu Tôn Trung Sơn (Quang phục Hội và Quốc dân
Đảng), đến phong trào
thanh niên, rồi đến phong trào cộng sản. Về sau
này, tuy không ăn khớp
đến mức đó, nhưng rõ ràng Trung Quốc vẫn
tác động rất lớn đến Việt Nam,
từ đầu tranh vũ trang đến cải tạo xã hội chủ nghĩa và đến
cả “cải
cách”, “đổi mới”, hiện nay. Điều đó
không có gì khó hiểu: giữa hai nước
có nhiều nét giống nhau về xã hội, lịch sử
và truyền thống văn hóa-tư
tưởng, mà Trung Quốc thường là “người thầy”
của Việt Nam về nhiều mặt,
không những vì Trung Quốc lớn hơn mà chủ yếu
trình độ phát triển xã hội
và văn hóa của Trung Quốc thường đi trước ta một bước.
Âu cũng là cái
“nghiệp” của lịch sử với đủ những yếu tố tích cực
lẫn tiêu cực của nó.
Thật ra, muốn nhìn nhận đúng hơn quá trình du nhập chủ nghĩa
Mác-Lênin vào nước ta, cần ngược lên lịch sử đất nước một chút nữa, từ
cuối thế kỷ XIX và nhất là từ những năm đầu của thế kỷ XX. Tôi không có
một phát hiện gì mới khi nói rằng:
hệ vấn đề đặt ra trước sự phát triển của đất nước đầu thế kỷ và cuối thế kỷ hầu như giống nhau.
Những mục tiêu “dân giàu, nước mạnh”,
xã hội “văn minh” đâu phải là
chuyện mới mẻ! (Đúng là ngày nay chúng ta
có thêm từ “công bằng”, nhưng
hệ vấn đề
về cơ bản vẫn là thế). Bài toán hiểm hóc nhất của tất
cả các nước lạc hậu (và do lạc hậu mà rơi vào ách thống trị của các
cường quốc phương Tây) là bài toán vượt tới trình độ văn minh của các
nước tiên tiến hồi đó, để vừa thoát khỏi ách nô dịch của nước ngoài,
vừa khắc phục tình trạng lạc hậu của đất nước. Và xét đến cùng, giành
được độc lập chỉ là tiền đề
bắt buộc để đạt tới một xã hội văn
minh và chỉ khi đạt tới đó thì độc lập dân tộc mới thật sự có ý nghĩa.
Hơn lúc nào hết, hiện nay vấn đề này lại được đặt ra trong tính toàn
bộ, tính tổng thể của nó. Và không có gì lạ khi ở cuối thế kỷ này, khi
chúng ta đã giành được độc lập trọn vẹn, chúng ta cũng lại đứng trước
hệ vấn đề “dân giàu nước mạnh, xã hội văn minh” được đặt ra vào đầu thế
kỷ này.
Tất nhiên, những nội dung và điều kiện của nó đã hoàn toàn khác
trước. Ngày nay chúng ta đã có tiền đề độc lập dân tộc và đang nói tới
“văn minh” trong bối cảnh một nền văn minh khác, nhưng hệ vấn đề “dân
giàu nước mạnh, xã hội công bằng và văn minh” là sự phục hồi và sự tiếp
tục của hệ vấn đề đã đặt ra đầu thế kỷ, từ thời Duy Tân. Một sự trùng
lập đáng ngạc nhiên: Ngày nay từ “đổi mới” được dùng như tên gọi một sự
nghiệp lịch sử của toàn thể dân tộc nhằm “hiện đại hóa” đất nước cũng
là từ “Duy Tân” ở đầu thế kỷ, chỉ khác nhau ở một từ là thuần Việt còn
từ kia là Hán Việt. Sự xâm lược và thống trị của chủ nghĩa thực dân là
một hoàn cảnh đặc biệt để các nhà nho Duy Tân đầu thế kỷ suy nghĩ về
vận mệnh đất nước theo hướng giải phóng dân tộc và hiện đại hóa đất
nước. Xét theo một ý nghĩa nào đó, chính chủ nghĩa thực dân đóng vai
trò “kích thích” (theo lối phản diện) để giới sĩ phu Duy Tân đặt ra
những vấn đề vừa cấp bách vừa căn bản của đất nước trong cả thế kỷ XX
(một lần nữa, không thể không nhắc tới tác động của những tư tưởng Duy
Tân ở Trung Quốc đối với sĩ phu nước ta, qua các Tân thư được đọc khá
rộng rãi vào đầu thế kỷ). Không nên đánh giá thấp sự tiếp nhận của giới
sĩ phu Duy Tân đối với các trào lưu tư tưởng phương Tây hồi đó. Họ đã
đọc khá nhiều tác giả lớn (nhất là J-J.Rouseau, Montequieu, Spencer…)
qua chữ Hán và đọc khá sâu. Ngày nay, nhiều người trí thức thậm chí
không hề làm quen với những tác giả này, trong khi các sĩ phu thời
trước rất “thuộc” họ. Một ngộ nhận lớn của chúng ta là tưởng rằng những
tác giả ấy đã “lỗi thời”, chỉ cần đọc những tác giả Mác-Lênin là đủ để
nắm được những trí thức cao nhất của loài người. Và thế là ngoài sách
Mác-Lênin ra, người ta chẳng cần biết tới những tư tưởng “thấp kém” và
“sai lầm” khác.
Đọc một tài liệu của Đông Kinh Nghĩa Thục như
Văn minh tân học sáchchưa
xác định được ai là tác giả), tôi
kính phục vô vàn tầm suy nghĩ
của các sĩ phu Duy Tân. Các cụ phân
tích rất hay tình trạng lạc hậu của
ta về kinh tế, về “tính tình” (tâm
lý xã hội), về phong tục… Nêu lên
cũng rất hay bốn nguyên nhân suy đồi của Á
Đông: Nội hạ ngoại di (coi
mình là hơn người), trọng vương khinh bá (trọng
đạo lý, khinh kỹ thuật
và phương pháp), xưa đúng nay sai (người xưa
luôn luôn đúng) và cuối
cùng, trọng quan khinh dân. Và vạch rõ
“sáu đường mở mang dân trí”:
dùng chữ Quốc ngữ, đổi lại sách dạy học, cải cách
chế độ trường học,
khuyến khích nhân tài mới, phục hưng công
nghiệp và thương mại, phát
triển báo chí. Và để thực hiện những điều
đó, các cụ kêu gọi “kết nghĩa
đồng bào”, nêu cao truyền thống yêu nước của
“dòng dõi Lạc Long”, của
“con nhà Nam Việt”… Dù khác
nhau về phương pháp, độc lập dân tộc vẫn là
mục tiêu của tất cả các xu hướng (tự lập hay trông
chờ ngoại viện, quân
chủ hay cộng hòa, bạo lực hay không bạo lực, theo
cách phân chia của
Trịnh Văn Thảo).
Rõ ràng phong trào Duy Tân với hai nội dung cơ bản (yêu nước và
canh tân xã hội để có độc lập dân tộc và xã hội văn minh) là di sản do
các vị tiền bối ở đầu thế kỷ XX để lại cho những kẻ hậu sinh trong thế
kỷ này, cho chúng ta hôm nay.
Có người đánh giá phong trào Duy Tân đầu thế kỷ như là “hệ tư tưởng
tư sản”, nghĩa là như một thứ gì có thể vứt bỏ, không mảy may thương
xót để theo “hệ tư tưởng vô sản” cao hơn, đúng hơn. Bằng con mắt hôm
nay để nhìn lại, tôi thấy không phải như thế. Bởi vì, như trên đã nói,
hệ vấn đề đặt ra thời ấy và hệ vấn đề đặt ra hôm nay đối với vận mệnh
của đất nước về cơ bản giống nhau. Và khi đặt ra hệ vấn đề mới ấy, các
sĩ phu Duy Tân đầu thế kỷ đã phải dứt bỏ một cách đau đớn với hệ tư
tưởng cũ là Nho giáo, mà các cụ coi là những nguyên nhân đưa tới sự lạc
hậu của đất nước. Ở đây, ngoài tầm trí tuệ “nhìn xa thấy rộng” ra, phải
thấy đó là một sự dũng cảm lớn của các cụ. Các cụ là những nhân cách
lớn, dám đoạn tuyệt với những lề thói suy nghĩ và hành động lỗi thời.
Sự dũng cảm lớn nhất của mỗi con người chính là ở chỗ dám đoạn tuyệt
với những nhận thức, những đạo lý lỗi thời mà bản thân mình từng coi là
“khuôn vàng thước ngọc” không thể thay đổi được. “Hủ nho” là đối tượng
phê phán của các cụ, và sự phê phán ấy bao hàm cả tự phê phán. Tinh
thần của các cụ được thể hiện bằng một câu trong
Văn minh Tân học sách:
“Dây đàn cầm không hài hòa
thì tháo ra mà sửa lại, nhà ở đã cũ
hàng
ngàn năm thì phải dở đi mà làm lại”.
Phải chăng đó là cái tinh thần
hiện nay chúng ta đang cần có?
Phong trào Duy Tân bị thực dân Pháp khủng bố
nặng nề. Hầu hết các
sĩ phu Duy Tân đều bị bỏ tù không thương xót
(có lẽ đó là lớp tù chính
trị đầu tiên bị đày ra Côn Đảo mà Huỳnh
Thúc Kháng mô tả trong
Thi tù tùng thoại).
Một số người còn bị thực dân Pháp chém đầu. Thất bại của họ là thật dễ
hiểu, nhưng họ đã làm được một sứ mệnh rất lớn trong đời sống tư tưởng
với hệ vấn đề mà bây giờ chúng ta có thể gọi là vấn đề “hiện đại hóa”
do họ đặt ra. Có ý thức hay không có ý thức, tất cả các trào lưu yêu
nước và cách mạng sau này đều tiếp nhận những tư tưởng lớn ấy của họ.
Không phải trong những tư tưởng của họ không có những chỗ yếu, những
hạn chế. Điều đó đã được nói tới nhiều, nhưng cái lớn lao của họ dường
như đã không được đánh giá đúng, có khi bị phủ định quá dễ dàng (chẳng
hạn chỉ cần ghép những tư tưởng Duy Tân vào “hệ tư tưởng tư sản” là đủ
để xóa bỏ đi một cách nhẹ nhàng).
Tôi xin nói thật rằng: nếu ngày nay, giới trí thức chúng ta (lớp
“kẻ sĩ” hiện đại) có được tầm trí tuệ và khí phách ngang với những sĩ
phu Duy Tân, thì đã là điều đáng mừng lắm rồi. Trình độ phát triển kinh
tế - xã hội của nước ta, vào những năm đầu thế kỷ chưa thật chín muồi
để cho những tư tưởng Duy Tân trở thành xu hướng chủ đạo của toàn xã
hội. Thêm vào đó, những biến đổi xã hội và lịch sử sau đó lại đặt ra
những vấn đề mới mà lớp trí thức “tân học” phải đương đầu.
Có hai điểm cần nhấn mạnh:
Thứ nhất, sự thống trị thực dân, trong khi
đè nặng
lên thân phận của mọi người Việt Nam, đã bước sang
thời kỳ “khai thác
thuộc địa” tương đối ổn định hơn (đặc biệt là sau khi
đàn áp xong những
cuộc khởi nghĩa vũ trang của Hoàng Hoa Thám, Đội
Cấn… và sau chiến
tranh thế giới thứ nhất). Chính trong thời kỳ này, dưới
tác động của
những chính sách “khai thác thuộc địa”
ấy, xã hội Việt Nam có những
thay đổi quan trọng. Lâu nay, chúng ta quen nhìn
chủ nghĩa thực dân ở
một phía (bóc lột, đàn áp…)
còn phía thúc đẩy sự phát triển kinh
tế-xã
hội thì chưa được đánh giá đúng. Ở
đây, xin nhắc lại cách nhìn của Mác
khi ông phân tích về sự thống trị của thực dân
Anh ở Ấn Độ. Theo ông:
“nước Anh có hai sứ mệnh phải thực hiện ở Ấn Độ: Một sứ
mệnh có tính
chất phá hoại, Một sứ mệnh phục hưng: thủ tiêu xã
hội (châu Á cổ xưa và
đặt những nền móng vật chất của xã hội phương Tây ở
Châu Á…”. Nói cách
khác, bên cạnh tính chất man rợ, hung hăn và
lòng tham vô độ của chủ
nghĩa thực dân đối với dân bản xứ, Mác cũng
nói tới tác dụng khách quan
(ngoài ý muốn của chủ nghĩa thực dân) trong việc
đưa các nước thuộc địa
vào những quá trình thay đổi mạnh mẽ về lực lượng
sản xuất và về quan
hệ sản xuất theo hướng Âu hóa. Điều Mác nói
về thực dân Anh ở Ấn Độ về
cơ bản cũng thích hợp với thực dân Pháp ở Việt Nam.
Trong mấy chục năm đầu thế kỷ, rõ ràng xã hội Việt
Nam đã trải qua
những thay đổi lớn về cơ cấu kinh tế, quan hệ hàng
hóa-tiền tệ và cơ
cấu hạ tầng (đường bộ, đường sắt, các đô thị mới…)
phát triển đến một
trình độ cao hơn nhiều so với trước đó. Về cơ cấu
xã hội, đã hình thành
ra những tầng lớp xã hội mới (nếu chưa nói hẳn là
những giai cấp mới):
tư sản, vô sản (viên chức, những người làm
các nghề độc lập…). Về văn
hóa, chữ quốc ngữ được dùng một cách chính
thức trong các trường học
(bên cạnh tiếng Pháp), các báo tiếng Việt
được xuất bản, những thể loại
văn học và nghệ thuật mới hình thành, hệ thống
trường học từ tiểu học
đến trung học và đại học (tuy có những hạn chế lớn) được
mở rộng… Tất
cả những điều đó đã làm cho bộ mặt xã hội
Việt Nam khác hẳn xa với “xã
hội truyền thông”. Dù tình trạng lạc hậu vẫn
được duy trì trên nhiều
vùng của đất nước – nhất là ở các
vùng nông thôn rộng lớn – thì
trên cơ
thể xã hội Việt Nam đã ló dạng một số yếu tố
đáng kể của “xã hội hiện
đại”. Nếu như tầng lớp tư sản chỉ mới manh nha, nhưng chưa đủ sức
trở
thành một lực lượng xã hội lớn mạnh (như trong trường hợp
Ấn Độ chẳng
hạn), và nếu như tầng lớp vô sản cũng còn ít
ỏi (chủ yếu là các phu đồn
điền, phu mỏ, còn vô sản công nghiệp chưa được bao
nhiêu), thì tầng lớp
trí thức có thể nói là đã
hình thành khá rõ và bắt đầu chiếm
những vị
trí xã hội quan trọng. Người ta gọi đó là
tầng lớp trí thức “Tân học”,
phần lớn từ các trường học - công và tư –
thuộc hệ thống giảng dạy theo
chương trình giáo dục của thực dân Pháp
mà ra. Mục tiêu của hệ thống
giáo dục này là truyền bá sự “khai
hóa” của người Pháp ở thuộc địa và
đào tạo những nhân viên chức mẫn cán cho bộ
máy cai trị thuộc địa,
nhưng về khách quan, hệ thống này đã đem lại một
số “tri thức” cần
thiết cho một tầng lớp người ngày càng đông đảo
và do đó, tạo ra một
giới trí thức mới. Trong giới trí thức này,
có đủ các “bậc” (đại học,
trung học và tiểu học). Xin nhắc lại rằng khái niệm
trí thức cũng rất
tương đối. Ở vùng quê tôi, đỗ tiểu học, có
bằng primaire, đã được người
ta gọi bằng “thầy” rồi, có bằng diplôme
thì oai hơn, có bằng
baccalauréat càng oai hơn nữa, và có bằng
cử nhân thì đã là “của hiếm”.
Giới trí thức này làm nhiều nghề khác nhau:
viên chức, giáo viên, làm
báo, viết sách… và về đại thể chia
làm hai bộ phận: viên chức Nhà nước
và người làm nghề tự do. Mức sống của giới trí
thức cũng rất khác nhau.
Và tất nhiên, do những vị trí xã hội
khác nhau, trong giới trí thức
cũng có nhiều xu hướng tư tưởng khác nhau. Nhưng
nói chung, trừ một số
trường hợp nào đó, lòng yêu nước và
lòng mong muốn canh tân xã hội vẫn
tồn tại (sâu sắc hay bàng bạc) trong giới trí thức
Việt Nam. Chính cái
“mẫu số chung” ấy cắt nghĩa tại sao tuyệt đại đa số giới
trí thức nước
ta đã hưởng ứng mạnh mẽ và tích cực cuộc
cách mạng tháng tám sau này.
Nhìn lại các cuộc vận động yêu nước trong hơn 20
năm (từ đầu những năm
20 đến giữa những năm 40) ta thấy rõ giới trí thức Việt
Nam nói chung
(kể cả học sinh và sinh viên như “dự trữ” của
nó) đã đóng vai trò chủ
đạo (có người nói tới vai trò “động
lực” của tầng lớp tiểu tư sản trong
các phong trào yêu nước và cách mạng,
xin nêu ra đây để chúng ta cùng
suy nghĩ). Có thể nói không chút quá
đáng rằng lực lượng chính trị yêu
nước và cách mạng nào thu hút được đại đa
số giới trí thức Việt Nam,
lực lượng đó giành được ưu thế rõ rệt.
Thứ hai, những biến đổi trên trường quốc tế cũng tác
động hết sức mạnh mẽ tới những biến đổi tư tưởng và xã hội ở Việt Nam.
Cho đến đầu những năm 20, trên thực tế chưa có sự phân hóa tư tưởng
theo “giai cấp”, hay nói đúng hơn, theo “hệ tư tưởng giai cấp”. Sự phân
hóa chủ yếu hồi đó là ở phương thức giành độc lập dân tộc và thay đổi
xã hội: như thường nói, giữa bạo lực và phi bạo lực, hay giữa “cách
mạng” và “cải lương". Với những biến đổi của tình hình thế giới trong
và sau chiến tranh thế giới thứ nhất, những người yêu nước và tiến bộ ở
Việt Nam đứng trước một sự lựa chọn mới. Cuộc Cách mạng tháng Mười ở
Nga (1917) làm phân chia thế giới thành hai phía với những giá trị giai
cấp (tư sản và vô sản) được đặt thành nền tảng. Các cuộc đấu tranh xã
hội - và của dân tộc nữa - từ nay xoay quanh cái trục “giai cấp” này.
Yêu nước ư? Đúng, nhưng chưa đủ: Yêu nước theo lập trường giai cấp nào
(về chính trị, vấn đề giai cấp nào lãnh đạo phong trào yêu nước được
đặt ra). Tiến bộ xã hội ư? Đúng, nhưng chưa đủ: tiến bộ xã hội mang lại
lợi ích trước hết cho giai cấp nào (thậm chí từ những “tiến bộ xã hội”
mất đi, nhường chỗ cho những từ ngữ “cách mạng xã hội”). Những khái
niệm “giai cấp”, “đấu tranh giai cấp” (giữa tư sản và vô sản) vốn được
đẻ ra trong các xã hộp phương Tây (nhất là từ giữa thế kỷ XIX trở đi),
thì ngày nay cũng được du nhập vào các nước lạc hậu ở phương Đông như
những khái niệm cơ bản. Hệ vấn đề của đất nước và xã hội bỗng nhiên
thay đổi đến mức hệ vấn đề đặt ra đầu thế kỷ bị đẩy lùi xuống bên dưới.
Những từ ngữ như “dân giàu nước mạnh”, “văn minh”… rơi vào quá khứ để
không bao giờ được nhắc lại trong sáu, bảy chục năm sau đó, mãi đến đầu
những năm 90 mới trở lại.
Thật ra, Cách mạng tháng mười Nga lúc đầu không ảnh hưởng
trực tiếp
tới những biến đổi tư tưởng và xã hội ở nước ta. Trừ một
vài tờ báo có nói tới những sự kiện xảy ra
ở nước Nga hồi đó (như tờ
Nam Phong
chẳng hạn), nói chung dân Việt Nam ít biết tới nó. Dần dần, thông qua
những biến đổi tư tưởng và chính trị ở Trung Quốc và ở Pháp, những tư
tưởng của Cách mạng Nga mới bắt đầu “gây men” trong một bộ phận yêu
nước và cách mạng trẻ tuổi, có học và có xu hướng cấp tiến. Trong những
năm 20, ảnh hưởng của Ngũ tứ vận động, của phong trào vô sản và cộng
sản, nhất là của sự hợp tác Quốc-Cộng trong thời kỳ Bắc phạt do Tôn
Trung Sơn lãnh đạo chống lại bọn quân phiệt thân đế quốc ở phía bắc
Trung Quốc, và cuối cùng là ảnh hưởng của sự chia rẽ Quốc-Cộng, kết
thúc bằng chính biến phản cách mạng của Tưởng Giới Thạch và thất bại
của Quảng Châu Công xã. Tất cả những biến động này tác động trực tiếp
không những tới những người yêu nước và cách mạng Việt Nam lúc đó còn
lưu trú ở Trung Quốc, mà còn gây ra những phản ứng trái ngược nhau
trong giới trí thức trong nước.
Đồng thời, với những ảnh hưởng của tình hình Trung Quốc,
những sự
phân hóa chính trị mới – đặc biệt là
sự phân hóa của Đảng Xã hội Pháp
thành hai đảng: Đảng Xã hội theo Quốc tế II và
Đảng Cộng sản theo Quốc
tế III – cũng tác động trực tiếp tới những người Việt Nam
yêu nước và
tiến bộ đang ở Pháp, cũng như tới bộ phận trí thức cấp
tiến trong nước.
Từ giữa những năm 20, với việc Nguyễn Ái Quốc đến Moskva và mở đầu
sự cộng tác chặt chẽ với Quốc tế III, ảnh hưởng của Liên bang Xô Viết
trở nên ngày càng trực tiếp hơn và mạnh mẽ hơn. Nguyễn Ái Quốc là sự
kết tinh của ba nguồn ảnh hưởng ấy, và điều đó đã gây những dấu ấn
không phai nhạt tới cái mà một số nhà nghiên cứu nước ngoài gọi là “chủ
nghĩa cộng sản Việt Nam”, nhưng đó là điều chúng ta xem xét ở phần sau.
Ở đây, tôi chỉ muốn nhấn mạnh rằng: sự phân chia các trào lưu tư
tưởng và chính trị theo quan điểm giai cấp (tư sản và vô sản) trên thế
giới là nhân tố quan trọng nhất gây ra sự phân hóa trong giới trí thức
Việt Nam (ở trong nước cũng như ngoài nước trong những năm 20). Và đây
là một sự phân hóa vô cùng phức tạp. Không nói tới những người chủ
trương dựa vào chính quyền thực dân để tiến thân về địa vị xã hội và
chính trị, ngay cả trong những người yêu nước, chống thực dân và mưu
cầu tiến bộ xã hội (theo những quan điểm khác nhau), sự phân hóa cũng
diễn ra thật quyết liệt. Một số người tuy vẫn giữ tinh thần yêu nước,
với những thái độ khi “cương" khi “nhu” khác nhau, nhưng dứt khoát
chống lại chủ nghĩa cộng sản (như Huỳnh Thúc Kháng). Một số thanh niên
yêu nước cấp tiến ngả sang sự lựa chọn con đường cách mạng vô sản ở
những mức độ khác nhau, đồng thời, vẫn truyền bá những tư tưởng của
cách mạng Pháp 1789 (tiêu biểu là Nguyễn An Ninh). Một số khác lựa chọn
con đường trung gian không chống cộng cũng không theo cộng sản, đặt
cách mạng quốc gia lên trên “cách mạng thế giới” (tức cách mạng giai
cấp) và phỏng theo Quốc dân Đảng Trung Quốc (Việt Nam Quốc dân Đảng).
Số còn lại từng bước hướng vào chủ nghĩa cộng sản (tiêu biểu là Hồ Tùng
Mậu, lúc đầu tham gia Tâm Tâm xã, sau đó tham gia Việt Nam Thanh niên
Cách mạng Đồng chí Hội, rồi trở thành một trong những đảng viên đảng
cộng sản đầu tiên). Có người lựa chọn Việt Nam Quốc dân Đảng, sau đó
chuyển sang Đảng Cộng sản (như Trần Hữu Độ, Trần Huy Liệu). Một điểm
cần nhấn mạnh: tất cả những người lựa chọn chủ nghĩa cộng sản đều nung
nấu tinh thần yêu nước mạnh mẽ. Việc lựa chọn chủ nghĩa này trong phần
lớn các trường hợp là do nhìn thấy nó đem lại những sức mạnh mới (trong
nước và trên thế giới) có thể giúp giải phóng dân tộc một cách có hiệu
quả hơn. Nói cách mạng vô sản nhưng chủ nghĩa yêu nước vẫn là một nền
tảng tư tưởng của
tất cả những người cộng sản.
Như vậy, vào những năm 20, chủ nghĩa cộng sản (mà lúc đầu là chủ
nghĩa Lênin và sau đó là chủ nghĩa Mác-Lênin, tuy rằng giữa hai khái
niệm đó có khác nhau như đã nói đoạn đầu) được gieo trên một mảnh đất
khá thuận lợi của những phong trào yêu nước và cách mạng trong nước.
Không phải tất cả những người yêu nước và cách mạng đều theo chủ nghĩa
cộng sản, nhưng rõ ràng nó đã chiếm được trí tuệ và trái tim của một bộ
phận đáng kể trong số đó để dần dần trở thành một lực lượng chính trị
chủ đạo. Về sau này, bối cảnh lịch sử và xã hội có những thay đổi khác
nữa làm cho sự du nhập và truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin có những điều
chỉnh và phát triển mới (đặc biệt trong những năm chiến tranh thế giới
thứ hai), nhưng về cơ bản, dấu ấn của bối cảnh những năm 20 vẫn rất đậm
nét trong lịch sử “chủ nghĩa cộng sản Việt Nam”.
II. Ai du nhập chủ nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam?
Thoạt nhìn, vấn đề này có vẻ đơn giản, và người thường trả lời thật
đơn giản: người đầu tiên du nhập chủ nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam là
Nguyễn Ái Quốc. Tất nhiên câu trả lời ấy là có căn cứ, nhưng chưa đủ,
vì trên thực tế không đơn giản như vậy. Đúng là Nguyễn Ái Quốc là người
cộng sản đầu tiên của Việt Nam (không có ai trở thành đảng viên Đảng
Cộng sản từ 1920 như Nguyễn Ái Quốc cả, nếu tính tuổi đảng thì Nguyễn
Ái Quốc hơn tuổi đảng của lớp cộng sản đầu tiên khoảng trên dưới 10
năm), và cũng đúng là Nguyễn Ái Quốc là người viết về chủ nghĩa cộng
sản sớm nhất trên sách báo cách mạng Việt Nam (lúc đầu là trên
Le Paria, trong cuốn
Le procès de la colonisation francaise, sau đó là trên tờ
Thanh niên và trong cuốn
Đường Cách Mệnh).
Nhưng không phải chỉ có Nguyễn Ái Quốc làm công việc giới thiệu chủ
nghĩa cộng sản vào Việt Nam trong những năm 20. Xin nêu lên vài tên
tuổi đã đóng góp vào công việc này: Phan Văn Trường, Nguyễn Thế Truyền,
Nguyễn An Ninh, Đào Duy Anh… Chúng ta biết Phan văn Trường là người
từng cộng tác với Nguyễn Ái Quốc và Phan Chu Trinh để khởi thảo ra
Bản yêu sách Tám điều
do Nguyễn Ái Quốc mang tới Hội nghị Versailles năm 1919. Sau
này (1926), ông cùng với Nguyễn Thế Truyền lập ra
tờ
Việt Nam hồn và giới thiệu chủ nghĩa cộng sản trên tờ báo này. Trên
La Cloche Fêlée
(1923), từ cuối năm 1925, Nguyễn An Ninh đã cho đăng khá đều đặn những
bài của một số lãnh tụ Quốc tế cộng sản hồi đó (Zinoviev, Bukharin,
Karl Radek, Gabriel Péri) và đầu năm 1926 cho đăng
Tuyên ngôn đảng cộng sản
trong tám kỳ báo liền. Đào Duy Anh với Quan Hải
tùng thư (nửa sau những
năm 20) đã phổ biến một cách khôn khéo chủ
nghĩa Mác. Còn có thể dẫn ra
những tên tuổi khác. Đối với những người đã được
biết và chưa được biết
này, chúng ta còn quá ít chú
trọng giới thiệu, đó là một bất công lịch
sử không nên để kéo dài.
Cũng xin nói rằng những con đường du nhập chủ nghĩa Mác-Lênin một cách
công khai
(và có khi hợp pháp), như vậy, tuy có ảnh hưởng đến một phần trí thức
nhất định (những người này vừa có trình độ học vấn khá, vừa có “nguồn”
tài liệu thuận lợi), nhưng những con đường không hợp pháp, bí mật, vẫn
giữ vai trò chính. Những người cách mạng “xuất dương" (chủ yếu là sang
Trung Quốc và Pháp) đón nhận chủ nghĩa cộng sản bằng nhiều cách, kể cả
dự các lớp huấn luyện rồi đưa vào trong nước. Ở trong nước, các tổ chức
cách mạng có xu hướng cộng sản cũng thông qua những “đầu vào” và “đầu
ra” của mình để làm công việc này. Đặc biệt, trong những thời kỳ khủng
bố mạnh mẽ của thực dân Pháp, như đầu những năm 30 và trong những năm
chiến tranh thế giới thứ hai, các nhà tù trở thành “trường học chủ
nghĩa cộng sản” rất có hiệu quả. Nhiều người cộng sản khi bị tù mới làm
quen với lý luận Mác-Lênin một cách kỹ lưỡng hơn. Họ kiếm được những
sách báo cộng sản qua con đường bí mật, rồi người hiểu trước giảng lại
cho người chưa hiểu. Qua phương tiện truyền miệng ấy, nhiều người “nhập
tâm” những gì nghe được và hiểu được để biến thành “vốn liếng lý luận”
của mình. (Tôi nhớ sau Cách mạng tháng Tám, khi được dự một lớp huấn
luyện chính trị do Xứ ủy Trung bộ mở (tháng 11/1945), những anh em tham
gia cách mạng còn “non choẹt” lớp chúng tôi đã say sưa nghe anh Trần
Tống giảng về chủ nghĩa Mác-Lênin. Trong tay chẳng có tài liệu gì, cứ
trình bày bằng trí nhớ những gì thu nhận được trong tù gần như thuộc
lòng. Về sau đối chiếu lại, thấy những bài giảng này rất khớp với cuốn
Những nguyên lý của chủ nghĩa Mác-Lênin do Stalin viết năm 1924).
Sau Cách mạng tháng Tám, sự du nhập của chủ nghĩa Mác-Lênin còn qua
những con đường khác nữa, “chính quy” hơn: các trường Đảng được mở, một
số đảng viên được đi học lý luận ở các trường đảng Trung Quốc và Liên
Xô. Nhiều sách báo được dịch ra từ tiếng Nga, tiếng Pháp, tiếng Hán và
được xuất bản với những số lượng lớn, và cả một số nhà lý luận của Liên
Xô, Trung Quốc được mời vào giảng dạy chủ nghĩa Mác-Lênin ở các trường,
lớp trong nước (chủ yếu là trường Nguyễn Ái Quốc). Hàng năm, hàng nghìn
đảng viên được đào tạo về lý luận qua những con đường “chính thống”
này. Nhưng ở đây, xin tập trung nói về sự du nhập chủ nghĩa Mác-Lênin
từ đầu những năm 20 cho tới Cách mạng tháng Tám là chính.
Qua bức tranh hết sức sơ lược nói trên, có thể phân tích số người
tiếp nhận và truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin trong những thời kỳ đầu như
sau:
Nói chung, đó là những người thuộc “tân học” với những trình độ
khác nhau, đại đa số là những người có trình độ tiểu học và trung học.
Trong giới “cựu học”, rất hiếm người theo chủ nghĩa cộng sản (kể cả
những sĩ phu thời Duy Tân còn lại). Điều đó thật dễ hiểu: chủ nghĩa
cộng sản vốn là sản phẩm của văn hóa phương Tây, sử dụng những khái
niệm phương Tây, nên những người “tân học” dễ tiếp nhận hơn.
Trừ một số rất ít người tiếp nhận và truyền bá chủ nghĩa cộng sản
bằng cách công khai, tuyệt đại đa số làm công việc này bằng những con
đường bí mật, bất hợp pháp.
Do những nguồn thu nhập bị hạn chế rất lớn, nên số người hiểu chủ
nghĩa Mác-Lênin một cách có hệ thống, “tận gốc” chỉ là một thiểu số
nhỏ. Đại đa số chỉ tiếp nhận nó bằng cách gián tiếp, rất giản lược.
Nhưng trong những điều kiện ngặt nghèo thời thuộc địa, chừng
đó
cũng đủ để cho những người cộng sản có được một
“hành trang lý luận”
tối thiểu để có thể hoạt động được cũng như để có thể
“chọi” với những
xu hướng tư tưởng khác. Ở đây có một điểm cần
nói rõ: không phải đa số
những người trí thức “tân học” theo chủ nghĩa
Mác-Lênin, tuy lòng yêu
nước và ý thức cải cách xã hội (cái
thường gọi là “Âu hóa”) của họ vẫn
còn khá sâu đậm. Họ từ bỏ di sản nho giáo để
chuyển sang tiếp nhận văn
hóa phương Tây, chủ yếu là văn hóa
Pháp, nhưng không sẵn sàng tiếp nhận
chủ nghĩa cộng sản. Dưới mắt họ, chủ nghĩa cộng sản vừa
“quá khích”
(chủ trương đấu tranh giai cấp theo lập trường giai cấp vô sản),
vừa
“nguy hiểm” (những người cộng sản chủ trương lật đổ
ách thực dân bằng
con đường bạo lực). Họ muốn thể hiện lòng yêu nước
và sự mong muốn cải
cách xã hội một cách ôn hòa hơn,
“an toàn” hơn. Lưỡi máy chém và
nhà tù
thực dân Pháp, cũng như vị trí xã hội của
họ, đưa họ tới một sự lựa
chọn khác: chủ yếu bằng con đường hoạt động văn hóa
và hợp pháp. Chỉ
đến thời kỳ cách mạng tháng Tám, một bộ phận trong
số họ mới ngả theo
con đường cách mạng, đi theo Việt Minh. Và sau đó,
trong những điều
kiện lịch sử thật đặc biệt, khi yêu cầu giải phóng
dân tộc trở nên bức
thiết và cũng là khi có những hoàn cảnh
thuận lợi hơn (như Hồ Chí Minh
nói trong
Tuyên ngôn độc lập:
“Pháp chạy Nhật hàng”), thì đại
đa số giới trí thức ủng hộ cách mạng (lúc
này, chính những người cộng
sản cũng đặt vấn đề giải phóng lên hàng đầu).
Ngày nay nhìn lại, có thể
đánh giá một cách bình tĩnh hơn những
gì mà giới trí thức “ôn
hòa” đã
làm cho văn hóa Việt Nam trong những thời kỳ những năm
20-30 là rất
quan trọng, nhưng đây là một chủ đề khác.
Một câu hỏi thường được đặt ra trong giới nghiên cứu gần
đây: sự du
nhập chủ nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam phải chăng
là một “tất yếu lịch
sử”. Theo tôi có thể nói như vậy, nhưng
không nên hiểu “tất yếu lịch
sử” như một cái gì có tính định mệnh,
mà nên hiểu đó như là kết quả của
những quá trình lịch sử nhất định trong một bối cảnh lịch
sử nhất định.
Không riêng gì ở Việt Nam, chủ nghĩa cộng sản, chủ
nghĩa Mác-Lênin
trong thời kỳ này cũng được du nhập ở nhiều nước khác
Trung quốc, Ấn
Độ, Indonesia… (chỉ nói tới những nước xung quanh ta).
Như đã nói, hệ
vấn đề “giải phóng dân tộc” và
“hiện đại hóa” xã hội đã thay đổi căn
bản vào thời kỳ này, đã biến thành hệ vấn
đề “cách mạng xã hội” theo
hướng đấu tranh giai cấp. Và ở đây, chính bộ phận
cấp tiến trong những
người yêu nước và cách mạng ở nước ta cũng
đã tỏ ra “thức thời” để khỏi
bị “lạc hậu” so với sự phát triển của các
cuộc đấu tranh cách mạng trên
thế giới. Riêng ở Việt Nam, sự đàn áp và
khủng bố tàn bạo của thực dân
Pháp không để cho người yêu nước cấp tiến có
một khả năng hoạt động nào
khác ngoài con đường làm cách mạng đến
cùng
[4]
; chủ nghĩa Mác-Lênin với tính chất cách mạng triệt để của nó (chưa nói
tới chuyện đúng sai) rõ ràng đã đáp ứng đầy đủ nhất với con đường cách
mạng này (riêng đầu đề
Đường cách mệnh
do Nguyễn Ái Quốc đặt ra cho cuốn sách huấn luyện của
mình đã nói rất rõ điều đó).
Sự du nhập chủ nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam dù có được coi là một
“tất yếu lịch sử” đi nữa, cũng không thể coi thắng lợi của cách mạng
Việt Nam như là thắng lợi “tất yếu” của chủ nghĩa Mác-Lênin. Thắng lợi
ấy, nói đúng hơn, là kết quả một sự điều chỉnh chủ nghĩa Mác-Lênin đến
mức G. Boudarel, một nhà nghiên cứu Pháp rất quen thuộc Việt Nam, coi
như một sự “tà đạo”. Nhưng đó cũng là chuyện sẽ bàn tới sau.
Cuối cùng, qua bức tranh còn rất sơ lược về những người
du nhập chủ
nghĩa Mác-Lênin trước đây, có thể nổi
lên một điểm hết sức quan trọng
nữa: đó là tính không thuần nhất về
xã hội và tư tưởng của họ. Mỗi
người mang vào đó những dấu ấn riêng của
mình, tùy ảnh hưởng mình tiếp
nhận và tùy “tư thế” xã hội và
tư tưởng của mình. Hơn nữa, tùy theo
nguồn gốc của sự du nhập (Liên Xô, Pháp, hay Trung
Quốc từ bên ngoài,
và các “lò” huấn luyện bên trong
khác nhau – tức các nhà tù
khác nhau
(Côn đảo Sơn La, Ban Mê Thuột, Lao Bảo…) sự tiếp
nhận chủ nghĩa
Mác-Lênin cũng mang những nội dung khác nhau. Giữa
những người cộng
sản, ngay từ buổi đầu cho tới cả hôm nay, cách hiểu chủ
nghĩa Mác-Lênin
không phải khi nào cũng giống nhau. Đã có
những cuộc đấu tranh khá gay
gắt giữa những người cộng sản về cách hiểu chủ nghĩa
Mác-Lênin trong
từng giai đoạn cách mạng. Những cuộc đấu tranh này được
giải quyết nhờ
ở hai yếu tố:
Thứ nhất, tổ chức và kỷ luật chặt chẽ của Đảng
cộng sản, theo nguyên tắc tập trung cao độ do hoàn cảnh hoạt động vô
cùng khó khăn trước cách mạng và cũng do chính nguyên lý xây dựng đảng
của chủ nghĩa Mác-Lênin.
Thứ hai, đây là yếu tố quan trọng
nhất, uy tín của Nguyễn Ái Quốc trong những người cộng sản Việt Nam,
một uy tín gần như tuyệt đối đối với đại đa số đảng viên. Cách hiểu
uyển chuyển và riêng biệt của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh về chủ nghĩa
Mác-Lênin cũng như về tiến trình cách mạng Việt Nam có sức thuyết phục
lớn trong những người cộng sản Việt Nam, nhất là vào những bước ngoặt
hết sức phức tạp của cách mạng Việt Nam.
[1]Tiêu biểu nhất là cuốn sách của Ông Nguyễn Đức Bình mới xuất bản gần đây:
Bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.
Theo tôi đó là một cố gắng không có
triển vọng. Vì hai lẽ: Nguyễn Đức
Bình không đưa ra được những luận điểm gì mới mẻ
hơn những luận điểm gì
từng có ở chủ nghĩa Mác-Lênin (mà thực chất
là chủ nghĩa Stalin) cách
đây 10-50 năm, chứng tỏ nó lâm vào trạng
thái “vô sinh”. Chỉ hơn 30
trang, ông Nguyễn Đức Bình coi tất cả những gì
khác với chủ nghĩa
Mác-Lênin là sai trái, ông đã
dùng tới 15 lần chữ “kẻ thù” để gọi những
người có ý kiến khác với chủ nghĩa
Mác-Lênin. Một thứ lý luận co lại,
không đếm xỉa gì tới những thành tựu văn hóa
và tư tưởng của loài
người, liệu có thể tồn tại một cách bình thường
không?
[2]Đây là một đoạn mà Trần Dân Tiên viết trong
Hồ Chí Minh truyện
(NXB Tam Liên, Thượng Hải, 1949, Trương Nhiệm Thức dịch ra tiếng Hoa)…
trong tất cả các lý luận cách mạng, ông Nguyễn cảm thấy chủ nghĩa Tôn
Văn là thích hợp nhất với hoàn cảnh cụ thể ở Việt Nam. Chủ nghĩa Tam
Dân của bác sĩ Tôn Dật Tiên có thể tổng kết là:
Chủ nghĩa dân tộc: độc lập cho mọi dân tộc
Chủ nghĩa dân quyền: tự do của nhân dân
Chủ nghĩa dân sinh: hạnh phúc và hưởng thụ của nhân dân
Đây là cái mà Việt Nam cần. Đây
là cái mà dân tộc Việt Nam đòi hỏi.
Đây là cái mà Nguyễn Ái Quốc
tìm kiếm. Từ đó về sau, Nguyễn Ái Quốc có
lòng kính trọng sâu sắc với vị lãnh tụ vĩ
đại này của nhân dân Trung
Quốc và trở thành người học trò trung thực của
ông ta” (tr. 81).
[3]Xin
lấy một ví dụ từ cuốn sách này: tác giả đã nhặt từ những sách báo lịch
sử và văn học (từ thời kỳ thực dân Pháp bắt đầu xâm lược nước ta cho
tới Cách mạng tháng tám) khoảng 650 cái tên. Rồi từ đó, tác giả lại
chọn ra 222 nhân vật được coi là nhóm-bằng chứng (groupe-témoin) với
một số dữ kiện tiểu sử giống nhau: tên, năm sinh, quê quán, nguồn gốc
xuất thân, học vấn, nghề nghiệp (chức vụ), tác phẩm. Ông chia số nhân
vật này thành những thế hệ khác nhau: thế hệ 1862, thế hệ 1907, thế hệ
1925. Mỗi thế hệ tương ứng với một giai đoạn lịch sử đất nước ta. Chẳng
hạn:
- Phạm Văn Đồng
- Sinh 1906
- Quảng Ngãi
- Con một nhà nho làm quan
- Trung học
- Giáo viên, đảng viên (Đảng cộng sản), Thủ tướng thời Hồ Chí Minh
- Tác giả những bài viết và báo
cáo về chính sách của nước Việt Nam xã hội
chủ nghĩa.
Từ đó, tác giả đặt các nhân vật vào những trào lưu chính trị và tư
tưởng đương thời và kết hợp với những dữ kiện khác để đánh giá họ.
[4]Trong cuốn
Paris-Saigon-Hanoi
(Gallimard, Paris, 1988), Philippe Devillers, một người chuyên nghiên
cứu về Việt Nam có uy tín ở Pháp, có viết về điều này rằng: “Sự đàn áp
mà Đảng cộng sản Đông dương là đối tượng chỉ làm tăng thêm uy tín của
đảng đối với nhiều người trẻ tuổi. Sự đàn áp ấy, và cách đối phó của
đảng, cách đảng biết chi phối các nhà tù thông qua những cán bộ của
mình, đã làm cho từ năm 1933 đảng trở thành bậc thầy hoạt động bí mậ