Nguyễn Trung Lương
Một
vài lời bàn về „Các
Mác“ với ông Đông La
Trong
bài
này tôi không có ý
định đóng
góp thêm luận điểm cho phong trào
bàn
cãi đánh giá tư tưởng của Karl Marx
mà
ông Đông
La
đã phác họa phê phán trong
bài viết của ông (talawas, ngày
24.01.2006),
mặc dù tôi cho rằng nghiên cứu Marx
(cũng như những nhà tư tưởng khác)
trước sau vẫn là việc nên và cần
làm lắm. Như chúng ta biết, trong điều
kiện sinh hoạt tư tưởng tại Việt Nam hôm nay phê
bình Marx không phải
là một vấn đề học thuật. Người ta phê
bình Marx là để chỉ trích chế độ,
đập ông Marx là để làm đau chế độ.
Nhưng thực ra thì ông Marx, một nhà
tư tưởng lỗi lạc (cũng như Kant, cũng như Hegel...) chẳng có
tội tình
gì cả; cái bất hạnh của ông Marx bắt
đầu từ ngày có những kẻ đã
tôn ông
thành thánh để rồi biến ông
thành một công cụ chính trị của họ.
Cũng
vì mà vấn đề đặt ra nơi đây
không phải là Marx đúng hay sai,
cũng không phải là vấn đề liệu các đệ
tử về sau có trung thành với tư
tưởng của ông hay không. Cứ giả thiết là
Marx hoàn toàn có lý đi -
một
điều không tưởng, nghĩ đến cùng cũng
không cần thiết mà cũng chẳng đáng
mong mỏi - thì đấy cũng không phải là
lý do để ta mù quáng đặt số phận
chúng ta, vận mệnh của nước ta vào lý
thuyết của ông. Tuy nhiên trong
thực tiễn nhân sinh ta thường gặp trường hợp điển
hình thế này: Ngồi
trong một chiếc máy bay ta không cần phải biết
chiếc máy bay ấy hoạt
động thế nào, được chế tạo ra sao, nhưng ta vẫn
yên trí, bình tĩnh vì
ta cho rằng khoa học kỹ thuật tuân theo những quy luật
không phụ thuộc
vào ý chí của con người đã
tính toán giải quyết hoàn chỉnh mọi
vấn đề
liên quan. Dựa vào những tiêu chuẩn
khách quan ta có thể phán
đoán được
tình thế để có thể an tâm trao số phận
của ta vào tay hãng hàng
không
đưa ta đến mục tiêu như ta thích mà
trên cơ bản ta không có - mà
cũng
chẳng cần có - thắc mắc gì để đem ra
bàn cãi cả. Nhưng đấy là
trên địa
hạt tri thức khoa học kỹ thuật. Tại đây áp dụng
đúng hay sai công thức
quyết định sự thành công hay thất bại. Như
chúng ta thừa biết, trong
vòng nhân sự không hề có
và sẽ không bao giờ có những
công thức như thế
bởi tính tự quyết (và cũng là
tính tự do) của con người (Immanuel
Kant). Tưởng rằng Marx (hay bất kỳ ai chăng nữa) đã
phát hiện ra được
những quy luật bất di bất dịch tương tự cho thực tiễn nhân
sinh là hạ
ông Marx xuống thành thầy phù thủy
và tất nhiên nó chẳng liên
quan gì
đến tư tưởng của Marx nữa, mà chỉ là biểu hiện sự
u minh của chính
mình.
Ông
Đông La khẳng định và biểu đồng tình
rằng ông sống trong một
„chế độ mà mỗi bước đi đã được chiếu
sáng bởi tư tưởng ông (Karl
Marx)“, rằng chủ nghĩa Marx „đã
và đang quyết định bước đi của đất nước
ta“. Điều này có thể là một
thực trạng và tôi cũng không muốn phủ
nhận
nó, nhưng nếu quả như thế thì đấy là
một thực trạng cần khắc phục bởi
vì nó đã được tạo nên bởi
chủ nghĩa độc tôn, thực chất bởi sự u minh,
và nếu tôi không đọc lầm thì
đấy cũng là đối tượng phê phán trong
bài
viết của ông Đông La. Trong thực tế việc
phát động phong trào „đổi
mới“
từ 20 năm nay không nằm ngoài mục đích
tìm lối để thoát ra khỏi sự mù
quáng đó. Nhưng thật là một sự ngộ
nhận tai hại nếu ta tưởng rằng cần
phải „đổi mới“ bởi vì ông Marx
sai lầm (để rồi lại rủ nhau đi tìm ông
thánh mới khác chăng!) hay là bởi
vì đã áp dụng
„sai“ chủ nghĩa Marx
(áp dụng „đúng đắn“ chủ nghĩa
Marx thì mọi bức xúc sẽ tiêu tan
chăng!).
Suy nghĩ như thế là vẫn còn lẩn quẩn trong
khuôn khổ tư duy giáo điều
độc tôn. Điều cần suy nghĩ ở đây là phải
xác định lại cương vị (status)
của lý thuyết cũng như cương vị của con người trong thực
tiễn nhân
sinh. Theo tôi „đổi mới“ là
phong trào tự giải phóng ra khỏi khuôn
khổ
tư duy độc tôn toàn trị; tinh thần đổi mới phải
và chỉ có thể là tinh
thần khai sáng (Immanuel Kant) thôi. Trong tinh
thần đó cương vị
(status) lý thuyết của chủ nghĩa Marx - hay của bất kỳ chủ
nghĩa nào
khác - trong thực tiễn nhân sinh không
phải là chỉ đạo mà là tư vấn;
cương vị của con người trong thực tiễn nhân sinh
không phải là phục
tùng mà là tự quyết.
Trong
bài
viết đã nhắc ở trên, ông Đông
La đã ca
ngợi „một tình yêu
bao la“ của „Các
Mác“, và tất
nhiên đây là „tình
yêu nhân
loại“. Thực
chất của phát kiến độc đáo này của
ông
Đông La là gì?
Ông
Đông La tự tuyên bố (hẳn không
ít hãnh
diện) là „chủ nghĩa tôi
theo là chủ nghĩa khoa học“, nhưng tôi
không
rõ là ông đã nhờ
vào khoa
học nào để phát hiện ra „một
tình yêu
bao la“ của Marx. Còn nếu cái
„tình yêu bao la“ chỉ
là một biểu hiện
mỹ cảm của ông Đông La đối với
thân thế và sự nghiệp của Marx, tương tự như mỹ
cảm của
Thuận Yến trong
bái hát „Bác Hồ - một
tình yêu
bao la“ mà ông phụ họa theo,
thì đây
không phải là nơi để đem chuyện này ra
bàn
bạc, mặc dù cũng rất thú vị.
Chẳng
khác gì các ông
Hoàng Minh
Chính, Nguyễn Thanh Giang, Búi Tín
vân vân... đã phê
phán Marx để
chê chế độ - mà ông Đông La
đã chỉ
trích
-, ông Đông La đã ca ngợi „một
tình
yêu bao la“ của „Các
Mác“ với mục
đích ngược lại, để khen chế độ. Có
khác chăng
là các ông Hoàng Minh
Chính, Nguyễn Thanh Giang, Bùi Tín
vân
vân... đã đưa ra những luận điểm
mà ta có thể kiểm chứng được, còn
cái
„tình yêu bao la“ của Marx
thì vô
chừng, rõ ràng chỉ là sản phẩm của
óc tưởng
tượng nghệ thuật của ông
Đông La, hoàn toàn chủ quan
mà - tùy
hứng - ta có thể cùng chia sẻ hay
không chia sẻ với ông.
Tuy
nhiên không phải tình cờ mà
ông Đông La đã dùng mỹ cảm để
thay
thế lập luận. Ai cũng biết là mỹ cảm có sức hấp
dẫn, kích động lớn. Là
một người mà trong thời thơ ấu đã từng xem phim Bạch Mao nữtrước
khi tham dự tố khổ trong thời kỳ cải cách ruộng đất,
tôi
dám
quyết rằng qua con đường mỹ cảm người ta có thể đạt được
quảng
đại quần
chúng trực tiếp và dễ dàng hơn
là qua lập
luận phiền toái. Và đây chắc
cũng là bài tính của ông
Đông La.
Ông Marx, ông Hồ đã thương ta
„bao
la“ như thế thì ta nỡ nào lại từ chối
không
đáp lại. Cái „luận
lý“ của
tình cảm này là cơ sở tạo
nên ý đồ
biến mỹ cảm thành công cụ cho tuyên
truyền, cho quảng cáo mà người ta đã
nâng
cao lên bậc khái niệm sang
trọng „nghệ thuật vị nhân sinh“ (Hải
Triều).
Cái sản phẩm nghệ thuật của ông Đông La
„Các Mác - Một tình
yêu bao la“
ta có thể yên trí xếp vào
loại „nghệ
thuật vị nhân sinh“. Vì phải
đánh
đúng vào thị hiếu của quảng đại quần
chúng, cho
nên tính cải lương
(Kitsch) là bản sắc của những sản phẩm „nghệ thuật
vị
nhân sinh“. Mỹ
cảm vốn là vô tư, vô vụ lợi (Immanuel
Kant), cũng
vì thế mà Andy
Warhol, một nghệ sĩ tiền phong của thế kỷ thứ 20, qua những bức tranh
vẽ đồ hộp của hãng Campbell’s, các bức
chân
dung Marylin Monroe, Mao
Trạch Đông... đã chỉ ra một cách mỉa
mai châm
biếm giá trị chân mỹ của
„nghệ thuật vị nhân sinh“ vậy.
©
2006 talawas