9.12.2005
Phạm Xuân Nguyên
Tác phẩm hay: hãy hết mình
(Hay là điều kiện cần và đủ để có tác phẩm hay)
Tham
luận tại hội thảo khoa học nhan đề “Để có tác phẩm
hay” do Hội nhà văn Hải Phòng tổ chức ngày
25.11.2005 tại Hải Phòng
1.
Trước hết ta
phải bàn với nhau về chữ hay, tức thế nào là một
tác
phẩm hay. Bởi cái hay không bất biến trong không
gian và thời gian, nó
vận động và biến đổi tùy theo hoàn cảnh, với những
tiêu chí cụ thể khác
nhau. Cũng đã một lần ở Hải Phòng (tháng 4/2002),
nhân kỷ niệm 20 năm
mất Nguyên Hồng, tôi đã có nói đến
chuyện Xuân Diệu “nhà thơ mới nhất
trong những nhà Thơ Mới”, nhưng chỉ mười năm sau đã
không thể cảm nổi
thơ Nguyễn Đình Thi, cho đó là thơ dở, là
thơ “đầu Ngô mình Sở”. Cái
hay của Xuân Diệu, như thế, đã khác cái hay
của Nguyễn Đình Thi. Trong
những cuộc tranh luận văn học thời gian qua (mà nói
đúng ra thì phần
nhiều là cãi nhau ngoài văn chương), có một
câu mà một bên tranh cãi
hay chốt lại: viết gì thì viết, miễn là hay. Thực
ra câu đó chỉ là một
câu cãi cùn, ở thế bí, vì cái
hay không phải là cái thước mét mà
đem đo
vào mọi vật, mọi thứ của lĩnh vực sáng tạo ngôn từ.
Vụ tranh luận quanh
tập thơ Sự mất ngủ của lửa
của Nguyễn Quang Thiều dạo nào là
một thí dụ. Một bên cho là tác giả viết
“Tây” quá, không Việt, và thế
là thơ Thiều không hay. Một bên (có tôi
trong đó) bảo chính cái lối
viết tưởng như “Tây” ấy là một cách
tân, một cách làm mới thơ của tác
giả, và thơ Thiều hay vì thế. Thời gian đã cho
thấy cái đúng và cái hay
ở về phía nào.
Vậy thế nào là hay? Có cái hay trong lối cũ, lối đã quen. Nhưng lại
có cái hay trong sự mới sự lạ. Mới lạ cả ở cái quen thuộc. Thơ lục bát
đã hay, sẽ vẫn hay. Nhưng thơ Tân hình thức, thơ dưới dạng “chát”,
email, cũng hay, sẽ hay. Tiểu thuyết tả thực đã hay, còn hay. Nhưng
tiểu thuyết không tả thực, viết lối hậu hiện đại, cũng hay, đang hay.
Như bài thơ lục bát này của Nguyễn Thế Hoàng Linh là hay hay không hay?
Lặng im thì cũng vừa tàn mùa đông
tôi hỏi một không tám không
chị ơi nỗi nhớ thì lông màu gì?
chị tổng đài giọng nhu mì
à nhiều màu lắm vặt đi vẫn nhiều
hình như là bạn đang yêu?
không, em chỉ hỏi những điều hồn nhiên
hình như là bạn đang điên?
vâng, điên thì mới phí tiền hỏi han
...
xong xuôi hết bốn chín ngàn
(16.02.04)
2.
Tác phẩm
văn học, theo ý kiến của một nhà nghiên cứu nước
ngoài,
phải là một phát minh về hình thức và một
khám phá về nội dung. Cái hay
là ở cái sự phát minh và khám
phá đó. Cho phép tôi được nói đến ở
đây,
như một dẫn chứng, trong quan hệ với điều đang bàn là
tác phẩm hay, về
truyện ngắn “Bóng đè” của Đỗ Hoàng
Diệu đang gây hai luồng trái ngược
nhau. Tôi phải nói ngay, với tôi, đây
là một truyện ngắn hay, hay cả ở
cách viết và nội dung. Trong tâm thế, tâm
thức giải mã lịch sử và
truyền thống Việt, một xu hướng đã được dấy lên từ thời
văn học đổi
mới, Đỗ Hoàng Diệu đã tạo được một hình tượng
“bóng đè” đầy ám ảnh và
dằn vặt.
Trước hết, theo trong mạch truyện, đó là bóng đè của truyền thống
văn hóa dân tộc đổ xuống khao khát bản năng được sống, được yêu hết
mình của những người phụ nữ. Họ muốn bung tỏa, bùng nổ toàn bộ con
người bản năng của mình trong sự dâng hiến và đón nhận tình yêu, vượt
qua những rào cản cấm kị, kiêng cữ của hệ giá trị một thời, của những
tập tục gia đình, dòng họ. Nhưng truyền thống không cho được công khai
thỏa mãn tình yêu đầy bản năng của mình. Nhân vật “tôi” trong truyện
phải cam chịu phận làm dâu trước một bà mẹ chồng suốt đời coi sóc chiếc
bàn thờ của gia tộc. “Tôi” cũng phải nén cơn khát thèm mãnh liệt của
mình bên người chồng cứ mỗi lần về quê cúng giỗ là mất hết sinh lực đàn
ông, là thành ra như bất lực. Người con gái trong truyện “Vu quy” đã tự
hỏi: “Sống
trong căn nhà trang trí tranh Đông Hồ đầy bụi
bám, ngửi
hít mùi phù sa sông Hồng ngày
này qua ngày khác, không hiểu cuộc đời
tôi sẽ ra sao”.
Rộng ra, đó là bóng đè của quá khứ đổ xuống con người hôm nay, hay
là sự níu buộc, trả thù của quá khứ đối với hiện tại. Con người trong
đời sống hiện tại khát vọng sống tự do, khát vọng tự do cá nhân. Nhưng
áp lực của truyền thống, của cộng đồng, của dân tộc đè nặng xuống họ.
“Tôi” trong truyện nằm trên tấm phản ở trước bàn thờ. “Tấm phản mang
quá khứ của gia đình Thụ, xa xôi, chất chồng. Còn tôi, hiện tại, một
đứa con dâu đĩ thõa đang ưỡn ngửa căng rát đón chờ”. Chiếc bàn thờ
che màn đỏ ở nhà Thụ là hiện thân, là biểu tượng của quá khứ đó. Trước
nó, “tôi” trong truyện bị hãm hiếp mà không thể phản kháng, chống cự.
Đồng lõa với nó là bà mẹ chồng và cô em chồng, những người cam phận
sống trong khuôn khổ quá khứ. Quá khứ là tốt đẹp. Truyền thống là tốt
đẹp. Do đó mọi sự cựa quậy muốn thoát khỏi cái bóng quá khứ, truyền
thống, đều bị coi là sai trái, tội lỗi.
Rộng ra nữa, đó là bóng đè của Trung Hoa đổ xuống Việt Nam. Cả về
chính trị, xã hội và văn hóa. Gia đình Thụ là dòng dõi đế vương Trung
Hoa. Cô gái, vợ Thụ, đã bị cha chồng mình từ bàn thờ bước xuống đè bóng
hãm hiếp, lần đầu cô bị cưỡng bức, nhưng lần sau cô tự nguyện, sau đó
nữa thì cam chịu, vừa thỏa mãn vừa nhục nhã. Một người tình của cô gái
trong “Vu quy” là thương gia Trung Hoa. Trong cuộc tình, cô gái đã cong
tấm thân mình lên thành hình chữ S, “một hình chữ S. cố phản kháng”
để không trở thành nô lệ của ông ta. Nhưng
gã tình nhân người Tàu này
nói: “Trong
tâm tưởng, em luôn nghĩ em là nô lệ. Em nghĩ
thế từ khi em chưa sinh ra, từ cả ngàn năm nay. Em không
có sự tự tin”. Và thế là: “Người
tôi oằn xuống thẳng đơ, phục tùng giọng nói, phục
tùng ý nghĩ của ông. Không còn chữ S
nữa mà là chữ I, hai đầu xẹp nhép”.
Cô gái đã thử một lần trốn chạy, nhưng rồi lại quay về với lão ta để bị
đối xử nô lệ một cách nhục nhã hơn. Tình cảnh Việt Nam dưới bóng đè
Trung Hoa là vậy chăng. Đã không cam phận, đã tìm cách vượt ra, nhưng
dường như vẫn chưa thoát được cái bóng to lớn của người láng giềng
phương Bắc. Có thể lấy một liên tưởng ở đây tới đoạn văn Nguyễn Huy
Thiệp viết gần hai chục năm trước, cũng trong một truyện ngắn: “Đặc
điểm lớn nhất của xứ sở này là nhược tiểu. Đây là một cô gái đồng trinh
bị nền văn minh Trung Hoa cưỡng hiếp. Cô gái ấy vừa thích thú, vừa nhục
nhã, vừa căm thù nó” (“Vàng lửa”).
Đọc ở những tầng
nghĩa này, thấy chỉ với hai truyện tiêu biểu là
“Bóng đè” và “Vu quy”, Đỗ
Hoàng Diệu đã đưa đến người đọc những thông
điệp nhiều chiều, mà chắc với không ít người
là khó tiếp nhận và chấp
nhận. Những phụ nữ trong truyện ở đây vừa là phụ nữ, vừa
là dân tộc. Để
phản kháng lại quá khứ, truyền thống trói buộc,
kìm hãm, nhân vật “tôi”
đã chạy ra giữa cánh đồng, giữa khu mồ mả nhà
chồng để được là chính
mình: “Mười
một ngôi mộ yên bình, sự yên bình
thái quá một u mê. Tôi
muốn những ngôi mộ nứt đất chui ra từng bóng ma, từng oan
hồn liệt sĩ
xéo sắc, tay dài chạm gối. Tôi nghĩ mình sẽ
không sợ hãi. Tôi muốn họ
trả lời tôi họ muốn gì ở đứa con gái nhiều
xúc cảm này và có gan hãy
hãm hiếp tôi giữa ban ngày ban mặt. Vẫn chỉ
là im lặng. Má tôi nóng
hực, miệng tôi lại khát cháy. Giật tung hàng
khuy áo, cành hoa đỏ thẫm
đứt đôi, tôi xoay vòng quanh mười một ngôi mộ.
Vú tôi rứng tràn không
khí. Vú tôi là đời sống, là hơi thở,
là khí quyển. Mồ mả là quá khứ, là
huân chương, là tổ quốc. Tôi chạy giữa bãi
tha ma thênh thang hoang
dại. Tôi múa điệu múa da thịt tươi tốt,
thách thức thần linh, thách
thức âm hồn dòng dõi Trung Hoa nhà Thụ.
Tôi tung tăng thể xác, đôi bầu
vú tự do khiêu khích cho đến lúc bàn
tay xa lạ có năm ngón thuôn mềm
đưa lên cài lại hàng khuy áo ngay ngắn.
Tôi đứng nhìn bàn tay của chính
mình như nhìn bàn tay của một kẻ chất phác
quả quyết giắt tay tôi lầm
lũi trở về. Có phải bàn tay của kẻ nào đó
còn dính vào cườm tay tôi đã
hiểu không thể nào chống cự nổi chiếc bàn thờ to
dài quá cỡ với tấm màn
đỏ nhức nhối chất chứa cả một quá khứ phi phàm?”.
Đoạn kết truyện
“Bóng đè” đã nâng cao hẳn tầm tư
tưởng của tác phẩm. Đầu truyện là hình ảnh
bàn tay lạ lùng, mỏng tang, “không thay đổi theo mùa hay béo gầy cơ thể”. Cuối truyện lại là bàn tay đó. “Tôi
đưa tay mình ra sáng. Nắng lung linh trên năm ngón dài ngắn thanh tao
lạ thường. Chiến tranh, giông gió, bão lũ, hán hạn, tôi có thể chết đi
rồi mà bàn tay vẫn nguyên vẹn. Tôi đinh ninh điều ấy. Con tôi sẽ có bàn
tay của mẹ. Một bàn tay không béo gầy, không trọng lượng, chỉ có làn da
mỏng tanh nhưng biết níu giữ tự do cho dù bị thân thể buộc trói. Nắng
tắt, mà bàn tay vẫn óng ánh diệu kỳ”. Đó là cái duy nhất của cô gái
(Việt Nam) thuộc về cô (Việt Nam). Còn bàn tay đó thì còn ước mơ, còn
hy vọng chống lại bóng đè.
Để chuyển tải được một thông điệp có nhiều lớp nghĩa như vậy, “Bóng
đè” đã được xây dựng như một ẩn dụ sâu sắc trong một câu chuyện nhiều
nhục cảm. Chính lối viết này là một sự táo bạo của tác giả, và nó là
thích hợp cho sự thể hiện chủ đề tác phẩm. Tình dục (hay sex) ở đây đã
trở thành một yếu tố nghệ thuật cần thiết. Bởi sự mô tả gần như tỉ mỉ,
chi tiết cảm giác nhục thể của nhân vật truyện là đồng thời mang ý
nghĩa thực và hư, cụ thể và tượng trưng. “Vu quy” cũng vậy, sự chung
đụng của cô gái trong truyện với mấy người tình là mang nghĩa tượng
trưng, cô chưa biết tương lai đời mình sẽ gắn bó với ai, chẳng lẽ là
với xác ướp. Thân phận cô gái là thân phận đất nước, vu quy vẫn chỉ là
ước vọng.
Truyện ngắn “Bóng đè” hay là vì vậy, theo cách đọc văn bản nghệ
thuật của tôi. Có những người khác thấy nó là phản chính trị, phản đạo
đức, thì đấy là tùy cách đọc của họ. (Dịp này đang kỷ niệm 240 năm sinh
thi hào Nguyễn Du, tôi liên tưởng đến những nhà nho thủ cựu một thời
coi Truyện Kiều là
“dâm thư” nên đã khuyên răn:
“Đàn ông chớ đọc Phan Trần, đàn bà chớ
đọc Thúy Vân Thúy Kiều”. Ôi chao, từ Truyện Kiều
đến “Bóng đè” đã cách hai thế
kỷ rồi!). Nhưng vậy là ở đây có sự khác
nhau về quan niệm, về cách đọc. Tuy nhiên, khác
nhau thế nào thì cũng
phải trên cơ sở văn bản in ra. Do đó, điều kiện đủ cho
tác phẩm hay là
phải bắt đầu từ quan niệm hay như một quá trình động,
biện chứng. Và
như thế thì không thể tiên quyết đứng trên một
quan niệm hay cố định,
tĩnh tại để quyết định cái viết nào là được in ra,
còn cái viết nào là
cấm in, cấm phát hành. Cuốn truyện Bóng đè được ra tại nhà xuất
bản Đà Nẵng, và hiện giờ nơi đó đang bị sức ép từ phía những ý kiến phê
phán nặng nề cuốn sách. Còn những ý kiến đánh giá cao tác phẩm thì
không được coi trọng từ phía quản lý xuất bản. Thế thì sao nào? Thế thì
văn học Việt Nam khó có tác phẩm hay, nhất là những tác phẩm hay vượt
ra ngoài thói quen, khuôn khổ thông thường.
3.
Nói rộng ra, để có tác phẩm hay, điều kiện đủ là phải có bầu không
khí tự do, cởi mở cho sáng tạo nghệ thuật, phải để năng lượng sáng tạo
của nhà văn được giải phóng và phát huy đến hết mức độ của nó. Bài học
Thơ Mới (1932 - 45) để lại còn tươi nguyên giá trị cho hôm nay.
Mười năm Thơ Mới
là cả một thời đại. Thời đại của sự giải phóng
tình cảm cá nhân, của sự tự do nảy nở cá
tính sáng tạo. Tác giả Thi nhân Việt Nam đã
viết một cách sảng khoái tự tin: “Tôi quả quyết rằng trong lịch sử thi
ca Việt Nam chưa bao giờ có một thời phong phú như thời đại này. Cá
tính con người bị kiềm chế trong bao nhiêu lâu bỗng được giải phóng. Sự
giải phóng có thể tai hại ở chỗ khác. Ở đây nó chỉ làm giàu cho thi ca.
Cái sức mạnh súc tích từ mấy ngàn năm nhất đán tung bờ vỡ đê. Cảnh
tượng thực là hỗn độn”.
Không có cảnh tượng hỗn độn đó thì đã không có ngày hội tưng bừng
của Thơ Mới. Bao nhiêu nguồn tình cảm bấy lâu âm ỉ giờ trào ra trong
thơ theo nhiều hướng, nhiều dòng, mỗi cách một vẻ, mỗi vẻ một riêng.
Người thơ mới cảm thấy sung sướng được tự do, thành thực, được bộc lộ
hết mình, được đi đến tận cùng cảm xúc, được tự mình khám phá thể
nghiệm những lối đi chưa ai từng đi, được thoải mái bày tỏ những quan
niệm suy nghĩ riêng về nghệ thuật. Lấy nhóm thơ Bình Định làm thí dụ.
Hàn Mặc Tử, Bích Khê, Chế Lan Viên đi một lối thơ riêng, họ gọi là thơ
Điên thơ Loạn, trong khi Quách Tấn vẫn giữ một lối Đường thi cổ điển
trong sáng. Họ phân công đề tựa cho nhau khẳng định nhau và tuyên ngôn
“trường phái” thơ mình. Tập thơ Điêu tàn cùng bài tựa nổi tiếng
của nó chỉ có thể ra đời được trong hoàn cảnh đó. Cũng nhờ hoàn cảnh
đó, Hàn Mặc Tử mới phát lộ hết độ huyền thẳm của tài năng, thu nhận vào
mình cả tính chất ái tình của Xuân Diệu, cảm xúc vũ trụ của Huy Cận,
cảm giác nhục thể của Bích Khê và tinh thần điên loạn của Chế Lan Viên.
Sự giải
phóng ở đây chỉ làm giàu cho thi ca.
Đúng! Bởi đây là sự
giải phóng cái “Tôi”. Và bởi
cái “Tôi” này là của một lớp
người trẻ.
Tuổi trẻ, và tài năng, và nhiệt huyết, và
sự được giải phóng, được cởi
mở, bấy nhiêu cái đó đã thúc đẩy Thơ
Mới đi tới trên những đợt sóng với
các ngọn trào Thế Lữ, Xuân Diệu, Hàn Mặc Tử.
Chính sự nở rộ này đã làm
nên mùa chín tới rất nhanh, khiến cho người thơ
nhìn người thơ thấy
ngay được cái cốt lõi, cái tương lai. Tập Thơ thơ
xuất bản năm
1938, Thế Lữ viết tựa đã dám nói chắc chắn:
“Và từ đây chúng ta đã có
Xuân Diệu. Loài người hãy hiểu con người
ấy!”. Trước đó một năm, chàng
thi sĩ mang họ dân Chàm 16 tuổi tự mình viết tựa Điêu tàn
cho
mình rất ngông và rất thực: “Thi sĩ
không phải là Người. Nó là Người
Mơ, Người Say, Người Điên. Nó là Tiên,
là Ma, là Quỷ, là Tinh, là Yêu.
Nó thoát Hiện Tại. Nó xối trộn Dĩ Vãng.
Nó ôm trùm Tương Lai. Người ta
không hiểu được nó vì nó nói những
cái vô nghĩa, tuy rằng những cái vô
nghĩa hợp lý”. Hàn Mặc Tử đề tựa Thơ điên
(1939) của mình: “Tôi
đã sống mãnh liệt và đầy đủ. Sống bằng tim, bằng
phổi, bằng máu, bằng
lệ, bằng hồn. Tôi đã phát triển hết cả cảm
giác của tình yêu. Tôi đã
vui, buồn, giận, hờn đến gần đứt sự sống. Thôi mời cô cứ
vào. Ánh sáng
lạ trong thơ tôi sẽ làm cho gò má cô
đỏ gấc. Và một khi cô đã vào là
cô
sẽ lạc, vì vườn thơ tôi rộng rinh không bờ bến.
Càng đi xa càng ớn
lạnh”. Huy Cận viết trong Kinh cầu tự (1942): “Ta nhớ lại những
bà mẹ may áo cho con, trừ hai dài rộng: ‘lớn lên thì vừa’. Kẻ đọc ta
ơi! (ta không muốn gọi người là người bạn đọc) đừng phiền lòng nhé! Ta
đang may áo trừ hao cho người đây!”. Quả là sự điên cuồng của những
người dũng cảm hát ca lên. Và may sao sự điên cuồng đó đã có cơ hội
thoát ra để thành thơ. Thơ Mới là một thế hệ thi ca thành thực, một
thời đại thi ca tự do.
Điều kiện đủ này đang từng bước được xác lập. Và thế tất rồi phải
được thực hiện. Tự do ngôn luận, tự do sáng tạo là một quyền con người,
và đối với văn nghệ sĩ quyền đó càng thiêng liêng, thiết thân. Nhưng
điều kiện cần là ở chính tự người viết. Nhà văn phải luôn tự làm mới
mình. Bổn phận nhà văn là phải viết hay.
4.
“Trong nghề văn khiêm tốn là một đức tính thừa!”
- quan niệm
này của Gabriel García Marquez, nhà văn Columbia
giải Nobel 1982, đáng
là châm ngôn của mọi người cầm bút. Trong
quá trình học và đọc, luôn
luôn có những bậc thầy cho ta ngưỡng mộ, kính phục,
yêu mến. Nhưng khi
bắt tay vào viết, ta phải luôn nghĩ ta là nhất,
là hơn hết cả, là sẽ
vượt lên trên các giá trị đã
có, tạo lập những giá trị mới chưa từng
có. Câu thơ Xuân Diệu nói cái cô
đơn cá nhân có thể vận cho tâm thế
sáng tạo: “Ta là Một, là Riêng, là Thứ Nhất / Không có chi bè bạn nổi cùng ta”.
Nghĩ được thế rồi, được nghĩ thế rồi, ta mới dám mạnh bạo
phá tung mọi
luật lệ văn chương ràng buộc níu trói chân
tay, mới dám mở bung đầu óc
tâm trí tìm đến những miền xa tưởng tượng, mới
dám làm mới cho từng lời
văn câu thơ. Ai bảo ta kiêu căng, mặc! Ai bảo ta hỗn
hào, mặc! Ai bảo
ta điên rồ, mặc! Đã rằng khiêm tốn nên
gác ra ngoài khi một mình đối
diện trang giấy, ta chỉ biết có ta trong cơn xúc cảm
sáng tạo mà thôi.
Trang giấy “pháp trường trắng” (chữ dùng của
Nguyễn Tuân) không cho
phép ta hèn nhát chỉ nghĩ là mình cố
viết sao cho bằng được cái đỉnh
này, cái ngọn kia. Phải dũng cảm ở đây. Sự
điên rồ của những người dũng
cảm ở đây mới có thể tạo ra kiệt tác văn chương.
Cái làng Macondo đã
nảy nòi dưới ngòi bút G. García Marquez
chính là khi ngồi vào bàn viết
ông đã xác quyết không chịu khiêm tốn
với ai cả. Một trăm năm cô đơn,
người mọc đuôi lợn, cả một cái làng bị thoái
hóa..., đó là cái riêng,
cái duy nhất của ông nhà văn Columbia này,
trước ông văn học thế giới
chưa có hình tượng nào như thế, nhờ ông
Columbia trở thành một địa chỉ
đỏ trên bản đồ văn học thế giới. Tôi lại muốn nhắc đến ở
đây một câu
nói nữa, lần này là của Dostoevsky: “Thưa
quý vị, suốt đời tôi chỉ làm
mỗi một việc, đó là đẩy tới tận cùng cái
mà các vị chỉ dám làm một
nửa”.
Ba gương mặt sáng giá nhất của văn học đổi mới nước ta, Nguyễn Huy
Thiệp, Phạm Thị Hoài, Bảo Ninh, là ba nhà văn chẳng hề “khiêm tốn” chút
nào, hiểu theo nghĩa câu nói ở trên của García Marquez. Họ viết như
đường văn trước họ chưa có người đi. Họ viết, bất chấp những ràng buộc
thành văn và không thành văn trên trang viết và ngoài trang viết. Họ
viết, theo sự thôi thúc của văn chương, và theo chính họ. Chính vậy nên
họ đã có được những tác phẩm hay, mang tính đột biến và cách tân mạnh
mẽ. Và cũng chính vậy, họ là ba nhà văn bị hứng chịu nhiều “đòn roi”
nhất của phê bình, của dư luận, cả trong và ngoài văn học. Nhưng họ đã
đứng lại được trong văn học bằng tên tuổi mình. Cái hay, nhất là cái
hay lối mới, thường gây dư luận, và thường là dư luận trái chiều.
Truyện “Cánh đồng bất tận” (Nguyễn Thị Ngọc Tư) mọi người đồng thanh
khen. Truyện “Bóng đè” mọi người khen chê trái ngược nhau. Nhưng đó đều
là hai truyện hay.
Muốn viết hay, vậy là, nhà văn còn cần phải có sự dũng cảm nữa.
Dũng cảm để tìm đường mở lối. Dũng cảm để tự tin vào mình. Dũng cảm để
chịu đựng những sự chưa hiểu, hiểu lầm, hiểu sai, cả những sự ác ý của
người đời, khi tác phẩm mình xuất hiện. Bài học của Walt Whitman với
tập thơ Lá cỏ đáng được đưa ra liên hệ ở đây. Năm 1855 khi tập Lá cỏ ra
đời, một nhà phê bình ở thành phố Boston đã gọi ông là "một thằng rồ
đáng đánh roi vì tội vi phạm thuần phong mỹ tục". Ezra Pound nổi tiếng
đương thời cũng không khá hơn khi nói đến Whitman: "Ông ta thật là tởm.
Ông ta là một viên thuốc cực kỳ buồn nôn”. Các dịch giả Lá cỏ ra
tiếng Việt (Vũ Cận và Đào Xuân Quý) cho biết
số phận nguyên tác: "Tập
thơ in ra một nghìn bản, chỉ tiêu thụ được non ba mươi
bản. Mấy trăm
bản gửi biếu hầu như chịu chung một số phận: hầu hết bị trả lại, nhiều
khi kèm theo những lời xỉ vả thậm tệ đối với tác giả
và tác phẩm. Có
người trước khi gửi trả còn cẩn thận xé đôi cuốn
sách để tác giả không
thể còn hiểu lầm thái độ của mình". Nếu W. Whitman
không tự tin khi
tung ra tập thơ và không dũng cảm chịu đựng những lời chỉ
trích thì ông
đã không thành một tác gia lớn của văn học
Mỹ. Tôi đã nêu ra thí dụ này
khi viết về thơ Vi Thùy Linh, không phải để so sánh
tầm vóc hai tác
giả, mà tôi chỉ liên hệ thái độ phản ứng đối
với một loại thơ, ở Mỹ
giữa thế kỷ XIX, và ở Việt Nam đầu thế kỷ XXI. Một số người phản
ứng
thơ Vi Thùy Linh viết hẳn lên báo là
không dám cầm tập thơ về nhà cho
con gái xem, và khuyên sinh viên không
nên đọc, vì cho đó là dâm, là
tục. Rất may nàng Vi (như cách cô nhà thơ
này thường gọi mình trong
thơ) đã không gục ngã, cô vẫn tiếp tục viết,
và mới đây nhất đã trang
trọng ra mắt tập thơ thứ ba của mình có tên gọi Đồng tử
tại
Trung tâm văn hóa Pháp (L’Espace) ở Hà
Nội. Bìa bốn tập thơ đề hẳn câu
thơ trong một bài thơ của một phần thơ trong tập: “Những
cặp chân khóa
chặt nhau khước từ chân lý”, mặc dù
biên tập đã yêu cầu đổi “chân
lý”
thành “bóng tối”.
Dũng cảm để biết chấp nhận những cái khác mình, ở ngoài mình. Tôi
không phản đối một nhóm thơ như nhóm Mở Miệng (Sài Gòn) ở thể nghiệm
làm một lối thơ mới của họ. Họ có một quan niệm thơ khác và họ thực
hành làm thơ theo quan niệm đó của mình. Hãy cứ để họ xuất hiện, rồi
thời gian và công chúng sẽ là người phán định thơ họ hay hay dở. Thời
gian thì cứ trôi và công chúng thì cũng trôi theo dòng thời gian và
biến đổi cơ mà. Trong sáng tạo văn chương nghệ thuật, đừng nhân danh
ai, cái gì, để cấm đoán, ngăn chặn ai, cái gì; đừng nhân danh giá trị
một thời để phê phán, phủ nhận cái đang làm nên giá trị của một thời
khác. Đọc tập thơ mới Khoan cắt bê tông của nhóm Mở Miệng và
bạn bè sẽ thấy họ thực sự có cái thơ mới. Một quy luật của sự phát
triển văn học là sự chuyển dịch cái cũ từ trung tâm ra ngoại biên và
cái mới từ ngoại biên vào trung tâm. Ta hãy chờ xem.
Dũng cảm còn là để biết dám thay đổi mình. Trong nghệ thuật đứng
lại là đã thụt lùi. Nhà văn ta, nói xin lỗi, hình như ít băn khoăn day
dứt trước những cái mới của văn chương, nhất là văn chương thế giới.
Đọc tác phẩm của các nhà văn trong nước có cảm tưởng như văn học bên
ngoài chẳng có gì thay đổi, chẳng có gì mới mẻ. Ấy vậy mà giới dịch
thuật văn học nước nhà vẫn đang cần mẫn chuyển tải sang Việt ngữ những
tác phẩm có giá trị nghệ thuật của các nhà văn thế giới. Đọc họ đi, và
nếu thấy họ làm cho mình phải chùn tay trước trang viết, thấy không thể
viết như trước được nữa, đó đã là một yếu tố có thể đưa đến tác phẩm
hay. Một cuốn tiểu thuyết như Từ điển Khazar của Milorad Pavic,
nhà văn và tác phẩm được coi là đầu tiên của thế kỷ XXI hiểu với nghĩa
là cách tân hậu hiện đại, đọc sẽ mệt vì người đọc buộc phải làm quen
với lối đọc phi tuyến tính, nhưng đọc sẽ bổ ích cho cách viết. Gần đây
cuốn tiểu thuyết Khải huyền muộn của Nguyễn Việt Hà cũng cho
thấy sự tìm tòi lối viết khác lạ. Truyện trong truyện đã không còn là
thủ pháp mới nữa. Nhưng truyện viết về cái truyện viết ra thì là một cố
gắng đáng khích lệ của nhà văn này. Có thể nói nội dung của cuốn tiểu
thuyết đó chính là ở cách viết của nó. Đó là viết nội dung, không phải
kể nội dung.
5.
Điều kiện cần và đủ để có tác phẩm hay, tóm lại, là hãy hết mình.
Nhà văn hết mình với trang viết của mình. Cơ chế xuất bản hết mình với
văn bản của nhà văn. Khi đó, mượn lời K. Marx, không phải tất cả người
viết văn đều là Raphael cả, nhưng những ai có mầm mống Raphael trong
mình đều được tự do phát lộ. Và những tác phẩm hay sẽ từ đó mà ra.
Hà Nội, đầu đông 2005
© 2005 talawas