Trần Tiến Dũng: Thưa ông Nguyễn Viện, là một nhà văn luôn để
tâm theo dõi các chuyển động của văn học Việt Nam đương đại, xin ông
đưa ra những chủ kiến cá nhân về những tác phẩm chính xuất hiện trên
văn đàn Việt Nam, thuộc cả 3 dòng: nhà nước, hải ngoại và ngoài luồng
đã tạo dư luận trong năm 2005? Ông có tin rằng những tác phẩm đó có đủ
chất lượng văn chương để gây ồn ào không? Đâu là giá trị chính của
những tác phẩm đó? Nếu không thì theo ông, bản chất của sự gây sốc đó
là gì?
Nguyễn Viện:
“Chủ kiến cá nhân” ở Việt Nam trong tất cả mọi
vấn đề hình như đều rất gay go. Chúng ta vốn không
quen với các hành vi
dân chủ, bởi thế thái độ của chúng ta về sự tiếp
nhận dân chủ thường
khó khăn, đôi khi trở nên đối nghịch, sân hận.
Tôi không phải là nhà
phê bình văn học, nhưng với tư cách một người đọc,
tôi muốn phát biểu
những cảm nhận của mình về những gì tôi đã
đọc. Trước hết, tôi cho rằng
sự khu biệt của ông về văn học Việt Nam gồm 3 dòng:
nhà nước, hải ngoại
và ngoài luồng là một thực tế không thể phủ
nhận, cho dù có những thế
lực muốn phủ nhận loại văn học ngoài phạm vi kiểm soát
của nhà nước. Ở
đây tôi muốn nói thêm về cái gọi
là “ngoài luồng” của văn học Việt Nam.
Đầu tiên phải kể đến tác phẩm của những nhà văn
trong nước được in ấn
bằng các phương tiện không do nhà nước quản
lý, như các ấn bản
photocopy được khởi đầu với Bầu trời lông gà lông vịt của Trần Tiến Dũng, Của căn cước ẩn dụ
của Nguyễn Quốc Chánh…; các website văn học có xuất xứ ngoài biên giới
Việt Nam. Trong bối cảnh hiện nay còn có thể kể thêm các tác phẩm của
các tác giả hải ngoại không in được trong nước. Chính vì những điều này
mà cũng có ba bảy đường dư luận.
Trong các
tổng kết cuối năm về văn học, báo chí trong nước chỉ
tính
đến những tác phẩm được in trong nước. Văn học hải ngoại
và văn học
ngoài luồng là một thực tế nhưng không được coi
là một thực thể, mặc dù
theo đánh giá chủ quan của tôi, bởi ý thức
tự do của người sáng tạo,
những tác phẩm ngoài luồng đã tác động
không nhỏ và thậm chí quan trọng
vào quá trình sáng tạo của các
tác giả chính thống nói riêng, nền văn
học Việt nói chung.
Nếu chỉ kể đến những tác phẩm đã gây dư luận, tôi thấy theo cấp độ ồn ào: Bóng đè của Đỗ Hoàng Diệu, “Cánh đồng bất tận” của Nguyễn Ngọc Tư, Dự báo phi thời tiết
của 5 cô gái Sài Gòn (Lynh Bacardi, Khương Hà, Nguyệt Phạm, Phương Lan,
Thanh Xuân), rất tiếc tập thơ này đã bị nhà nước cho thu hồi, sau cùng
là Khoan cắt bê tông của nhiều tác giả ngoài luồng trong và ngoài nước được NXB Giấy Vụn phổ biến dưới dạng photocopy.
Về Bóng đè
của Đỗ Hoàng Diệu: Hiệu ứng chung quanh tác phẩm
có thể gọi là tốt, bởi vì nó đã
gây được dư luận khen chê trái ngược
nhau. Tôi cho rằng đó là một hiện tượng tích
cực, nhưng đồng thời nó
cũng thật sự thiếu lành mạnh khi sự khen chê ấy
không nhắm vào bản thân
tác phẩm bằng yếu tính văn chương mà chỉ vì
nó dám đụng tới “bàn thờ”,
tiêu biểu như phát biểu của Nguyễn Vĩnh Nguyên
“tôi thích thái độ của
nhà văn Đỗ Hoàng Diệu” [1] , hoặc thậm chí tệ hại hơn: “Tôi chọn Bóng đè
vì đó là cuốn sách gây được dư luận,
và vì tác giả của nó còn trẻ cần
được cổ vũ” như phát biểu của nhà văn Nguyễn Huy
Thiệp [2]
. Người ta đã đánh đồng giá trị xã hội với
giá trị nghệ thuật và các yếu tố về nhân
thân tác giả. Cũng tương tự như vậy, Khoan cắt bê tông
là một bày tỏ thái độ chính trị xã hội, trước hết bằng cách thế xuất
hiện của nó, hơn là một tác phẩm có thể làm người đọc ngưỡng mộ về văn
chương. Lẽ ra cuốn Dự báo phi thời tiết có thể được đón nhận
một cách công bằng hơn, nhưng rất tiếc nó đã bị thu hồi bởi sự thiển
cận của nhà quản lý khi chưa kịp ra mắt. Riêng với “Cánh đồng bất tận”,
nó được đón nhận với chút bất ngờ và ít thiên kiến nhất.
Nếu chúng
ta nhìn sâu vào cái mà anh gọi
là “bản chất của sự gây
sốc” thì tôi cho rằng, cái sôi động
mà chúng ta có được mang tính tiếp
thị và bè phái nhiều hơn bản thân các
tác phẩm ấy tác động vào người
đọc cũng như tạo ra các giá trị sáng tạo
đích thực. Thái độ của một nhà
văn mới chỉ là tiền đề. Chỉ có thái độ thôi
thì chưa đủ, tác phẩm cần
tài năng. Tôi kính trọng thái độ can đảm của
những tác giả có ý thức tự
do, nhưng không phải vì thế mà tác phẩm của
họ mặc nhiên có giá trị văn
học.
Rất “chủ kiến”, tôi tin rằng với những tác phẩm của Trần Vũ, Thuận,
Nguyễn Danh Bằng, Đinh Linh, Phan Nhiên Hạo, Thận Nhiên, Nguyễn Quốc
Chánh, Phan Bá Thọ, Trần Tiến Dũng, Nguyễn Viện, Nguyễn Thúy Hằng… đang
góp phần vào việc làm thay đổi bộ dạng một chiều của văn học Việt.
Trần Tiến Dũng:Từ cảm tính của ông, phải chăng giá trị
những tác phẩm “gây dư luận” là ngổn ngang? Có người cho rằng nguyên
nhân những nhận định ngổn ngang - bừa bộn trên các phương tiện thông
tin là do sự thiếu lành mạnh của những người được mời phát biểu. Quan
điểm cá nhân ông về việc này ra sao? Chọn hai tác phẩm gây sôi động văn
đàn trong năm là Bóng đè và “Cánh đồng bất tận”. Xin ông đưa ra
những nhận định về nghệ thuật làm văn của tác giả? Đâu là yếu tính làm
hài lòng thị hiếu đọc truyền thống? Đâu là yếu tính phá vỡ sự ổn định,
khai phá thị hiếu mới?
Nguyễn Viện: Cảm nhận văn học luôn luôn là một cảm nhận chủ
quan. Bởi thế, người ta phải chấp nhận tính đa nguyên trong sáng tác
lẫn cảm thụ văn học. Cái dư luận ngổn ngang, cũng vì thế, là tất yếu.
Tuy nhiên, như anh thấy, đã có sự thiếu lành mạnh trong các phát biểu
công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng. Tôi cho rằng, không
ít những người được mời phát biểu, hoặc viết bài nhận định thường rơi
vào các trường hợp: Bày tỏ quan điểm lập trường theo tính Đảng, phục vụ
nhu cầu chính trị nhất thời (1); dĩ hòa vi quí, vuốt ve nhau, vỗ đầu
con cháu (2); bị mua chuộc, làm tiếp thị (3), kỳ thị, cục bộ địa phương
và băng đảng (4).
Nếu chỉ nói về “nghệ thuật làm văn” của hai tác phẩm Bóng đè và “Cánh đồng bất tận”, theo tôi, chưa có gì đáng kể. Tác giả của Bóng đèthậm
chí còn tỏ ra hơi thiếu vốn từ. Cái thành
công và gây bất ngờ ở
“Cánh đồng bất tận” chính là vì
tác giả Nguyễn Ngọc Tư đã làm một cuộc
bứt phá vượt lên chính mình. Nhưng vượt
lên chính mình không có nghĩa
là vượt qua người khác.
Để làm hài lòng thị hiếu truyền thống, nhất thiết cần tuân thủ Nghị
quyết 5 của Đảng: “Đậm đà bản sắc dân tộc”. Mỗi khi vào dịp lễ lạt,
quần chúng nhân dân trong nước và khách quốc tế đều có dịp nhìn ngắm
“bản sắc dân tộc” ở Công viên 30.4 đường Lê Duẩn, thành phố Hồ Chí Minh
với các chòi lá, ụ rơm… chỉ thiếu có cái cầu tõm. Bản sắc dân tộc được
hiểu và trình bày chỉ là cái mô thức của đời sống nông nghiệp lạc hậu.
Yếu tính của sáng tạo đích thật bao giờ cũng nhằm phá vỡ sự ổn định
của những tập quán thẩm mỹ cũ. Mà điều này thì dễ bị qui kết là “phản
động”, thậm chí là chống Đảng chống chính quyền. Hoặc vi phạm thuần
phong mỹ tục. Vô hình trung, những tác phẩm có tính phản kháng sẽ được
coi là đáng kể, và nghệ thuật làm văn bị mất vai trò hàng đầu của nó.
Đây chính là bi kịch của văn học Việt Nam.
Các vấn đề chính trị trong nước và sự đối phó lẫn nhau đang bào mòn
các năng lực sáng tạo. Để khai phá một thị hiếu mới, người ta trước hết
cần phải đi ra khỏi lũy tre làng, không nên tắm ao dù trong dù đục (dễ
mắc bệnh phụ khoa lắm), và làm một công dân thế giới. Tôi cho là vậy.
Trần Tiến Dũng: Những tác phẩm do nhà nước xuất bản -
phát hành, các ấn phẩm tự xuất photocopy, các tác phẩm xuất bản trên
các trang web văn chương ở cả trong nước và nước ngoài, giữa chúng có
gì khác biệt về giá trị thông tin đối với người trong giới văn chương
và cộng đồng độc giả, thưa ông? Vì sao tổng kết trong năm, các phương
tiện thông tin truyền thống không tính tới các tác phẩm xuất bản đó?
Theo ông do động cơ - nguyên nhân nào: Sợ đối thoại với thực thể các
giá trị ngoài tầm kiểm soát? Hay là các tác phẩm xuất bản bằng phương
tiện mới không đủ chất lượng? Riêng ông, trong toàn thời gian dành cho
việc đọc, phương tiện xuất bản nào có ảnh hưởng nhất với ông? Theo khả
năng tiên tri - dự doán của ông thì đế chế thông tin chuyên chế -
truyền thống sẽ chấm dứt sự cai trị và độc quyền định đoạt các giá trị
văn chương Việt Nam ở Việt Nam vào năm nào? Tự thoái vị hay bị thoái vị?
Nguyễn Viện: Khác biệt về giá trị thông tin trong các ấn
phẩm trong hệ thống phát hành của nhà nước, các ấn phẩm photocopy ngoài
luồng, trên mạng… chính yếu là ở chỗ nó cho người ta thấy đã có những
cách nhìn khác nhau về cùng một vấn đề, cũng như những cách bày tỏ khác
nhau về các vấn đề đó. Sự tồn tại song song của các ấn phẩm khác nhau
như thế, nói một cách công bằng, cũng đã cho người ta thấy một chút
tiến bộ trong quá trình dân chủ hóa ở Việt Nam. Nhưng cũng đúng như anh
nói, trong các tổng kết cuối năm trên các phương tiện thông tin, các
tác phẩm - tác giả ngoài luồng không bao giờ được nhắc tới, có lẽ chỉ
vì người ta muốn hư vô hoá sự có mặt ngoài tầm kiểm soát đó, và người
ta không muốn cho công chúng đọc nó. Ngay cả những phát biểu như của
nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên, nhà văn Bùi Ngọc Tấn
tại một hội thảo ở Hải Phòng gần đây, khi kêu gọi các nhà văn đừng sợ,
các nhà xuất bản đừng nhát cũng dường như cố ý không thấy một thực thể
khác ngoài cái hệ thống quản lý nhà nước. Nhưng dù muốn hay không, thì
cái thực thể khác - những tác phẩm văn học ngoài luồng - vẫn có mặt và
nó mang một giá trị mới, giá trị của tự do. Và điều quan trọng hơn, nó
thúc đẩy tự do sáng tạo.
Với tôi, việc đọc một tác phẩm bất kỳ từ một xuất xứ nào không quan
trọng. Thật ra, cũng đã có những tác phẩm trong luồng không phải là vô
bổ. Tuy nhiên tôi vẫn dành sự quan tâm của mình cho các tác phẩm ngoài
luồng, vì ở đó tôi tìm được những ý nghĩ ngay thẳng, những cảm xúc
không cần phải che đậy, và những nỗ lực cách tân đáng trân trọng.
Tôi
không phải là nhà tiên tri hay thày
bói, nên không thể có những
khả quyết về tương lai. Những người theo chủ nghĩa xã hội hay
thích nói
về tính qui luật, vâng thì cứ theo qui luật biện
chứng hay tiến hóa,
cái bất hợp lý, cái không phải nhân
tâm như độc tài, độc đoán, độc
chiếm, độc quyền, độc tôn, độc địa… nếu không tự
đào thải cũng sẽ bị
đào thải. Cái “đế chế thông tin chuyên
chế - truyền thống… độc quyền
định đọat các giá trị văn chương Việt Nam” thật ra
nó đã mất quyền
thống trị độc đoán khi các website văn học tự do xuất
hiện. Công chúng
văn học rộng lớn đã có thể tự mình tìm đến
những gì mình thích. Tiếng
nói chính thống trong thực tế chỉ còn là
một phần của toàn bộ nền thông
tin đa chiều hiện nay mà công chúng có cơ
hội để so sánh đối chiếu.
Chúng ta có cơ sở để nói rằng số lượng độc giả của
tienve.org,
talawas.org, gio-o.com, hopluu.net, tapchitho.org… không
hề thua kém
eVăn của Vnexpress.net hay các báo giấy trong nước. Tất
nhiên là chỉ có
những giá trị thật mới tồn tại.