Trần Thư
Tử Tù Xử Lý Nội Bộ
Hồi Ký Của Một Người Nạn Nhân Của Vụ Án "Xét Lại Chống Ðảng"

Chương 16

Tôi ở cái xà lim Hỏa Lò này sáu tháng, qua một mùa đông, một mùa xuân và nửa mùa hè, được hưởng mọi sắc thái thời tiết của nó. Mùa đông năm ấy đặc biệt giá rét và mùa hè đặc biệt nóng nực. Có lẽ không phải thời tiết năm ấy đặc biệt, mà là cái xà lim này nó đặc biệt. Không biết cơ chế của nó thế nào mà mùa hè thì nó hầm hập, mùa đông lạnh buốt, còn mùa xuân thì nó ướt dầm dề. Mọi diễn biến thời tiết bên ngoài thấm qua được bức tường dày và kín của nó đã được nhân lên.

Tôi không biết cái nhà tù Hỏa Lò này được xây dựng năm nào. Tôi nghĩ là vào quãng cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20 gì đó. Và từ khi ta tiếp quản, nó có lẽ được coi là di tích cần được bảo tồn cho nên vẫn nguyên vẹn đó, man rợ, già nua, mốc meo mùi văn minh thực dân cuối thế kỷ 19. Và nếu nó không nằm lù lù giữa thủ đô, nơi bây giờ giá mỗi mét đất lên tới hàng cây vàng, đem bán cho công ty nước ngoài ra khối của, thì có lẽ nó còn cứ nằm lì đó, trơ gan cùng tuế nguyệt, làm người lính lê dương già của nền chuyên chính vô sản. Cơ chế thị trường lợi hại thật! Bày được cả cái nhà xăng tan sừng sững này ra ngoại ô cứ nhẹ như không, chẳng khác gì Ngu Công dời núi. Nhất lại là một cái nhà xăng tan gắn liền với những tên tuổi như Hoàng Văn Thụ.

Nghe nói ngày xưa Tây dùng những sà lim này để giam tù án chém, tù trọng tội. Nó cũng được dùng làm xà lim kỷ luật. Người tù nào phạm kỷ luật của trại cần phải trừng trị thì bị tống vào ca sô. Ca sô chính là những xà lim này. Bây giờ hình như cũng như vậy: tôi là phản cách mạng, còn anh bạn cùng xà lim là một anh thượng úy can tội bắn chết thủ trưởng.

Tôi không rõ Hỏa Lò có bao nhiêu xà lim, riêng ở khu tôi bị giam thì có tám cái, xếp hàng ngang như tám cái cũi kín mít, mỗi cũi giam hai người. Xà lim ngang dọc mỗi chiều khoảng hai mét, trần bê tông, cao khoảng năm mét để người tù không thể trèo lên được. Giường nằm là hai tấm bê tông xây gắn vào tường chạy hết chiều dọc của xà lim và giữa hai tấm để chừa ra một lối đi rộng khoảng sáu mươi phân. Chiều dài của mỗi tấm như vậy là dài hơn cái giường cá nhân một chút, vì ở cuối mỗi tấm còn có một cái cùm bằng gỗ lim nẹp sắt ăn hết chiều ngang của phản. Cùm có hai thớt khoét hai lỗ để đút hai chân vào. Thớt dưới gắn chặt vào phản, thớt trên có bản lề để đóng mở. Chốt là một thanh sắt tròn, to, xuyên qua tường để khóa từ bên ngoài.

Cửa ra vào rộng bằng đúng cái lối đi còn để lại giữa hai tấm phản bê tông, có cánh gỗ dày, và ở chỗ ngang tầm mắt có khoét một lỗ cửa con vuông mỗi chiều khoảng 15 phân. Cửa đóng ban ngày để người bị giam không nhìn được ra ngoài và ban đêm mở để quản giáo đi tuần tra bên ngoài có thể nhòm vào kiểm soát động tĩnh. Lỗ thông hơi duy nhất là một cửa sổ có chấn song sắt và lưới mắt cáo, kích thước khoảng 40 x 60 phân ở bức tường cuối xà lim, nằm ngang sát trần. Ðứng ở dưới đất ngửa cổ nhìn lên thì thấy cái mái ngói chìa ra. Thêm cảnh trời mây thì trèo lên giường sẽ nhìn thấy được một cành bàng, và qua kẽ lá bàng, lốm đốm một màu trời. Cửa sổ ấy hướng bắc cho nên mùa hè thì không có gió, còn mùa đông thì nó như cái phễu hứng gió bấc. Kiến trúc của xà lim thì như vậy, còn trang bị nội thất của nó thì ngoài hai cái cùm tôi nói ở trên, chỉ còn hai cái bô vệ sinh đặt ở dưới gầm phản xi măng để ỉa đái ngay trong phòng giam.

Ðã bước chân qua cái cửa xà lim này thì chỉ bước ra mỗi sáng một lần để đổ bô và rửa mặt trong vòng vài ba phút, mỗi tuần một lần để tắm rửa trong mươi lăm phút và những lần gọi đi hỏi cung. Còn lại thì cứ loanh quanh hai người trong bốn cái mét vuông ấy. Trong cuốn Viết Dưới Giá Treo Cổ, Juliut Phuxic tả cuộc sống của mình trong xà lim nhà tù phát xít bằng câu chuyện đi bách bộ của ông: bước đi mười hai bước, bước về cũng mười hai bước. Tôi không nhớ con số của Phuxic là mười mấy, chỉ nhớ là trên mười, tôi tạm lấy con số mười hai cho nhỏ. Tôi cũng vậy, bước đi năm bước, bước về cũng năm bước. Cứ thế loay hoay như con chó trong cũi. Chó trong cũi còn nghênh ngáo nhìn được cảnh vật bên ngoài, còn tôi thì có bốn bức tường bưng lấy mắt.

Người bị giam trong các xà lim không được phép tiếp xúc trò chuyện với nhau, thậm chí không được trông thấy nhau, cho nên ra tắm rửa, đổ bô đều ra sân lần lượt từng xà lim một. Mảnh sân nhỏ vài mét vuông cũng có tường và hàng rào sắt vây kín, có cửa sắt để người đứng tắm rửa ngoài sân cũng bị khóa trái. Kiểu tù này hình như xưa kia Pháp gọi là tù cấm cố, bây giờ ta dùng chữ lịch sự hơn: giam biệt lập.

Sở dĩ tôi phải kể lể dài dòng như vậy là vì có ông bạn đại tá đến bây giờ, tức là sau một phần tư thế kỷ, còn hỏi tôi:

- Ông cứ nói là ông bị tù cho nó nặng nề ra, chứ chắc là người ta đưa ông đến một nơi nào đó ngồi đọc sách thoải mái chứ gì.

Phải, tôi được đưa đến một chỗ thoải mái như vậy đấy.

Cai quản dãy xà lim chúng tôi là một ông quản giáo già tên là gì tôi không biết chỉ biết anh em tù báo vụng cho nhau gọi ông ta là lão Giave. Thực ra cũng không thể nói được là lão ác. Trong sáu tháng nằm Hỏa Lò tôi chưa nghe thấy - nghe thôi chứ không thể nhìn thấy cái gì - chưa nghe thấy lão đánh ai bao giờ. Lão chỉ thi hành công vụ của lão một cách thẳng băng, không khoan nhượng mà thôi. Tính cách Giave (Javert) của lão chính là ở chỗ ấy. Lại thêm cái bộ mặt khó đăm đăm và giọng nói không bao giờ ôn tồn làm cho lão thành một con người rất mất cảm tình. Anh em tù khác có sợ lão không tôi không biết, còn tôi thì tôi sợ lão. Bởi mỗi lần cắt tóc cho tôi, đến tiết mục cạo râu, lão không bao giờ dùng dao kéo mà cứ cái tông đơ cùn lão rúc vào mũi tôi. Và vì lão vội, lúc nào cũng thấy lão vội, cho nên lão làm cứ phăng phăng. Tôi giật mình thon thót mỗi lần bị cái tông đơ đứt phựt một sợi ria cứa không đứt.

Lão lại càu nhàu:

- Làm cái gì thế, có muốn đứt mũi không?

Làm cái mả mẹ lão, thế thì bố ai giữ được không giật mình!

Chỉ đến khi lão ưỡn lưng đứng thẳng dậy tôi mới hoàn hồn, yên chí ít ra là đến lúc này cái mũi mình vẫn còn nguyên vẹn.

Nếu còn sống đến bây giờ thì lão phải ngót nghét chín chục. Chắc lão đã về chầu tổ rồi. Cầu trời cho lão an giấc ngàn thu.



[Tử Tù Xử Lý Nội Bộ] [Thư Mục Tài Liệu] [Trở lại Web Page VCOMTECH]