Phan Nhiên Hạo
Hoà-giải-phẫu
Cho
đến tận hôm nay, đặc điểm lớn nhất của văn chương trong nước
vẫn là
tình trạng bị kiểm soát bởi nhà nước.
Sự kiểm soát kéo dài hơn nửa thế
kỷ ở miền Bắc và hơn ba mươi năm ở miền Nam đã
“có công” biến não
của
ít nhất ba thế hệ nhà văn Việt Nam
thành đậu hũ. Lịch sử sẽ nhắc đến
vài ngoại lệ như Nhân văn-Giai phẩm,
Dương Thu Hương. Nhưng
không ai có thể phủ nhận dưới chế độ xã
hội chủ nghĩa, chưa bao giờ các
nhà văn thoát khỏi nỗi ám ảnh bị trừng
phạt bởi chính quyền. Xã hội nào
cũng có những giới hạn, nhưng thật hồ đồ để suy ra rằng
vì vậy mọi xã
hội đều kềm hãm con người như nhau. Không
có xã hội hoàn hảo, cũng
không có cái gọi là tự do
tuyệt đối. Chỉ có những tương đối chấp nhận
được, vì chúng cho phép vận động
tích cực. Sự tương đối của chế độ Việt
Nam hiện nay không bao gồm tự do ngôn luận
và dân chủ. Đây là kiểu
tương đối triệt tiêu sáng tạo và
làm tăng bất công xã hội.
Những
năm gần đây, sự kiểm soát của chính trị
đối với văn chương có phần nới
lỏng, nhưng không phải vì vậy các
nhà văn muốn viết gì thì viết. Họ vẫn
không thể động chạm đến thần tượng chính trị hay
lật lại lịch sử chiến
tranh, chỉ trích giới lãnh đạo hay đòi
hỏi dân chủ. Dân chủ nửa vời,
như sự thật nửa vời, đôi khi tệ hại hơn dối trá
trắng trợn. Trước đây,
tuy không dám ta thán, nhưng ai cũng
ngầm công nhận sự hà khắc của
chính trị chuyên chế; hôm nay, nhiều
người ảo tưởng đã tự do, dù thật
sự chỉ được thả ra dạo loanh quanh trong sân. Trước
đây, trong khốn
cùng, người ta biết mình đang ở đáy
thế giới; ngày nay, với chút tiện
nghi xe máy và lâng lâng bia
ngoại, người ta tưởng mình đang ra “biển
lớn” đồng hành cùng thời đại. Trước
đây, người ta cam chịu; ngày nay,
người ta biện hộ: “Nhìn xem, đất nước
đã khá hơn thời ăn độn cách
đây
ba mươi năm, vậy thể chế này cũng giỏi.”
Nhiều nhà văn tỏ ra
thoả mãn với tình trạng dễ thở hiện nay, cho rằng
như vậy đã quá đủ cho
sáng tạo, rằng dân chủ chưa phải là nhu
cầu cấp thiết, đất nước cần ổn
định để phát triển. Vài người cố dẫn chứng rằng
thiếu tự do dân chủ, đó
đây người ta vẫn có thể viết những tác
phẩm giá trị. Đúng là vài
nhà
văn đã làm được như vậy, như người nông
dân cố xoay xở gặt lúa với lưỡi
liềm cùn, nhưng điều đó không chứng
minh lưỡi liềm cùn là công cụ tốt
để gặt lúa. Nhà văn phải được quyền
sáng tạo trong tự do và nhân phẩm
chứ không phải trong xở xoay hèn mọn.
Tôi tin rằng với tự do dân chủ,
văn chương chỉ khá hơn chứ không kém
đi. Văn chương miền Nam trước 1975
đã chứng minh điều đó, giai đoạn “cởi
trói” những năm tám mươi đã
chứng
minh điều đó, văn chương hải ngoại đang chứng minh điều
đó.
Ngày
nay, những người viết phục vụ thể chế không còn
được xưng tụng như xưa,
điều này không có nghĩa họ
ít đi quyền lực. Tuy ít xuất hiện công
khai
qua tác phẩm, giới bảo thủ chính trị vẫn giữ
cương vị lãnh đạo trong cơ
quan văn hoá, xuất bản, báo chí.
Là công cụ của chính quyền
trên mặt
trận tư tưởng văn hoá, nhân danh dân tộc
và ổn định quốc gia, những
người này tìm cách triệt
tiêu tất cả những sáng tạo có khuynh
hướng phê
phán chế độ. Đối với những vấn đề lịch sử như thảm
sát Mậu Thân, trại
cải tạo, thuyền nhân, văn chương miền Nam... giới văn nghệ
chính thống
vẫn phủ nhận, như thể chúng hoàn toàn
là sản phẩm của bịa đặt hoặc đã
được giải quyết xong. Họ từ chối thảo luận lịch sử Việt Nam từ bất cứ
góc độ nào khác với quan điểm
chính thống của Đảng.
Bên cạnh
những nhà văn bảo thủ, trong nước tồn tại những
nhà văn chính thống
nhưng ôn hoà hơn về chính trị. Phần
nhiều thuộc thế hệ “kháng chiến
chống Mỹ”, đây là những nhà
văn hướng đến hoà giải dân tộc, mong muốn
một xã hội ít nhiều cởi mở. Tuy vậy,
cái nhìn của những nhà văn
này về
cuộc chiến vẫn không thay đổi mấy. Nhà văn thế hệ
chống Mỹ vẫn tin
tưởng tuyệt đối vào tính tất yếu và
chính nghĩa của chiến tranh giải
phóng do Đảng phát động. Vì vậy, cung
cách hoà giải của họ không khỏi
có vẻ ban phát khoan hồng của người chiến thắng.
Thay vì đối thoại, họ
thường nhìn sự đối kháng hải ngoại như biểu hiện
của phục thù và mặc
cảm. Điều này có thể đúng với một số
trường hợp, nhưng không phải là
tất cả nguyên cớ. Có hai khía cạnh
khác quan trọng hơn nên được nhận
biết về sự đối kháng của người hải ngoại.
Thứ nhất, kinh
nghiệm sống dưới chế độ cộng sản của đa số người hải ngoại
đã khiến họ
nhận ra đây là một thể chế bất nhất. Trong
quá khứ, đã có nhiều sự lật
lọng như vụ cải tạo sĩ quan miền Nam, đổi tiền. Hiện nay, dù
kêu gọi
hoà giải, chính quyền vẫn tiếp tục
thái độ hai mặt trong nhiều vấn đề.
Ví dụ, một mặt công nhận Việt kiều, một mặt đập
phá bia tưởng niệm
thuyền nhân ở Indonesia và Malaysia; một mặt
kêu gọi bỏ xoá bỏ hận thù,
một mặt vẫn độc quyền lịch sử, tiếp tục rầm rộ kỷ niệm 30-4, Mậu
Thân;
một mặt kêu gọi Việt kiều về đầu tư, giúp đất
nước, một mặt không cho
phép họ tham gia vào bộ máy quản
lý, không cho mua nhà. Những bất nhất
này làm cho người hải ngoại không
có sự tin tưởng nào đối với những hứa
hẹn của nhà nước.
Thứ hai, sống ở xã hội phương Tây, người
hải ngoại “bị tiêm nhiễm nặng” bởi
ý thức công lý. Ở Hoa Kỳ chẳng hạn,
người ta thường chứng kiến đòi hỏi công
lý của dân thiểu số, kể cả
những vấn đề từ quá khứ xa xăm. Sống trong xã hội
dân chủ, người hải
ngoại học được bài học rằng hoà bình
thât sự chỉ tồn tại trên nền tảng
công lý. “No justice, no
peace.” Những kêu gọi hoà giải từ trong
nước
hiện nay bỏ qua vấn đề công lý, muốn
xoá nhoà tất cả. Điều này đi ngược
lại cách suy nghĩ của người hải ngoại, nhất là
giới trẻ. Nhiều người
thích lặp đi lặp lại rằng đa phần dân trong nuớc
hiện nay sinh sau 1975
và không biết đến chiến tranh, vì thế
không nên dựng dậy những “xác
chết”. Người ta thấy khuyên bảo này chỉ
được người cộng sản áp dụng cho
đối phương, trong khi bản thân họ không thực
hành. Họ khuyên người khác
đừng dựng dậy “xác chết”, nhưng nếu
chuyện đó có lợi cho thể chế, họ
không chỉ dựng “xác chết”
mà con tô son điểm phấn cho nó. Vụ Nhật
ký Đặng Thuỳ Trâm
là một ví dụ. Cái giới trẻ
“không vướng bận với quá khứ”
ở Việt Nam mà
người ta hay nói đến hiện nay thật ra chỉ là sản
phẩm của sự bưng bít
lịch sử. Tôi có dịp xem phim tài liệu The
Tank Man của Antony
Thomas, kể về cuộc kiếm tìm tông tích
người sinh viên đứng chặn xe tăng
trong bức ảnh chụp vụ biểu tình Thiên An
Môn năm 1989. Đây là một trong
những bức ảnh nổi tiếng thế kỷ. Năm 2006, đến Trung Quốc làm
phim,
Antony Thomas đưa bức ảnh này cho bốn sinh viên
Đại học Bắc Kinh xem.
Cả bốn đều ngơ ngác, hoàn toàn
không biết bức ảnh liên quan đến sự kiện
gì. Một sinh viên đoán đây
là ảnh nghệ thuật vi tính. Ở Trung Quốc khi
lên internet tìm thông tin về
Thiên An Môn, người ta chỉ có
các thông
tin du lịch. Sinh viên trường đại học lớn nhất Trung Quốc
mà còn bị
bưng bít về một sự kiện lịch sử đẫm máu xảy ra
cách đây chỉ mười mấy
năm ở ngay thủ đô như vậy, chẳng trách sao giới
trẻ Trung Quốc ngày nay
rất “không vướng bận quá khứ”,
rất “hậu hiện đại”, rất “hiện
sinh” kiểu
Vệ Tuệ. Tôi không chủ trương người trẻ phải giải
quyết tất cả chuyện
quá khứ. Tôi chỉ nghĩ, trong xã hội
đàng hoàng, quá khứ không
nên chơi
trò ú tim với người trẻ. Hãy để họ
thấy mặt thật của quá khứ rồi tự
quyết định thái độ của mình với tư
cách những công dân hiểu biết
và tự
do. Tôi tin nếu được như vậy, người trẻ sẽ hiểu rằng những
vấn nạn hôm
nay bắt rễ từ hôm qua.
Ý thức đòi hỏi công lý của
người hải
ngoại, thật nghịch đời, thuờng bị chính quyền trong nước gọi
là “mặc
cảm”. Nhiều quan chức trong nước thường viện dẫn sự trở về
của những
nhân vật như Nguyễn Cao Kỳ và Phạm Duy để
chê trách người hải ngoại
chống đối là “thù dai”. Họ
thắc mắc tại sao những nhân vật “chống cộng
sừng sỏ” đã quy thuận, trong khi bọn
“tiểu tốt” vẫn ngoan cố. Câu trả
lời đơn giản. Chính những người như Nguyễn Cao Kỳ
và Phạm Duy mới dễ
hợp tác, vì họ chưa bao giờ thật sự là
nạn nhân của chế độ. Họ là những
người thời nào cũng thuộc tầng lớp được ưu đãi,
số phận không có gì
chung với hàng triệu dân đen. Chỉ những người hải
ngoại bình thường mới
có nhu cầu mạnh mẽ về dân chủ và
công lý, vì từng là nạn
nhân của áp
chế, từng mất mát tất cả. Người hải ngoại bình
thuờng là đối tượng mà
chính quyền Việt Nam cần hướng đến, nếu muốn lòng
người yên, chứ không
phải vài nhân vật phường tuồng lúc xanh
lúc đỏ.
Ngay cả khi
chấp nhận tạm bỏ qua công lý - như nhắm mắt gạt
những mảnh thuỷ tinh
xuống sàn nhà, tay có thể chảy
máu và những đứa trẻ sẽ đứt chân -
người
hải ngoại cũng không thấy yên ổn lương
tâm để cộng tác với chính quyền
cực kỳ tham nhũng hiện nay. Người ta có thể biện hộ
xã hội nào cũng có
kẻ giàu người nghèo. Nhưng làm
giàu bằng quyền lực chính trị và tham
nhũng là chuyện khác. Nó giống
hành động hút máu của đỉa hơn kinh
doanh. Thể chế Việt Nam đang nuôi đỉa.
Trong bối cảnh chính
trị xã hội như vậy, việc hoà giải giữa
các nhà văn sẽ dẫn đến đâu?
Hoà
giải để trang điểm cho xã hội bất công
và mua vui cho tầng lớp giàu có
mới phất lên hay hoà giải để góp sức
đem lại dân chủ cho đất nước? Có
lẽ thấy được điểm khó này, trong những
kêu gọi hoà giải hiện nay, người
ta chỉ tập trung vào tự tình dân tộc.
Nhưng làm thế nào để tách quốc
gia ra khỏi nhà nước, để bước vào nhà
mà không qua cửa.
Một
số nhà văn hải ngoại có quan điểm:
“Tôi cũng không thích thể chế
trong
nước, nhưng thông qua hợp tác, ta có
thể sẽ tác động tích cực”.
Lý lẽ
này chỉ đúng nếu nhà văn hải ngoại
được in sách trong nuớc. Nhưng văn
chương hải ngoại hiện vẫn được coi là thứ bất hợp
pháp, ngoại trừ vài
tác phẩm làm kiểu. Vậy tác động bằng
gì? Theo tôi, nhà văn chỉ có
thể,
và chỉ nên tác động xã hội
qua trang viết. Chính trị hậu trường không
phải là công việc của nhà văn,
và không xứng đáng với họ. Nhiều trường
hợp chứng minh, trò vận động hậu trường rốt cuộc chỉ biến
nhà văn thành
kẻ bị chính trị tha hoá, “tẩu hoả nhập
ma”. Trong đời sống, nhà văn
không phải đối thủ ngang sức với giới chính trị.
Chỉ một cái bắt tay
của nhân vật lãnh đạo, một bữa tiệc mời, nhiều
người viết đã nhanh
chóng rưng rưng thoả hiệp, đấm ngực bỏ qua tất cả.
Tôi không
phủ nhận nỗ lực hoà giải. Tôi chỉ muốn
nói, sự hoà giải, ít nhất trong
văn giới, sẽ không thực chất và ích lợi
gì nếu không đặt trên đồng
thuận chính trị căn bản. Sự đồng thuận, trong thời điểm hiện
nay, là
tiến đến một thể chế dân chủ. Tất cả những đường
vòng khác đều không
giải quyết rốt ráo vấn đề. Nhà văn có
thể sẽ bắt tay nhưng không tin
tưởng nhau, sẽ vui vẻ lúc thù tạc nhưng sượng
sùng lúc tỉnh táo, sẽ
không chỉ trích nhau nhưng sau cùng đều
trở nên bạc nhược. Hoà giải
phải giúp nhà văn viết sắc sảo hơn, mạnh tay mổ
xẻ lịch sử, phê phán
thực tại, chứ không phải làm cho họ cùn
mòn đi vì sợ mích lòng
“anh
em”. Sự hoà giải cần được thúc đẩy,
nhưng phải trong tinh thần đối
thoại thẳng thắn, không tránh né. Việc
tảng lờ chính trị không phải
giải pháp tốt. Nó chỉ tiếp tục dẫn đến
trò thù tạc vô bổ có lợi cho
những kẻ cơ hội. Một cuộc đối thoại thẳng thắn dĩ nhiên
không dễ dàng,
có khả năng gây đau đớn. Nhưng đây
là sự đau đớn không tránh khỏi trong
giải phẫu chữa trị bệnh di căn.
Điều cần thiết bây giờ là một cuộc
hoà-giải-phẫu.
2006-2008
© 2008 talawas