29.11.2005
Trần Thị Thanh Thủy
Có nên quá khiên cưỡng khi đọc một tác phẩm văn chương?
(Ðọc “Bóng đè” của Ðỗ Hoàng Diệu)
Từ
trước tới nay chúng ta đọc tác phẩm trên câu
chữ. Ðây là một hiển nhiên
không phải bàn cãi. Nó quan trọng như
cái cổng vào của ngôi nhà. Thông
thường người ta không mấy chú ý tới cái cổng
đó, vì theo họ, nó không
ăn nhập gì với ngôi nhà. Cái mà người
ta quan tâm tới đầu tiên là vẻ
ngoài hay kiến trúc tương quan của ngôi nhà.
Vẻ ngoài sang trọng có
nghĩa gia chủ của nó là một người hiểu biết và hẳn
ít nhiều cũng phải
sang trọng. Cái cổng thì chưa là gì cả.
Song, muốn vào nhà không thể
không qua cổng bất kể gia chủ thuộc tầng lớp người nào.
Ðọc tác phẩm là
bước qua cổng. Câu chữ là khung cổng. Câu chữ của
Ðỗ Hoàng Diệu trong
“Bóng đè” là một khung cổng
không tường minh song lại rất tiện nghi
liên hoàn.
Nghĩa là…?
Nghĩa là câu chữ chỉ là những ẩn dụ. Đỗ Hoàng Diệu không gọi
tên trần tục của sự việc. Vì ngại ngùng? Vì tránh né? Vì cái duyên
“Ngôn” bắt buộc của phụ nữ? Tôi nghĩ đơn giản hơn vì đó chỉ là ngôn ngữ
thuần tuý cảm giác.
Giữa cảm giác và trải nghiệm có khoảng
cách. Giống như giữa việc đi ngoài trời nắng 39 độ
và bị sốt cảm 39 độ
vậy. Sự khác nhau nằm ở chỗ cái này nằm ở
bên ngoài vào còn cái kia nằm
ở bên trong phát ra. Vậy cái gì là
thật? Cả hai đều là thật nhưng cảm
giác thì là tưởng tượng và không nhất
thiết phải được kiểm chứng. Mỗi
người sẽ có cách trải nghiệm riêng. Ðọc
“Bóng đè’’ người có nội
tâm dữ
dội không chịu được cảm giác hình như trong
đó có mình, những câu chữ
kia hình như cũng mang cảm giác của mình.
Còn người rụt rè hơn thì nghĩ
rằng đó là cuộc nổi loạn ngoài sức tưởng tượng của
bản thân. Người thứ
nhất sẵn sàng chấp nhận, người thứ hai thì có lẽ
chẳng đọc thêm lần nào
nữa hay có đọc lại thì cũng là để xem mình
có sai lầm nhiều trong việc
phủ nhận hay không mà thôi. Ðiều này
có nghĩa là hai người đã giải mã
tác phẩm theo hai cách khác nhau. Và cả hai
đều đúng. Nói như vậy, tôi
muốn nói là các nhà bình luận hay
những người đọc khi đưa ra ý kiến của
mình về tác phẩm đều có cách giải mã
riêng, nên không nhất thiết chúng
ta phải tranh cãi xem ai đúng ai sai và
cách hiểu của ai là khả quan
nhất. Tranh cãi như vậy, chúng ta chỉ làm cho
tác phẩm giống như một
thứ hàng hoá đang được đấu giá chứ không
phải là một sản phẩm của trí
tuệ và tâm hồn. Ðọc tác phẩm trước nhất
không phải để tìm xem nó mới ở
chỗ nào, kỹ thuật ra sao mà trước nhất hãy xem
nó có phù hợp với những
tiêu chí của bản thân ta hay không, ta
có chấp nhận nó hay không, sau
đó hãy xem cái gì khiến bản thân ta
chấp nhận nó. Việc thứ nhất tức là
việc ghép các thông tin chúng ta nhận được
trong tác phẩm vào các mã mà
chúng ta đặt ra sẵn. Phù hợp có nghĩa là ta
đã chấp nhận. Không - có
nghĩa chúng ta không chấp nhận. Sức sống của tác
phẩm nằm ở chỗ nó được
nhiều độc giả chấp nhận chứ không nằm ở việc chúng ta bầu
bán nó thế
nào? Ðơn cử là cuốn Nhật ký Ðặng Thuỳ Trâm chẳng hạn. Nếu người
đọc (tôi không gọi là độc giả để muốn phân biệt những người đọc thường
xuyên, chuyên nghiệp với những người chỉ đơn giản là đọc) không cảm
thấy trong tâm hồn của người chiến sĩ ấy cũng có những điểm giống tâm
hồn mình thì cuốn sách liệu có khơi lên được những tình cảm của không
chỉ một thế hệ đang qua đi trong quá khứ hay không, và có thể trở thành
cuốn sách gối đầu giường của nhiều người, kể cả những người trẻ hiện
đại hay không? “Bóng đè’’ của Ðỗ Hoàng Diệu cũng thế. Nếu người ta đọc
xong và quẳng ngay cuốn truyện vào một góc thì sẽ không nổ ra những
tranh luận rầm rộ trên khắp báo chí như thế. Nhân đây cũng nói luôn
rằng, không mấy khi trong nền văn học hiện đại của chúng ta lại có tác
phẩm được bàn cãi nhiều như cuốn truyện này. Lời khen rất nhiều nhưng
lời chê cũng không phải ít. Nguyên nhân có lẽ chính là nằm ở những ẩn dụ
vốn dĩ đã gây ra nhiều ý tưởng không mấy tường minh kia. Diệu gom quá
nhiều cảm giác vào các chi tiết, lại chuyển tải nó trong một khuôn chữ
hẹp của loại thể truyện ngắn nên tự dưng nó hoá mập mờ với người đọc và
gây ra nhiều cách hiểu không giống nhau. (Nếu chuyển vào một khung tiểu
thuyết thì chắc mọi điều sẽ tường minh hơn chăng?) Ðiều đó lại chứng
tỏ, độc giả của chúng ta đang giải mã các tác phẩm của chúng ta theo
nhiều hướng khác nhau. Tốc độ sàng lọc các chân giá trị lý luận cũng
theo xu hướng đó mà nhanh hơn chăng? Dù sao thì đó cũng là một tín hiệu
phản hồi rất đáng mừng đối với các nhà văn.
Quay lại với
Ðỗ Hoàng Diệu. Cái mà Diệu viết ra là
những gì Diệu
cảm thấy trong cuộc sống. Có tình cảm của cô ấy,
có sự nỗ lực vươn lên
của cô ấy từ sâu thẳm trong tâm hồn chứ không
chỉ dừng lại ở mỗi sự nỗ
lực vượt lên về kỹ thuật. Vậy nên muốn viết được, có
thể, người viết
phải viết cho bản thân mình trước khi nghĩ tới việc viết
cho người
khác. Vì là mình thì mới thật
và có thật với mình thì mới thật với
người khác. Kỹ thuật quan trọng nhưng không là
cái để người ta bắt đầu
khi đặt bút viết.
Ta hãy dừng lại ở việc Diệu đã viết những gì.
Diệu viết về đời
sống nội tâm của một phụ nữ trẻ là vợ, là con
dâu,
và là một người đàn bà. Trong vai con
dâu, cô gái gánh trên vai tất cả
quá khứ, hiện tại và tương lai của gia tộc nhà
chồng. Trọng trách này
quá lớn. Song tiếc là phải chấp nhận. Chấp nhận ít
nhất là 11 lần về
giỗ mỗi năm, chiếc phản kiên cố giữa nhà, khung cửa gian
chính mở
toang, ánh mắt cay nghiệt của mẹ chồng, thái độ khinh
khỉnh của em
chồng và nhất là bắt buộc phải chấp nhận tấm lưng trắng
phau đầy ngăn
cấm của chồng. Người con dâu ấy đã hoàn toàn
là khách theo nghĩa là một người xa lạ trong nhà và là một sinh thể hiến thân theo
nghĩa là gánh hộ trọng trách sinh tử cho tất cả
những người khác. Diệu
đã làm được việc là diễn tả khá sâu
sắc tình cảm này bằng những chi
tiết thuộc về cảm giác. Nó khiến ta như đang trải nghiệm
cùng với nhân
vật vậy. Tôi thích cách sử dụng chi tiết của Diệu.
Tôi nghĩ, mỗi chi
tiết Diệu đều lựa chọn rất kỹ lưỡng và nhất thiết mỗi chi tiết
Diệu đều
cho nó một ý nghĩa nào đó. Ngay như
bông hoa vải cầu kỳ trên ngực áo mà
Diệu miêu tả trong đoạn nhân vật “tôi”
chạy ra khu mộ cũng gợi cảm giác
đơn độc lạc lõng, giống như “tôi” trong
chính gia tộc nhà chồng vậy.
Càng cô độc cô gái càng bị ám
ảnh về bổn phận. Nếu ta xâu chuỗi các chi
tiết theo thứ tự về hình ảnh cái bóng xuất hiện từ
lúc cô gái có cảm
giác về nó trong một buổi trưa hè oi bức thời
còn con gái, rồi cái bóng
của người chồng chưa cưới và sau là bóng đen của
những người đàn ông
trong gia tộc, bóng của ông bố chồng… ta sẽ nhận ra
cái gì đó như một
thứ tiền định, như một cuộc lựa chọn áp đặt của số phận.
Các nàng dâu
trong cuộc đời thực sẽ hiểu cảm giác này hơn các
ông chồng. Với Diệu,
trong vai một nàng dâu hiện đại, tôi hiểu đó
có thể là một mối trăn trở
chưa được giải đáp nên nó cứ ám ảnh, cứ băn
khoăn mãi, mà cũng có thể
đó là một thứ mà Diệu chưa làm thế
nào để hiểu được, rằng tại sao người
phụ nữ lại là người gánh vác những trọng
trách ấy chứ không phải là ai
khác. Vì đây là người con dâu của thế
hệ phụ nữ hiện tại chứ không phải
là thế hệ con dâu của quá khứ, cả đời chỉ giam
mình trong hạnh phúc
được thực hiện bổn phận và trách nhiệm, nên
cô ấy có quyền được nói
tiếng nói của mình, được nói ra cảm xúc
thật của mình như là một đòi
hỏi đủ đầy. Nữ quyền, theo tôi, chính là ở chỗ
đòi hỏi được chia sẻ
tình cảm. Ðây là điểm khác biệt quan
trọng giữa cô gái và bà mẹ chồng
cũng như người em chồng. Nhưng như thế, khoảng cách giữa
“tôi” và những
người phụ nữ khác trong gia đình ngày càng
xa. Ðiều này lý giải một
phần lý do tại sao “tôi”, về sau, lại chấp
nhận và dần ham thích những
dịp giỗ tết đến thế. Tôi nghĩ, việc xảy ra giữa cô con
dâu và bóng ma
nhà chồng chỉ là một thứ ám ảnh tượng trưng cho
bổn phận và trách nhiệm
chứ không phải là một thứ “tội tông tổ”.
Trong Kinh Thánh, việc gọi là
“tội tông tổ” là tội mà Eva và
Adam đã vi phạm quy định của Thượng đế
về trái cấm trong vườn địa đàng do nghe lời xúi
giục của con rắn và bị
Thượng đế đuổi xuống trần gian, bắt sống cuộc sống kham khổ, chứ
không
liên quan tới “bản thể luận” hay “những biểu
hiện của dục tính”. Nếu
hiểu một cách trần trụi thì có thể hiểu cuộc cưỡng
bức của bóng đen ấy
giống như là tội loạn luân giữa bố chồng và con
dâu (trong đời sống
không thiếu những sự kiện kiểu như vậy), nhưng ở
“Bóng đè’’ thì nó
không hẳn như thế. Bóng đen chỉ là một thứ
ám ảnh tượng trưng. Và như
thế thì, tôi nghĩ, không thể đặt ra cái gọi
là “tội” ở đây được vì thực
chất thì nhân vật “tôi” trong tư
cách là người con dâu kia không có
“tội”.
Với chồng,
“tôi” lại càng cô đơn thật sự.
(“Tôi” chủ yếu được miêu
tả trong quan hệ với chồng ở khía cạnh đời sống riêng). Ở
2 điểm. Thứ
nhất là đòi hỏi bản năng ở “tôi”
quá mạnh. Nhiều khi nó đẩy “tôi”
vào
những khao khát dồn nén mà không được
đáp ứng. Sự lạnh nhạt của người
chồng chính là một tác nhân quan trọng khiến
“tôi” càng lúc càng quẫn
bách, càng lúc càng tơ tưởng tới những cảm
xúc mà bóng ma mang tới.
Ðiểm thứ hai là đòi hỏi hoà hợp tâm hồn.
Anh ta là một con người khác
khi trở về nhà mẹ. Ðiều này thật ra có thể tha
thứ được vì đó là trách
nhiệm và bổn phận con trưởng trong gia tộc. Nhưng khi trở lại
với cuộc
sống vợ chồng, anh ta cũng không hiểu được những thay đổi của vợ
chứ
không nói là những đòi hỏi bên trong.
Anh ta dần cách xa vợ về thể xác
và tâm hồn. Tất nhiên, người vợ -
“tôi” - bỗng như người cô quả, một
mình phải đấu tranh chống lại bóng đen của quá khứ
và đối mặt với chính
những đòi hỏi của bản thân mình. Tôi nghĩ
Diệu thông minh trong cách
biểu hiện mối quan hệ này bằng các chi tiết
“bên trong” (cảm giác). Các
chi tiết cho ta cảm nhận thấy ngay cảm xúc mà nhân
vật đang có. Không
biết đây có phải là ưu điểm của “dòng
văn học tự vấn” (theo các nhà phê
bình) hay không nhưng quả thật những cảm xúc được
“tả” ra, ở “Bóng
đè’’, cho ta cảm giác như đang trải qua
nó vậy. Ðiều này có nghĩa là
người đọc đã được sống cùng với nhân vật. Ở
“Bóng đè’’, trong tất cả
các câu chữ có tính miêu tả sự kiện
(ví dụ như những hành động gợi tính
dục hay các cuộc làm tình), phần nhiều Diệu
không gọi tên chính xác sự
kiện mà chỉ làm những ẩn dụ. Nó
cho ta thấy rằng Diệu đang nói
tới chuyện gì chứ không phải đang sa vào miêu
tả chi tiết, cặn kẽ
chuyện đó. Có lẽ đấy mới là cái mà
Diệu gọi là “vỏ bọc”. Tôi sẽ không
đề cao quá chuyện này nhưng chỉ muốn nói rằng
không phải việc nói về
“chuyện đó” có nghĩa là
“sex” như nhiều người trong chúng ta đã từng
coi là thế. Cái chúng ta nói ra lời
và chúng ta muốn thể hiện đôi khi
không trùng khớp nhau. Phải xem chúng ta đang
nói về việc gì thì mới
biết cái chúng ta muốn biểu hiện là cái
gì. Ðiều này cũng lý giải tại
sao cái mà chúng ta (người Việt) coi là
“sex” khác với người nước ngoài
coi là “sex”. Cái sex kiểu như trong Phế đô của Giả Bình Ao hay Báu vật của đời của Mạc Ngôn (Trung Quốc) hoặc gần với cây bút nữ trẻ của chúng ta hơn là Ðiên cuồng như Vệ Tuệ
của Vệ Tuệ (Trung Quốc) lại dễ được chúng ta chấp nhận hơn là cái sex
của Ðỗ Hoàng Diệu. Tại sao vậy? Phải chăng chúng ta chưa đủ dũng cảm
thừa nhận trong bản thân chúng ta có yếu tố đó và đơn giản yếu tố đó
cũng chỉ là một nhu cầu của đời sống cần được thể hiện? Ðấy là chưa
nói, chúng ta nhiều khi đã hiểu sai nó và diễn đạt sai yếu tố đó, thành
ra nó lại được hiểu như một yếu tố để “gây sự hấp dẫn”, “lôi cuốn trí
tò mò của độc giả”. Do vậy chúng ta còn rụt rè khi tiếp nhận một Vi
Thuỳ Linh trong thơ hay đang nóng hổi nhất là Ðỗ Hoàng Diệu trong
truyện ngắn.
Quay trở lại với
“Bóng đè”. Hình ảnh đôi
bàn tay của nhân vật “tôi”
cho tôi nhiều suy nghĩ hơn cả và có lẽ chính
nó lại nói nhiều hơn cả
trong câu chuyện này. Ðôi bàn tay rất đặc
biệt. Nó “không thay đổi theo
thời gian”, nó được ví với cọng cỏ với đầy đủ
tính chất của cỏ (mềm đấy
nhưng phải là liềm sắc mới cắt nổi). Diệu nhắc tới đôi
bàn tay không
chỉ một lần. Tôi nghĩ nó cho ta một thông điệp ẩn dụ
về tâm hồn “tôi”
chứ không thể trượt ra ngoài một cách
“thô”, mặc dù có thể nhiều lúc
nó
cho người đọc một cảm giác bị lạc khỏi mạch cảm xúc.
Ðôi bàn tay giống
như một thứ bản lề nối hai mặt tâm hồn của
“tôi” lại để cho nó cùng nằm
trong một bản thể “tôi”, tuy đối chọi, tuy
trái nghịch nhưng vẫn là một
bản thể không thể tách rời. Nó bắt buộc tâm
hồn “tôi” phải dung hoà.
Sản phẩm của sự dung hoà ấy là cái thai trong bụng
cô gái. Ðứa trẻ thoả
mãn yêu cầu gia tộc, tức là cô gái
đã làm tròn bổn phận. Ðiều đó đồng
nghĩa với việc “cuộc tình” với bóng ma chấm
dứt. Cô gái được trả về
hiện tại và thuộc về tương lai. Bản năng dục tính nằm
yên nhường chỗ
cho bản năng nữ tính. Ta có cảm giác cô
gái yên ổn. Bàn tay đã thành
một phần của con người này theo nghĩa gắn bó tâm
hồn chứ không chỉ là
một phần của thể xác. Mỗi khi tạo ra một chi tiết, chắc chắn
người viết
không muốn nó thừa ra khỏi hệ thống các chi tiết
của mình. Bao giờ nó
cũng mang một nghĩa nào đó và để nói hộ
nhân vật hay nhà văn một điều
gì đó, nếu không chi tiết đó
“chết” ngay khi nó được đặt ra lần đầu
tiên. Vì thế mới có cách tìm hiểu
tác phẩm “Vợ chồng A Phủ” của nhà văn
Tô Hoài thông qua số lần và mỗi lần xuất hiện
tiếng sáo. Ðây là một
cách tiếp cận văn bản, thông thường ít người nghĩ
tới. Với người chỉ
đọc tác phẩm thì càng không vì hầu
hết họ nhìn văn bản theo cách mà
người xem tranh nhìn một bức tranh, chỉ cần biết bức tranh vẽ
gì là đủ.
Còn nếu chúng ta nhìn văn bản như một bài
toán thì mọi dữ kiện bài toán
đó đưa ra không thể là thừa. Tôi chỉ muốn
nói rằng, đối với tác phẩm
văn học chúng ta không nên khiên cưỡng
ghép nó vào một nhận định cơ chế
nào đó, bắt nó nhất thiết phải mang một
thông điệp có tính nhân loại
học nào đó. Vì thực chất, không phải
tác phẩm nào cũng chứa đựng thông
điệp nhân loại và không phải nhà văn
nào cũng nói được tư tưởng của
thời đại. Họ chỉ nói ra và viết ra quan điểm cũng như suy
nghĩ của họ
về cuộc sống ở thời hiện tại. Có thành thông điệp
hay không còn tuỳ
thuộc vào việc nó thích nghi với thực tế bạn đọc
như thế nào. Thực chất
thì cô gái của Diệu trong “Bóng
đè” là cô gái của hiện tại cũng như
Diệu là một người phụ nữ của hiện tại vậy. Cô gái
ấy chỉ sống với cảm
giác về quá khứ chứ không thuộc về quá khứ.
Cho nên tốt nhất đừng bắt
cô gái ấy gánh những “tội” của
quá khứ và nhất là đừng bắt cô gái
mang
bóng hình quá lớn của dân tộc chúng
ta, dân tộc vốn đã có không ít
những đau thương.
Ðến đây, tóm lại, cái hiện ra và cái ẩn đi trong phép ẩn dụcủa
Diệu là gì nếu tôi, ngay từ đầu, đã khẳng
định câu chữ của Diệu là
ẩn dụ? Cái hiện ra là những gì ta thấy trên
câu chữ, là chuyện của cô
gái bao gồm cái bóng, bàn thờ, 11
ngôi mộ, chồng, mẹ chồng, em chồng,
các đám giỗ… Còn cái ẩn đi,
tôi hiểu, là những đòi hỏi được chia sẻ và
đền đáp tâm hồn, là mối băn khoăn trăn trở của
cô gái hiện đại về trách
nhiệm và bổn phận cũng như cuộc đời mình. Cái hiện
ra ở “Bóng đè” tuy
không mấy tường minh nhưng có lẽ vì thế mà
cái ẩn đi lại có nhiều đáp
số khác nhau. Song không nên quá khiên
cưỡng khi đọc một tác phẩm theo
nghĩa là phải khoác cho nó một tấm áo
quá lớn không mấy thích ứng với
thể tạng của nó. Những gì mà Diệu viết ra
đã nói được nhiều về những gì
cô không viết. Ít nhất thì cũng là
những gì mà ta đã đọc được trên
trang viết.
Ðỗ Hoàng Diệu là một người viết, theo tôi, khá bạo dạn. Tất nhiên
không thể không có những thiếu sót nhưng Diệu viết khá hiện đại và cá
tính. Con đường văn chương của cô, đúng như một nhà phê bình đã nói
trên vietnamnet, là đang ở phía trước chứ không phải những gì đã có ở
quá khứ. Ai cũng trưởng thành dần lên khi được thử thách và với nhà văn
thì là khi có được những sản phẩm của riêng mình. Diệu trẻ đồng nghĩa
với việc Diệu có khả năng thử thách bản thân mình. Hãy để cô ấy trải
nghiệm như một nhu cầu của người trẻ.
© 2005 talawas