|
Trần Thư |
Ðiều tôi không ngờ là cuộc hỏi cung tôi lại kéo rất dài. Tôi khai như thế nào cũng vẫn là chưa rõ, chưa thành khẩn. Người ta đòi hỏi tôi phải khai rõ tất cả những quan hệ của tôi trong mấy năm qua. Tức là trong mấy năm đã gặp những ai, nói chuyện gì (tất nhiên là chỉ những chuyện chính trị), ở đâu, vào ngày tháng nào, phải khai rõ. Người ta muốn rạch hết các đường chỉ quần áo tôi, lộn trái tất cả ra để xem có con rận nào ẩn nấp không. Ba bốn năm trời, tôi gặp gỡ biết bao nhiêu người, nói biết bao nhiêu chuyện. Có những cuộc gặp nhau giữa đường, chuyện trò xong rồi quên đi ngay, chẳng nhớ để bụng làm gì. Nhưng mình ở trong tay người ta, người ta bắt thế thì cũng đành phải cố vắt óc ra mà khai để cho nó xong đi. Khai miệng chán rồi lại viết bản khai. Nhiều khi ngồi cả buổi không viết được chữ nào vì không nhớ ra cái gì để khai cả, người ta lại tưởng là tôi đang đấu tranh tư tưởng nên khai hay nên giấu.
Hãy còn may là tôi không bị bắt phải vẽ sơ đồ tổ chức như một số anh em khác: hệ thống tổ chức từ trên xuống dưới, ai là thủ lĩnh, ban lãnh đạo gồm những ai, từng cấp do ai phục trách v.v... Có lẽ bắt đến tôi thì người ta đã cảm thấy tất cả những cái đó chỉ là chuyện nhảm nhí. Tuy vậy, tôi vẫn cứ bị coi là chống Ðảng có tổ chức, nhưng lại không phải khai về tổ chức.
Có một điều rất khó là những người hỏi cung tôi không chịu đưa ra những chứng cớ cụ thể để buộc tội. Nếu có chứng cớ cụ thể thì tôi còn biết đường mà cãi. Ví dụ, một lần ông Nhiên nói:
- Thằng Ðinh Chân có viết một cuốn tiểu thuyết chống Ðảng để đưa sang in ở Liên Xô, tại sao anh lại giấu giếm cho nó, không chịu khai?
Tôi đáp luôn không chần chừ:
- Nếu Ðinh Chân có quan hệ chặt chẽ với Liên Xô như thế thì sao anh ta lại phải mò đến nhà tôi mượn những tờ báo Liên Xô cũ rích về đọc? Anh ta rất ham đọc sách báo, nhưng là người rất thận trọng dè dặt, tránh đi lại mật thiết với tôi mặc dù tôi là trưởng phòng, trực tiếp phụ trách anh ta. Anh ta thiếu sách báo lắm mới đành đến tôi mượn.
Nghe tôi trả lời, ông Nhiên không gặng hỏi gì thêm nữa. Tôi hiểu ngay ông không có chứng cớ gì mà chỉ bắt nọn tôi. Sau vài ba lần bắt nọn trật chìa như thế, người ta thôi không dùng cách ấy nữa, chỉ một điều Khai chưa hết, còn giấu giếm. Và tôi lại ngồi cắn bút, không phải là một vài ngày, mà mấy tháng trời liền như thế. Khi thấy tôi ngồi mãi không viết được gì thì lại bắt khai lại những điều tôi đã viết ba bốn lần rồi. Chán thì lại khai lý lịch, để rồi độ nửa tháng sau lại khai lý lịch, rồi lại khai lý lịch. Tôi mụ mẫm cả người, đầu nhức như búa bổ, đến nỗi lần khai trước nhớ được tên bố vợ, đến lần sau nghĩ mãi không ra! Lần khác thì quên tên mấy đứa cháu ruột gọi tôi bằng bác, còn ngày sinh tháng đẻ của tôi thì quên tịt hẳn cho đến tận bây giờ, không nhớ chính xác là 26-3 hay 3-3 hay 23-6. Chắc ông Nhuận cho là tôi giở thủ đoạn mụ mẫm, giả vờ quên để che đậy việc tôi giấu giếm tội lỗi. Kệ ông ta, ông ta muốn nghĩ gì thì nghĩ, tôi ớn lắm rồi, không chịu nổi nữa. Tôi đã mất hết tin tưởng, không còn hy vọng cái cuộc này sẽ có ngày kết thúc.
Có một cái tôi tự nhủ phải cố gắng đến cùng là: chuyện gì có mới khai, không bịa ra, cũng như không nhận những chuyện bị gán ép. Còn một cái khác thì nên nhân nhượng, không cãi làm gì, để cho nó xong đi. Tức là ngoài việc bắt tôi cung khai các sự việc ông Nhuận bắt tôi phải phê phán đánh giá, coi đó là những hoạt động phản cách mạng. Tôi nghĩ bụng: được, phê phán thế nào cũng được, chụp cho nó cái mũ gì cũng được, miễn là sự việc chỉ có thế. Sau này nếu có ai nghiên cứu các bản khai của tôi, người ta sẽ chỉ căn cứ vào những sự việc cụ thể, còn mọi sự phê phán đều là vô nghĩa nếu nó không ăn khớp với nội dung sự việc. Tôi ngồi chơi với một anh bạn, nói vụng ông Nguyễn Chí Thanh là ông tướng Quảng Lạc, việc đó gọi là tuyên truyền phản cách mạng thì chỉ làm trò cười.
Ðến khoảng tháng 5/1968, các cuộc hỏi cung thưa dần, rồi đến lúc cả tuần, cả nửa tháng không thấy gọi đi nữa. May ra xong rồi chăng? Nhưng sao chẳng thấy kết luận? Bỗng một buổi chiều tháng 6, trời đã xâm xẩm, lão Giave mở cửa xà lim bảo tôi gói ghém quần áo đi theo lão. Ra đến sân ngoài cùng thì thấy một chiếc com măng ca đã chờ sẵn. Niềm hy vọng đã tắt lại le lói trở lại. Nhưng để xem sao đã, chớ vội mừng.
Xe qua cổng, rẽ về phía vườn hoa Cửa Nam. Tôi trố mắt nhìn đường phố. Mới có nửa năm trời mà nhìn các đường phố quen thuộc đã thấy ngỡ ngàng. Phố xá vắng vẻ vì đang thời sơ tán. Một chị phụ nữ dáng gầy gầy đang uể oải đạp xe, một mớ rau muống buộc đằng sau xe. Vợ tôi chắc cũng đang tan tầm, uể oải đạp xe về nhà như chị kia. Chưa chắc. Chồng bị bắt, con cái đi sơ tán, chắc vợ tôi ở lại cơ quan, ăn cơm tập thể.
Xe rẽ vào đường Ðiện Biên Phủ. Có thể là đưa tôi vào trong thành, theo lối cửa phía Nam, ở đó vài hôm nghe kết luận rồi làm các thủ tục để về? Nhưng qua Bảo Tàng Quân Ðội, xe đi thẳng, rẽ vào đường Hoàng Diệu. Hay là vào thành theo lối cửa Bắc? Nhưng tới Phan Ðình Phùng, xe rẽ trái về phía Vườn Bách Thảo. Rồi đường Hoàng Hoa Thám, chợ Bưởi, trường Nguyễn Ái Quốc, ra đường Sơn Tây, và tăng tốc phóng thẳng. Thế là tôi hiểu.
Ðời tôi có hai lần vĩnh biệt Hà Nội. Lần thứ nhất là đầu năm 1947, là phóng viên chiến tranh, sau một tháng lăn lộn với quân dân liên khu I Hà Nội chiến đấu trong vòng vây, tôi một mình bò dọc bãi cát bờ sông rút ra khỏi thành phố bị bao vây, trở về đơn vị. Bò suốt một đêm, tảng sáng tới Quảng Bá, quay lại bâng khuâng nhìn thành phố quê hương còn chìm trong đêm, trong lòng thầm một lời nguyền: mình sẽ trở về. Và tôi đã trở về.
Lần thứ hai là vào cái buổi chiều tháng 6/1968, tôi ra đi trên chiếc xe com măng ca chở tù này. Ði đâu, không rõ. Ði làm gì, không rõ. Có ngày về không, không rõ. Vô định. Một cái vô định to tướng.
Xe đi một mình lầm lũi trong đêm.
![]()
[Tử Tù Xử Lý Nội Bộ] [Thư Mục Tài Liệu] [Trở lại
Web Page LMVNTD]