Chưa
có học thuyết triết học nào từng biện hộ cho nhiều vụ giết người đến
như thế. Tín điều của ông ta là “công bằng và tự do” đã trở thành gần
như một tôn giáo, các môn đồ của nó đã cai trị một nửa thế giới và nô
dịch hàng trăm triệu người.
Các vụ hành hạ, tra tấn, bỏ đói, diệt chủng, được thực hiện nhân
danh ông ta, đã trở thành công việc thường nhật của những kẻ cầm quyền
tàn độc trên toàn thế giới.
Thế nhưng theo kết quả thăm dò ngày hôm qua do đài BBC Radio 4 tiến
hành thì Karl Marx, người sáng lập chủ nghĩa cộng sản và ông tổ của chủ
nghĩa xã hội, người không đội trời chung với chủ nghĩa tư bản và giai
cấp tư sản lại được coi là nhà triết học vĩ đại nhất của mọi dân tộc và
mọi thời đại.
Làm sao lại xảy ra cái sự kiện là tên tuổi của con người vốn được
những kẻ độc tài chuyên chế dùng để biện hộ cho những tội ác man rợ của
họ lại được người thời nay coi là một trong những vĩ nhân của thế giới
văn minh?
Có thể vấn đề là ở chỗ định nghĩa khái niệm. Trong trường hợp này
phải chăng người “vĩ đại nhất” là người mà tư tưởng để lại dấu ấn sâu
sắc nhất trong lịch sử? Theo ý nghĩa đó thì không có gì để nghi ngờ
rằng giá trị của di sản của Marx chỉ có thể so sánh với những hậu quả
hậu quả thảm khốc mà ông đã để lại mà thôi.
Không phải vô tình mà Marx đã
nói: “Các nhà triết học chỉ giải
thích thế giới, nhưng vấn đề là cần phải cải tạo
nó”.
Quả thật ông đã thành công. Như Francis Wheen đã viết trong cuốn
sách về Marx: “100 năm sau khi Marx qua đời, một nửa nhân loại đã nằm
dưới sự cai trị của những chế độ coi chủ nghĩa Marx là chủ thuyết”.
Không có Marx thì đã không có
chiến tranh lạnh. Không có Marx thì đã
không có “bức màn sắt”, không
có quần đảo GULAG.
Như vậy chúng ta có thể đồng ý với nhau như sau: về mức độ tác động
lên tiến trình lịch sử thế giới thì không có triết gia nào có thể so
sánh với Marx. Nhưng nhất định từ “vĩ đại” phải bao hàm ý nghĩa tích
cực. Nhưng chẳng lẽ ta có thể đánh giá một cách tích cực một con người
khi mà tư tưởng của ông ta đã sinh ra nhiều kẻ sát nhân đến như thế?
Không có Marx thì Lenin và Stalin không thể có hệ tư tưởng cho phép
họ thực hiện những vụ đàn áp chống lại chính nhân dân nước mình với con
số nạn nhân lên đến 60 triệu người. Không có Marx thì Mao Trạch Đông
không thể trở thành kẻ giết người hàng loạt khủng khiếp nhất trong lịch
sử, 75 triệu người đã trở thành nạn nhân của ông ta.
Nước Anh và phương Tây nói chung được hưởng sung túc và tự do là vì
xã hội của họ không xây dựng trên cơ sở học thuyết mác-xít mà trên cơ
sở của chủ nghĩa tư bản tự do, một chế độ mà Marx rất khinh bỉ.
Tôi thật vô cùng kinh ngạc khi thấy thính giả của đài BBC Radio 4,
những người thông minh và đầy lòng nhân ái - phẩm chất đặc biệt của
thính giả đài này - lại có thể đưa lên bục vinh quang con người đã mang
lại cho thế giới chúng ta nhiều tai hoạ hơn bất kì ai khác.
“Các vị đã bỏ qua điều cốt yếu, các vị đã đơn giản hoá”, những
người biện hộ cho Marx có thể nói như thế. Họ khẳng định rằng không thể
bắt Marx chịu trách nhiệm thay cho những kẻ đã xuyên tạc học thuyết của
ông, những kẻ đã lợi dụng học thuyết của ông cho những mục đích riêng.
Những kẻ độc tài khát máu đã không đếm xỉa đến những tư tưởng vĩ đại
trong học thuyết của ông, họ chỉ chọn những ý tưởng riêng lẻ, thí dụ
thắng lợi tất yếu của giai cấp vô sản, có sức lôi cuốn quần chúng mà
thôi. Marx, họ khẳng định, sẽ phát hoảng nếu biết rằng người ta đã lợi
dụng tên tuổi ông để thực hiện những tội ác tày trời như thế.
Có thể là như vậy, nhưng liệu có thể tha thứ cho Marx khi những
điều khủng khiếp như thế được làm nhân danh ông hay không? Tôi nghĩ là
không.
Để lí giải vì sao tôi lại nghĩ như thế ta cần nghiên cứu kĩ lưỡng
xem thực chất Marx đã tranh đấu vì cái gì. Cần phải hiểu cá nhân ông và
tìm hiểu xem ông có nhận thức được hậu quả của lí thuyết triết học của
mình hay không.
Mặc dù những người kế tục Marx đã tiêu diệt hàng triệu sinh mạng,
chính Marx chưa từng hại ai: Dù nghèo khổ ông đã sống ở London như một
trí thức tư sản bình thường.
Marx sinh năm 1818 trong một gia đình Do Thái khá giả đã cải sang
Thiên Chúa giáo, ở thành phố Trier, nước Đức, sau khi tốt nghiệp đại
học ông trờ thành một nhà báo cấp tiến, phê phán tất cả mọi thứ trên
đời.
Năm 1843 ông đến Paris và bị trục xuất khỏi thủ đô nước Pháp vì
người ta coi ông là một phần tử cách mạng nguy hiểm. Năm 1848, tại Bỉ,
ông đã cùng với người bảo trợ giàu có của mình là Friedrich Engels viết
Tuyên ngôn của đảng cộng sản.
Năm 1852 ông chuyển đến London và hoàn thành bộ
Tư bản luận, tác phẩm quan trọng nhất của mình vào năm 1867.
Trong đời sống bình thường Marx là người háo danh, hung hăng và khó
gần, đúng như Francis Wheen mô tả, nhưng đồng thời ông lại rất yêu
thương vợ là bà Jenny von Westphalen và đã đau khổ rất nhiều khi ba
trong sáu người con của ông bị chết. Trong khu Soho, một khu vực hoang
vắng của thành phố London, ông đã sống như một người trung lưu, song
cuộc sống của ông phụ thuộc rất nhiều vào lòng tốt của những người bảo
trợ. Wheen viết: “Marx liên tục dội bom thư những ông chú ông bác giàu
có với mục đích vòi tiền và quỵ lụy trước những người họ hàng giầu có
để họ nhắc tên ông vào trong di chúc”.
Sau khi Marx chết vào năm 1883, mộ ông ở Highgate trở thành địa
điểm thiêng liêng nhất đối với những người mác-xít toàn thế giới; hiện
nay nó vẫn còn là như thế. Marx đã trang bị cho họ ý tưởng rằng chủ
nghĩa tư bản và sở hữu tư nhân là xấu, ác, còn chủ nghĩa xã hội và kinh
tế nhà nước là tốt đẹp. Xúc động vì những khổ đau của những người công
nhân nghèo đói, ông đã lập nên một học thuyết giáo điều, bao trùm tất
cả, vạn năng, kêu gọi giải phóng xã hội khỏi mọi bất công.
Marx tin tưởng rằng hành vi và số phận của con người không phải
được quyết định bởi tính cách và đạo đức của anh ta mà chính tác động
của các lực lượng kinh tế đã không cho phép người nghèo thoát khỏi cảnh
bần cùng. Theo ông, khái niệm đạo đức chỉ là một tập hợp các qui định
giúp cho giai cấp cầm quyền cai trị công nhân vô sản, nhằm vĩnh viễn
trói buộc họ vào địa vị thấp hèn mà thôi.
Hơn nữa Marx còn khẳng định rằng lịch sử chỉ là một loạt các bước
đi tiền định hướng tới việc thực hiện lí tưởng: lật đổ chế độ tư bản và
thiết lập chế độ cộng sản công bằng.
“Sự cáo chung của nó (tư sản) và thắng lợi
của giai cấp vô sản là tất yếu”, ông đã
viết trong
Tuyên ngôn
như thế. “Những người cộng sản… tuyên bố công khai rằng mục đích của họ
chỉ có thể đạt được bằng cách lật đổ bằng vũ lực toàn bộ chế độ xã hội
hiện nay… Giai cấp vô sản toàn thế giới liên hiệp lại!”.
Chính niềm tin vào sự cần thiết, tính tất yếu và tính thiện của
cách mạng và của cuộc đấu tranh giai cấp, tin rằng mục đích là biến
không tưởng mác-xít thành hiện thực đã biện hộ cho tất cả các phương
tiện, đã tạo cho lí thuyết của ông sức mạnh và tính chất phá hoại đến
như thế. Chính nó đã lợi dụng niềm tin của giai cấp công nhân rằng họ
đã bị đối xử bất công và biện hộ cho bạo lực nhân danh công cuộc cải
tạo xã hội.
Những người biện hộ cho Marx có thể cứ nhắc đi nhắc lại rằng ông sẽ
kinh hoàng khi biết đến GULAG, khi biết cuộc đàn áp của Stalin đã giết
hại hàng triệu người nhân danh ông, hoặc khi biết tình trạng của những
người công nhân Liên Xô phải làm việc với đồng lương chết đói ngay dưới
những bức chân dung của ông, những bức chân dung đang dõi theo họ từ
mọi bức tường. Nhưng chính vì vậy mà ta không thể coi Marx là một triết
gia vĩ đại được. Marx đã không hiểu những hậu quả mà lí thuyết của ông
sẽ mang đến cho nhân loại.
Nhưng nhiều nhà độc tài đã hiểu rõ có thể đạt được gì nếu họ lấy tư
tưởng của Marx làm vũ khí đấu tranh. Lenin, với khả năng chính trị xuất
sắc đã nhận ra ngay lập tức hiện thực dã man của chủ nghĩa Marx và ông
ta chỉ cần đưa thêm vào đó một cơ chế chính trị để có thể biến tư tưởng
thành hiện thực. Lenin tuyên bố rằng chủ nghĩa cộng sản không thể được
xây dựng bởi phong trào quần chúng của những người vô sản vụng về -
những người trí thức như Marx và Lenin thực ra rất khinh thường những
người lao động “ngu dốt” – mà phải được xây dựng bởi đội ngũ những
người mác-xít cách mạng ưu tú, những người hành động nhân danh giai cấp
công nhân. Nói một cách khác, cách mạng phải do đảng cộng sản bao gồm
những người như ông và Stalin tiến hành.
Chủ nghĩa Marx-Lenin không những không xây dựng được một xã hội
hoàn thiện: nó đã trở thành công cụ thô thiển để giành và giữ chính
quyền của một nhóm những kẻ háo danh.
Năm 1917 Lenin giành được chính quyền ở nước Nga. Sau khi
phát hiện
ra rằng hàng triệu công nhân và nông
dân không chấp nhận tư tưởng
mác-xít, ông ta quyết định rằng chỉ có thể
giữ được quyền lực cho đảng
cộng sản bằng vũ lực, bằng khủng bố và áp bức. Cuối
cùng mục đích đã
biện minh cho phương tiện. Lenin chính là một tín
đồ cuồng nhiệt của
chủ nghĩa Marx và vì vậy ông ta đã hạ lệnh
bắn giết hàng ngàn người và
bỏ cho chết đói hàng triệu người khác, ông
ta đã dùng tư tưởng của Marx
về tính tất yếu của cách mạng để biện hộ cho những quyết
định đó của
mình. “Cho bọn nông dân chết đói
đi”, Lenin đã nhiều lần nói như vậy.
Ông ta còn nói: “Muốn hoàn
thành cách mạng mà không bắn giết được
ư?”
Khi tiến hành thu thập tài liệu cho cuốn sách Stalin:
The Court of the Red Tsar (tạm dịch:
Stalin: Cung đình của Sa Hoàng đỏ),
được làm việc với hồ sơ cá nhân của Stalin, tôi không thể hiểu được vì
sao nhà độc tài Xô Viết và các cộng sự gần gũi của ông ta lại thích
giết người như thế. Họ là những người điên hay là những nạn nhân của
việc “tẩy não”, hay đối với họ giết người là phương tiện để tiến thân?
Nhưng sau khi đọc thư từ của họ thì tôi đã hiểu. Tôi nhận ra rằng
họ đã dùng tín điều mác-xít để biện hộ cho những hành động của mình, họ
sẵn sàng giết người, thậm chỉ tử hình ngay những người thân của mình vì
tin tưởng tuyệt đối rằng giết chóc là để xây dựng xã hội lí tưởng, xã
hội không tưởng phi giai cấp của Marx.
Giết người hàng loạt đã trở thành một loại thống kê: năm 1937, khi
khởi sự vụ “đàn áp lớn” Stalin đã giao chỉ tiêu giết người cho từng
tỉnh, không khác gì giao chỉ tiêu sản xuất gang thép vậy.
“Một người chết là bi kịch, hàng triệu người chết là con số thống
kê”, Stalin từng nói như thế. Có thể Marx sẽ vô cùng kinh ngạc khi nghe
thấy những lời như thế, nhưng chính ông là người đã hạ thấp đời sống
con người xuống đến mức một mắt xích đơn giản trong quá trình “sản
xuất” Chế Độ Không Tưởng.
Chúng ta cũng không được quên một điều nữa: Marx
đã khẳng định rằng
học thuyết của ông không chỉ là lí thuyết
triết học mà là một chân lí
khoa học. Chính vì tính “khoa học”
này mà hàng triệu những tên du thủ
du thực đã biến thành những kẻ sát nhân khi
cho rằng chúng đang thực
hiện “ý chí của lịch sử”: họ không biết
rằng các “chân lí”
mác-xít thực
ra chỉ là tập hợp các câu chữ khoa trương mà
thôi.
Trước ngày Stalin chết vào năm 1953, ba mươi triệu người đã bị
giết, ba mươi triệu người khác đã đi qua các trại cải tạo khác nhau.
Theo các tác giả Jung Chang và Jon Halliday thì bảy mươi lăm triệu
người đã bị giết hoặc bị chết đói dưới thời cai trị của “người cầm lái
vĩ đại” Mao Trạch Đông (1949-1976).
Nhưng đấy chưa phải đã hết: con số các nạn nhân của học thuyết
mác-xít ở các nước khác cũng lên đến hàng triệu. Năm 1975 Pol Pot và
Khmer Đỏ quyết định cải tạo Campuchia theo đường lối mác-xít: kết quả
là hai triệu người bị giết. Năm 1974 Mengistu Haile Mariam, đầu đảng tổ
chức mác-xít Ethiopia, lật đổ Haile Selassie: hàng triệu người đã bị
giết hại dưới thời ông ta.
Nhưng thí dụ về những tội ác trắng trợn nhất được thực
hiện trong
những ngày này chính là hành động
của những nhà độc tài mác-xít châu
Phi, từ Mugabe ở Zimbabwe cho đến đại tá Gaddafi ở Libya, họ
đã không
để cho châu lục này thoát khỏi vũng lầy trung cổ.
Mugabe đã được những
người cánh tả hết lời ca ngợi khi ông ta trở thành
tổng thống Zimbabwe,
song sau 18 năm cầm quyền theo đường lối mác-xít,
ông ta đã biến đất
nước thành nhà nước cảnh sát nghèo
đói. Các chiến dịch khủng bố của ông
ta có đầy đủ các tính chất của cuộc đấu tranh giai
cấp theo đường lối
mác-xít: việc truy bức một cách trơ trẽn những
tầng lớp xã hội khác
nhau đã dẫn đến những bi kịch như đói kém, giết
người. Những người có
tư tưởng tự do ở phương Tây vốn trước đây từng ủng hộ
ông ta nói rằng
Mugabe đã phát điên, nhưng tôi xin trả lời họ
như sau: “Không, ông ta
không điên, ông ta là một người
mác-xít”.
Theo tính toán của tôi thì trong thế kỉ XX,
hơn 150 triệu người đã bị giết theo lệnh của những người
mác-xít.
Lenin, Stalin, Pol Pot, tất cả bọn họ từng nghiên cứu và học thuộc
lòng các tác phẩm của Marx. Stalin tin vào các tư tưởng này đến nỗi
theo lời viên chỉ huy cảnh sát mật của ông ta là Lavrenty Beria thì
“niềm tin vào chủ nghĩa Marx của ông gần giống như sự cuồng tín của tín
đồ Hồi giáo”.
Đối với những tín đồ của Marx, thần tượng của họ đã gần như trở
thành một ông thánh: khi một người cộng sản Nga chết, người ta thường
nói rằng người quá cố “đi gặp Marx”.
Không có gì nghi ngờ rằng không ai có thể so sánh với Marx nếu xét
về những ảnh hưởng tiêu cực mà ông đã gây ra cho lịch sử hiện đại. Đấy
là tôi chưa nói đến tác động xấu của các thuật ngữ mác-xít đối với xã
hội chúng ta, thí dụ, như đối với hệ thống giáo dục Anh quốc, nơi sự
ganh đua không được đánh giá đúng mức, tài năng nhiều khi lại bị trừng
phạt, còn “tinh hoa” thì trở thành một từ mang tính thoá mạ.
Có thể cảm nhận được ảnh hưởng tiêu cực của Marx đối với xã hội
trên mỗi bước chân, mặc dù những tư tưởng ấy đã từng gây ra cảnh khổ
đau cho các nước khác. Nhiều đảng viên Đảng Lao động của Tony Blair vẫn
coi chủ nghĩa Marx là nhân đạo. Trong chính phủ của ông ta đầy những
nhân vật mà hôm qua còn tự nhận mình là mác-xít.
Vâng, Marx không chịu trách nhiệm nhiệm trực tiếp về những vụ giết
người. Đấy là tội của những kẻ đã ra lệnh và đã bóp cò. Nhưng như thế
không có nghĩa rằng ta có thể tha thứ cho chủ nghĩa không tưởng, thái
độ bất dung, chế độ chuyên chế phi luân cũng như việc dứt khoát khẳng
định rằng tư tưởng của Marx là khoa học mà người ta đã dùng để biện hộ
cho những hành động khủng khiếp nhất trong thế kỉ XX.
Triết gia lỗi lạc Bertrand Russell từng nói: “Tư duy của Marx rất
lộn xộn… và được khích lệ bởi lòng thù hận”. Kết quả của lòng thù hận
còn đó cho đến tận hôm nay ở Zimbabwe, ở trong các phòng tra tấn bí mật
của Bắc Triều Tiên hay trong những nước Đông Âu: trong các khu rừng
dương bên ngoài Moskva vẫn còn những mồ chôn tập thể các nạn nhân của
các vụ khủng bố do Stalin tiến hành, nếu hộp sọ có một vết đạn thì ta
có thể nói chắc rằng đấy chính là họ.
Di sản thực sự của “nhà triết học vĩ đại nhất của mọi thời
đại và mọi dân tộc” là như vậy đấy.
Simon Sebag Montefiore (1965) là tác giả cuốn
Stalin: The Court of the Red Tsar.
Bản tiếng Việt © 2006 talawas