13.12.2005
Thuận
Ôi mắt em là ánh nước hồ thu!
Những nhận định của Phạm Xuân Nguyên về tập truyện ngắn Bóng đè
khiến tôi nhớ tới thầy giáo dạy văn lớp mười. Thầy giảng
rất say sưa, tay bao giờ cũng chém vào không
khí: “Tắt đèn
là một tác phẩm bất hủ của nền văn học Việt Nam đầu thế kỉ, đi tiên
phong trong dòng văn học tố cáo chế độ phong kiến thực dân thối nát đồi
trụy. Nghệ thuật của nó là xây dựng nên một hệ thống ẩn dụ sâu sắc.
Trong đó, chị Dậu anh Dậu đại diện cho tầng lớp nhân dân lao động bị
bóc lột; vợ chồng Nghị Quế là hiện thân của tầng lớp địa chủ thống trị;
hành động bán con bán chó của chị Dậu là tượng trưng cho tình cảnh khốn
cùng của người nông dân dưới chế độ người bóc lột người; mọi đồ đạc
trong gia đình Nghị Quế cũng mang ý nghĩa ẩn dụ sâu sắc - chiếc đồng hồ
quả lắc bính boong có con chim cúc cu nhảy ra nhảy vào là tượng trưng
cho sự phù hoa giả dối phương Tây, câu đối sơn son thếp vàng là tượng
trưng cho văn hóa Trung Hoa bành trướng nước lớn, nồi giò lụa kho gừng
thái chỉ bà Nghị Quế đưa ra trước mặt con Tí mà không cho nó miếng nào
là tượng trưng cho thói ăn trên ngồi trốc, từ đó suy ra người nông dân
nuôi ra con gà con lợn mà không có quyền biết miếng thịt, miếng cá là
miếng gì...”
Nói tới đây, thầy dừng lại nuốt nước bọt, bốn mươi học sinh chúng
tôi bên dưới cũng nuốt nước bọt, một bát cơm rang không mỡ nhập vào
bụng trước khi đi học làm sao chống cự nổi các từ giò, thịt, cá, lợn, gà, gừng thái chỉ... Cũng
may mà thầy khá nhạy cảm, thầy chuyển sang phần kết luận, tay thôi chém
vào không khí, nhưng mắt nhìn mông lung, ba vết hằn rất to ở trán:
“Ðoạn kết của Tắt đèn với hình ảnh chị Dậu chạy ra ngoài sân,
đầu tóc rũ rượi, váy áo tả tơi, tìm cách thoát khỏi con yêu râu xanh
không ai khác là cha đẻ của lão chủ tàn ác, chị không nhìn thấy gì
ngoài màn đêm đen tối như cái tiền đồ của chị... đó là cao trào xuất
sắc, đưa tác phẩm lên tầm tư tưởng rất cao: màn đêm dày đặc khôn cùng
đó, nói rộng ra, chính là ẩn dụ độc đáo cho cái tương lai tăm tối, cái
kết quả tất yếu cho tư thế thụ động của tầng lớp bị trị trước khi được
giác ngộ giai cấp và được ánh sáng cách mạng chỉ lối đưa đường, họ chấp
nhận bị đè đầu cưỡi cổ, chấp nhận cả việc để một thằng già bằng bố bằng
ông mình giơ tay bóp vú...”
Nói tới đây, thầy cũng nuốt nước bọt, bốn mươi đứa học sinh chúng
tôi không nuốt nước bọt, phim porno hồi đấy xa xỉ lắm nên đầu óc chúng
tôi khá trong trắng, chỉ có cái bụng là sôi réo...
Dài dòng kể chuyện thầy giáo dạy văn lớp mười cũng chỉ để nói rằng
cách diễn nôm văn học quả là quá dễ dãi. Học sinh và độc giả chẳng biết
thêm điều gì về tác phẩm ngoài những lời nhận xét chung chung mà ai
cũng có thể phán không mấy khó khăn. Lớp chúng tôi hồi đấy thích tiết
văn hơn tiết toán, tiết lý, tiết hóa... chỉ bởi vì kiểm tra mười lăm
phút hay bốn mươi lăm phút, chẳng cần chuẩn bị bài, chẳng cần học thuộc
định lý, định nghĩa, chẳng cần biết chuyển động Bờ-rao, vòng tròn đồng
tâm, phương trình phản ứng hoá học ô xy già... mà vẫn viết la liệt vài
trang giấy học sinh những ám chỉ, tượng trưng, ẩn dụ, những xuất sắc, độc đáo, bất hủ, bất diệt, tuyệt tác, những từ đó suy ra, từ đó nâng lên, sâu hơn nữa, rộng ra, rộng ra nữa...
Có lẽ không cần nhờ Phạm Xuân Nguyên thì nhiều độc giả cũng biết
suy luận: bàn thờ tượng trưng cho quá khứ, phụ nữ tượng trưng cho nhược
tiểu, thương gia Trung Hoa tượng trưng cho nước lớn láng giềng, còn tấm
thân hình chữ S thì chẳng là tổ quốc Việt Nam mến yêu nghìn năm thì
nước nào vào đây nữa hở trời?
Mỗi tác
phẩm có một số phận, tự tìm được cho mình những
độc giả
đồng cảm, những nhà phê bình tương xứng. Tôi
không biết thực sự trong
đầu thầy giáo dạy văn lớp mười nghĩ gì. Có lẽ thầy
không có cách phê
bình nào khác, ngoài cái cách
nhắc lại giáo án giảng văn, thầy nói hăng
say chỉ để bốn mươi đứa học trò chúng tôi
không ngủ gà ngủ gật, để làm
yên những cái bụng đang sôi réo của cả thầy
lẫn trò. Ngô Tất Tố nếu
chẳng may theo thầy hiệu trưởng, cô hiệu phó và
chuyên viên Sở Giáo dục
đến dự giờ thì có lẽ cũng không bất ngờ trước
cái cách phân tích dễ
dàng đó: hầu như trong tất cả các bài viết
liên quan đến Tắt đèn,
người ta cũng chỉ đọc được những câu đại loại như vậy. Ngô Tất Tố không
bất ngờ nhưng có bất bình hay không, tôi không biết, nào có ai biết,
người ta vẫn nói về ông như một nhà văn hiền lành, kín tiếng; huyền
thoại không để lại nhiều trừ tác phẩm Tắt đèn vài thập kỉ liền
được chọn làm đề thi văn cuối lớp, cuối cấp, vào đại học, đề thi học
sinh giỏi toàn thành phố, toàn miền Bắc, toàn quốc...
Tôi không biết Ngô Tất Tố có bất bình hay không trước cách bình giảng Tắt đèn của
các thầy giáo, cô giáo dạy văn lớp mười.
Nhưng tôi cho là Ðỗ Hoàng Diệu không bất
bình trước cái cách phân tích Bóng đè của Phạm Xuân Nguyên, đọc tập truyện ngắn Bóng đè
người ta không thể không nghĩ tới các tượng trưng, ẩn dụ, ám chỉ mà tác
giả cố tình phơi bày, và trong các bài phỏng vấn báo chí, chị cũng
nhiều lần nhấn mạnh muốn gửi đến độc giả các tư tưởng mà theo chị là
cao cấp.
Tôi
không bàn về những lời nhận xét của Phạm Xuân
Nguyên vì thực ra
mà nói, cái cách diễn nôm đó
có thể kéo theo vài toa tàu nữa cũng
không
sợ trật đường rày: đàn ông tượng trưng cho quyền
lực, đàn bà để ám chỉ
thân phận, mẹ chồng là hiện thân của truyền thống,
đôi mắt rất có thể
là ẩn dụ của tâm hồn, trái tim là
tình yêu, đôi tay giơ lên là ước mơ,
hy vọng... nghĩa là không chắc có đúng
hoàn toàn không nhưng không sai,
hoặc không sai lắm. Cần nói thêm ở đây
là chỉ đối với những tác phẩm
dạng Bóng đè thì phép diễn nôm mới được áp dụng mạnh mẽ, thử
nhìn sang những nhận xét của Phạm Xuân Nguyên về nhóm Mở Miệng thì đủ
biết là phép diễn nôm đó có vẻ mất công dụng lắm rồi.
Theo cách đánh giá của tôi, tập truyện ngắn Bóng đè
chẳng
kém cỏi, cũng chẳng xuất sắc hơn các tác phẩm văn
học tầm tầm hiện nay
ở Việt Nam, nếu có điều gì đáng nói
thì chỉ là sự nhịêt tình và
kiên
nhẫn của một người kể chuyện. Tôi sẽ không mất công
dành cho nó nhiều
thời gian suy ngẫm. Chỉ xin nêu ra đây một vài
ý nhỏ.
Có cần nhắc lại rằng trong văn chương, ngôn ngữ là một yếu tố quan
trọng, nó quyết định tác giả có phải là một nhà văn hay chỉ là một
người kể chuyện thông thường. Ðọc Bóng đè, cố bao nhiêu cũng
không thoát khỏi cái cảm giác ngôn ngữ của tác giả chỉ giới hạn trong
vô vàn mỹ từ dễ dãi nhằm chuyên chở ý tưởng. Em
cô độc, em một mình cô độc với chiếc váy
cưới, với tấm hình anh để trên bàn lung lay... Về
sau tôi biết mình đã đánh mất điều quý giá nhất buổi trưa hôm ấy. Chúng
đã cướp mất cuộc đời con gái khi vừa chớm đến, khi tôi vừa mới biết xỏ
tay thành thạo vào chiếc su chiêng...
Mẹ vào phòng, hôn nhẹ lên
trán tôi, tắt tất cả những bóng đèn
tôi đã cố tình bật lên vài phút
trước. Ngủ đi con, ngày mai còn có sức... Ngày mai tôi lấy
chồng. Ðây là đêm cuối cùng tôi ngủ trên chiếc giường con gái. Tôi muốn
nhìn lần cuối căn phòng đã che giấu cho tôi suốt quãng đời thiếu nữ,
che giấu những nẩy nở thân xác và che giấu cả những giọt nước mắt hạnh
phúc con người... Những đoạn như vậy nhiều vô kể trong Bóng đè, cũng nhiều vô kể trong các bức thư nữ sinh trung (đại) học gửi chị Thanh Tâm của báo Phụ nữ.
Nhân vật của Bóng đè xuất thân từ các thành phần khác nhau
nhưng dường như bỏ phiếu thuận cho vài chiếc khuôn đã được đúc sẵn bởi
Tự Lực Văn Ðoàn, Lệ Hằng, Quỳnh Dao...:
- nữ: xinh đẹp, đáng yêu, tràn trề nữ tính, coi trọng trinh tiết,
luôn được cảm tình của mọi người, được ai đấy cứ vừa gặp là thốt lên
vài câu cảm thán, không cần có đúng chỗ hay không, không cần có vần,
không cần có điệu: Cô em xinh thế này mà nhà cũng có chuột sao?... Em nói em không xinh đẹp ư? Trời
ơi, em bằng xương bằng thịt ôm bó hoa hồng đứng cúi
mặt khi thoáng thấy anh. Em xinh xắn và quyến rũ
quá đỗi... Cô
gái, cô có biết mình đáng yêu
không?... Chào em, hôm nay em xinh quá!
sao lại đi một mình? Anh xuống nói chuyện cùng em
nhé?...
- nam: không Việt kiều trí thức thì ngoại kiều (được tác giả nhấn mạnh là Mỹ trắng và thương nhân giàu có...), nếu mang quốc tịch Việt thì hoặc dòng dõi đế vương, hoặc giáo sư uy quyền, hoặc tất cả các ưu điểm gộp lại đẹp trai, hào hoa, nổi tiếng, giàu có... Vài người trong bọn họ chẳng ngần ngại tuyên bố rất kinh hoàng: “Tôi
cho em sung sướng, tôi cho em tất cả, tôi là
Hoàng thượng của em, em hãy tận hưởng đi!”...
Ðọc Bóng đè là đỡ mất công xem truyền hình nhiều tập Hàn Quốc, ngắm nghía các bộ ngưc tròn trịa với bờ vai, đôi cánh tay mịn màng...
để vừa rút mùi xoa vừa sụt sịt chuyện tình mùi mẫn. Tôi ngờ rằng nếu ra
đời cách đây hai, ba thập kỉ, khi điện ảnh Hàn Quốc chưa đổ bộ vào Việt
Nam, Bóng đè hẳn tranh hết khách của cải lương Sài Gòn.
Các xen tình ái trong Bóng đè bội thực mỹ từ, phép so sánh và chao ôi! Chao ôi! Nếu ai đã từng đọc “Man nương” của Phạm Thị Hoài sẽ mỉm cười khi đọc Bóng đè. “Man nương” chọc ghẹo thế này: “Nghe nói phải
từ từ gỡ hai khuy áo trên. Phải sững sờ vài giây trước điều kì diệu
thấp thoáng rồi có hai cách, hoặc vừa dịu dàng cúi xuống đặt môi vừa
khe khẽ ngắm như thể đấy làm bằng pha lê bằng sứ Tàu bằng ngọc lan bằng
hai giọt sương khổng lồ, hoặc tay phải bao giờ cũng là tay phải có một
nhà văn đã nói về nỗi bất hạnh của những kẻ thuận tay trái cuống cuồng
mơn nắn vò xé từ bên này qua bên kia từ bên kia qua bên này như thể
chẳng kịp như thể nó sắp đột ngột vượt lên thách thức... Còn em, em
phải cong người ra phía sau cong mãi cong mãi con tôm của tôi chiếc lạt
của tôi. Tôi mãi muốn làm mái vòm linh động rủ theo em...”. Mười ba năm sau, Bóng đè không hiểu vô tình hay cố ý mà rơi đúng vào sự chọc ghẹo đó: “Hai
núm vú cô gái vươn cao và cong lên mãi, anh với miệng theo không kịp.
Những dòng sữa mát lạnh tuôn chảy vào miệng anh từ đôi bầu vú căng đầy,
miệng anh không kịp hứng. Chảy xuống bụng anh, xuống đùi anh làm anh
cúi với theo. Chao ôi! Anh cúi xuống, cúi xuống nữa, phía dưới chiếc
bụng phẳng mềm của cô là cả một bức tranh anh chưa từng thấy. Bức tranh
ấy ưỡn cong giấy lụa nhích sát về phía anh. Nó toả ra hương vị đặc
biệt. Anh chẳng biết gì nữa kể từ lúc ấy...”. Tôi quả thực không hiểu được bức tranh giấy lụa
ở đây là gì? Làm tình mà cũng
đánh đố trí thông minh của nhau như thế này
thì trí thức thật!
Xin mở ngoặc ở
đây là tôi không có ý định lấy
“Man nương” làm tiêu chuẩn cho Bóng đè.
Tôi chỉ để hai trích đoạn cạnh nhau để thấy chúng liên quan đến nhau
thế nào, những trường hợp như vậy cũng khá hiếm trong văn học.
Bóng đè có vẻ đang đặt ra nguyên tắc (vật lý học hiện đại?)
cho tình dục: âm đạo chỉ chảy nước khi trước mặt là “hoàng tử”, dương
vật chỉ cương cứng khi đối diện với “lọ lem”. Tôi sợ là lọ lem và hoàng
tử hiếm như lá mùa thu, nguyên tắc tình dục khó khăn thế, tám mươi
triệu nhân dân Việt Nam (anh hùng) có lẽ sẽ trở thành thị trường
vi-a-gờ-ra béo bở nhất thế giới. Uy-nét-xì-cô chắc phải ra tay tiếp
viện. Người Việt Nam thấp bé nhẹ cân có hy vọng được mua thuốc kích
thích loại nhẹ, giá cung cấp nội bộ?
Ðó là một vài suy nghĩ của tôi về Bóng đè. Những thành công của tác phẩm này mà người ta cố đưa ra như dân tộc, truyền thống, ám chỉ, tượng trưng,
theo tôi, không có gì là mới mẻ,
chúng đều ra đời từ lâu, và cũng không được
Ðỗ Hoàng Diệu cho thêm sáng kiến nào.
Mỗi độc giả
có cách đọc riêng của mình. Tương tự, những
người cầm
bút theo đuổi những mục đích sáng tác
khác nhau, các nhà phê bình áp
dụng các phương pháp chuyên môn khác
nhau. Tuy vậy, theo thiển ý của
tôi, nếu ai đó muốn đề cao Bóng đè thì nên tìm những cách độc đáo hơn một chút. Chẳng lẽ cứ nói đến Bóng đè
là phải dân tộc, truyền thống, ám chỉ, tượng
trưng... Chẳng lẽ để ca
ngợi một đôi mắt, chẳng còn câu nào
ngoài cái câu muôn thuở: “Ôi, mắt
em là ánh nước hồ thu!”
© 2005 talawas