|
Trần Thư |
- Anh hãy khai thành phần cái chính phủ mà các anh định thành lập gồm những ai?
- Tôi chẳng định thành lập chính phủ nào cả.
- Anh không định nhưng có kẻ định, anh phải biết chứ.
- Tôi không hề biết danh sách chính phủ nào ngoài chính phủ Hồ Chí Minh.
- Anh vận động cho ai lên nắm quyền lãnh đạo đất nước?
- Tôi chẳng vận động cho ai cả, và tôi vận động như thế nào được.
- Nếu anh không vận động thì ít nhất anh cũng phải có ý nghĩ là ai lên lãnh đạo thay anh Duẩn thì tốt hơn chứ. Ý nghĩ thôi cũng được, anh cứ khai ra.
- À, ý nghĩ thì tôi có. Tôi nghĩ rằng nếu ở một Ðại hội nào đó anh Văn được đa số bầu lên làm tổng bí thư thì tốt. Tôi cho là anh Văn làm tổng bí thư thì hay hơn anh Duẩn. Nhưng cái đó là do Ðại Hội quyết định.
Ðó là ở Bất Bạt, trại giam quân sự Trung Ương, nơi tôi được đưa từ Hỏa Lò đến đêm hôm ấy. Tôi lại bị đưa vào xà lim biệt lập, và một tuần lễ không thấy gọi đến mình, tôi cứ tưởng việc khai cung của mình đã xong và bắt đầu thời kỳ nằm chờ.
Nhưng sau tuần lễ ấy, tôi lại bị gọi đi hỏi cung, và bài ca lại tiếp tục. Từ đây, tất cả các cuộc hỏi cung đều do ông Nhuận tiến hành. Vòng vo một số buổi, rồi dần dần lộ rõ ý đồ của ông: đi tìm một âm mưu lật đổ. Rồi dần dần xoáy vào một điểm:
- Trong lần gặp ấy, Hoàng Minh Chính đã chỉ thị cho anh hoạt động những gì ở trong quân đội?
Hoặc rõ hơn:
- Trong lần gặp ấy Hoàng Minh Chính đã truyền đạt cho anh những chỉ thị gì của Liên Xô về hoạt động trong quân đội?
Về sau này bình tĩnh nghĩ lại tôi mới hiểu: mấy tháng hỏi cung ở Hỏa Lò mới chỉ là khai vỡ. Sau khi thu thập các lời khai của tôi, đem đối chiếu với lời khai của các anh em khác, nghiên cứu tìm ra chỗ nào là chỗ khả nghi nhất và đồng thời cũng là quan trọng nhất, người ta mới tập trung vào đó đánh một đòn quyết định để từ đó làm cho các vấn đề tung tóe ra.
Từ thuở cha sinh mẹ đẻ đến ngày tôi bị bắt cuối tháng 12/1967 tôi đã gặp anh Hoàng Minh Chính tổng cộng ba lần (nếu không tính một đôi lần trước đó, chúng tôi gặp nhau trong hội nghị triết học, khi ấy chúng tôi chỉ mới biết nhau sơ sơ nên chỉ chào hỏi xã giao)
Lần thứ nhất là vào giữa năm 1965, một buổi tối tôi đi dự cuộc họp phụ huynh học sinh trường nhạc, nơi con gái tôi đang học. Ðến nơi thì thấy anh Hoàng Minh Chính cũng tới dự và lúc ấy tôi mới biết anh cũng có một đứa con gái học nhạc. Tôi kể rõ như vậy để nói rằng lần ấy chúng tôi gặp nhau là hoàn toàn tình cờ. Trong cuộc họp, Chính ngồi một góc phòng, tôi một góc khác. Họp xong gặp nhau ở chỗ lấy xe đạp, tôi hỏi thăm anh ở phố nào? Phố Lý Thường Kiệt. ồ, tôi ở Bà Triệu, vậy ta về cùng đường. Thế là chúng tôi đạp xe sóng đôi. Thời gian ấy Cách Mạng Văn Hóa Trung Quốc đang rầm rộ, cho nên chúng tôi cũng nói chuyện Cách Mạng Văn Hóa Trung Quốc. Ðến ngã tư Lý Thường Kiệt, chuyện đang sôi nổi, anh Chính đi quá một quãng nữa tới ngã tư Nguyễn Du. Lần đầu tiên chuyện trò với Chính, bắt anh đi thêm nữa e không tiện, mà tôi thì muốn nghe nốt cho nên đã rủ anh ngồi xuống tấm ghế đá bờ hồ Thiền Quang. Ðang ngồi thì có một người đến xin lửa châm thuốc lá. Chính nói: Cớm đấy. Tôi đáp: Kệ họ. Nói vậy chứ trong bụng cũng hơi ngại, tôi ngồi nán lại một lát, rồi ra về. Từ đó coi như tôi và anh Hoàng Minh Chính bắt đầu quen nhau.
Lần thứ hai là vào khoảng đầu năm 1966: một hôm anh Phùng Văn Mỹ, cán bộ viện triết, đến chơi tôi và bảo: Sáng mai, Chính đến chơi nhà mình, Thư đến chơi cho vui. Hôm ấy ba chúng tôi chuyện trò linh tinh mười lăm phút, chuyện gì quả thực tôi cũng không nhớ, chắc là chỉ có nói chuyện thời sự, và chuyện trò trước sự có mặt của vợ con anh Mỹ, vì nhà anh Mỹ chỉ có một buồng.
Lần thứ ba là tháng 11 năm 1966, cũng anh Phùng Văn Mỹ đến rủ tôi: "Sáng mai, Chính tổ chức liên hoan kẹo bánh kỷ niệm Cách Mạng Tháng Mười, có mấy anh em đến dự, Thư cùng đến cho vui". Thú thật là từ ngày ngồi nói chuyện với anh Hoàng Minh Chính ở ghế đá bờ hồ Thiền Quang bị công an đến nhòm mặt, tôi không muốn đi lại dập dìu với anh để tránh những chuyện phức tạp, nhất là sau đó chính bản thân tôi cũng bị bám sát theo dõi. Nhưng từ chối không tiện, tính tôi cả nể, vả lại ngồi nhà một mình mãi cũng buồn, muốn đến chơi gặp anh em cho vui, nên tôi nhận. Hôm ấy hoàn toàn là một buổi liên hoan ăn uống vui vẻ, nói năng xô bồ. Có anh quá chén đã nôn ọe ra nhà và phải nằm lại cho rã rượu. Tôi kể như vậy để nói rằng trong không khí như thế thì không ai lại bàn bạc chuyện lật đổ cả.
Về hai lần gặp gỡ sau giữa tôi và Chính, ông Nhuận không hề gợi đến, thậm chí tôi khai thì ông ta gạt đi:
- Không cần, những đứa khác đã khai rõ cả rồi. Hôm ấy thằng Lộc nôn ọe ra nhà chứ gì? Tôi hỏi anh về cái lần này kia.
Tức là cái lần thứ nhất, lần tôi gặp anh Chính ở cuộc họp trường nhạc. Quả thật, hai lần kia thì có đông người, và nhà Chính chắc có gài máy ghi âm, cho nên ông Nhuận đã có đủ tài liệu để kết luận. Còn lần tôi đi họp về với Chính thì chỉ có hai chúng tôi, hai cái xe đạp và cái ghế đá. Ông Nhuận cho rằng giữa tôi và Chính nhất định phải có cái gì, và cái gì ấy chỉ có thể ở cái cuộc họp ghế đá kia mà thôi. Ông ta nói:
- Các anh là những người có kinh nghiệm hoạt động bí mật, bố trí khéo lắm.
Nghĩa là bố trí gặp nhau nhưng bề ngoài lại có vẻ như tình cờ gặp nhau, rồi lại bàn bạc trong khi đi rong trên đường và ngồi ghế đá, không có một người thứ ba chứng kiến. Rõ ràng là tuân thủ chặt chẽ các quy tắc của hoạt động bí mật. Chà, giá mà ở gầm hai cái yên xe đạp của chúng tôi và ở tất cả các ghế đá vườn hoa Hà nội đều có gài máy ghi âm thì đỡ cho tôi biết mấy. Ông ta không thể tin được rằng chúng tôi mất công bố trí một cuộc gặp như thế lại chỉ để nói chuyện cách mạng văn hóa. Ông ta đập bàn:
- Thằng Chính nhận rồi, sao anh không chịu nhận?
Vậy tôi đề nghị được đối chất với Hoàng Minh Chính.
Tôi thừa hiểu là ông ta bắt nọn và không dám cho chúng tôi đối chất đâu. Và đúng vậy, ông ta đã lờ đi, không trả lời đề nghị của tôi.
Tiện đây cũng xin nói thêm là đối với ông Nhuận, tất cả chúng tôi đều là thằng, thằng Ðặng Kim Giang, thằng Hoàng Minh Chính, bất kể tuổi tác như thế nào và dù anh đã từng là một vị tướng trong Bộ Chỉ Huy Chiến Dịch Ðiện Biên Phủ.
Hỏi cung tôi ông ta còn nể mặt, gọi tôi bằng anh nhưng khi hỏi cung người khác nếu ông có nhắc đến tôi thì chắc chắn tôi cũng chỉ là thằng Trần Thư mà thôi.
Tất cả những lời anh thóa mạ Ðảng, thóa mạ các đồng chí lãnh đạo, tôi không quan tâm. Cả những lời anh chửi Trung Quốc cũng vậy. Anh chửi ông Trung Quốc thì để ông ấy sẽ trị tội anh. Còn tôi, tôi quan tâm chuyện này cơ. Cho tới nay anh toàn khai những chuyện linh tinh, còn chuyện quan trọng nhất anh lại che giấu, không chịu khai.
Thật đáng tiếc là chuyện ấy không có. Không có thì khai làm sao được? Giá nó có để tôi khai cho xong đi thì tốt quá!
Rồi một hôm, ông ta nói:
- Anh cứ suy nghĩ cho kỹ đi, tôi đợi. Ðợi bao nhiêu lâu cũng được, tùy anh.
Nói xong, ông ta ngả lưng ra ghế, hai tay đặt dài lên bàn, hai chân ruỗi thẳng trong một tư thế ngồi đợi thoải mái.
Và ngay chiều hôm ấy tôi bị chuyển vào giam ở phòng tối.
Phòng tối là một xà lim biệt lập như các xà lim biệt lập khác của trại, chỉ khác là nó kín như bưng. Phòng cũng có một cửa sổ có chấn song sắt, nhưng cánh cửa bằng ván đóng im ỉm suốt ngày đêm. Hơn nữa các khe hở do ván co đều được đóng thêm nẹp gỗ bịt lại cho kín. Chỉ khi nào ngoài trời có nắng thì trong phòng mới sáng mờ mờ do có ánh sáng lọt qua khe khung cửa. Còn sáng dậy đi vệ sinh phải lấy chân dò dẫm để tìm cái thùng để ở góc phòng, không dám sờ soạng bằng tay, sợ vô phúc thọc vào giữa thùng thì khốn, vì thùng không có nắp đậy. Có những buổi râm trời, ăn cơm, và vào mồm mới biết là người ta cho mình ăn gì. Chuột và gián tưởng ngày là đêm, cứ bò đi bò lại thoải mái. Có lần cầm bát cơm đưa lên mồm thì có con gián ở trong bát bay vọt ra.
Phòng xây trên đồi trọc, lại đang giữa mùa tháng tám nắng rám trái bưởi, cho nên từ xế trưa đến tận nửa đêm, trong phòng nóng om ngột ngạt. Không tài nào ngủ được, thậm chí không nằm được, vì ván giường nóng hổi tưởng chừng như đổ nước vào thì sẽ bốc khói. Tôi cứ cởi truồng ngồi quạt cho đến mấy giờ không rõ, chỉ biết là rất khuya. Rồi quạt mãi cũng chỉ là khua lên một bầu không khí ngột ngạt nồng nặc mùi nước tiểu bốc ra từ thùng vệ sinh bị hâm nóng.
Và tôi đã nghĩ ra một kế: nửa đêm ngồi bên cửa sổ, lấy móng tay cào sồn sột vào chấn song gây tiếng động như cưa chấn song. Quả nhiên người lính gác đi qua, nghe thấy tiếng động, sinh nghi, mở cửa sổ chiếu đèn pin vào kiểm soát. Tranh thủ khoảng khắc quý giá đó, tôi quạt thốc quạt tháo lùa khí mát bên ngoài vào phòng. Tỉnh người. Tôi làm như thế được hai đêm. Ðêm thứ nhất, anh lính gác hiểu ý để cửa mở vài phút cho tôi quạt. Ðêm thứ hai, một anh lính gác khác mở ra rồi đóng sập vào ngay. Có thể là anh ta ác, nhưng cũng có thể chỉ là vì cửa mở ra thì một luồng không khí hôi thối ở trong phòng ùa ra theo phả vào mặt anh ta, anh ta không chịu nổi. Từ sau đó, tôi cào mấy họ cũng mặc.
Lại phải nghĩ kế khác. Dưới gậm giường có một hố tránh bom. Nửa đêm tôi chui xuống, đấm bình bịch vào thành hố làm như đào ngạch. Lần này anh lính gác buộc phải mở cửa nhìn vào, và soi đèn pin một lúc mới phát hiện được ra tôi ở dưới hố. Anh ta hỏi tôi xuống đấy làm gì. Tôi đáp: nóng quá, chui xuống cho mát. Ngần ấy thời gian là đủ cho tôi rồi. Ðêm hôm sau không dám làm nữa, vì chợt nghĩ ra dưới hố có thể có rắn rết. Một lần ở phòng giam cũ của tôi đã có một con rết to bằng ngón tay cái, dài đến hai gang tay, chui ra từ cái hố gầm giường cũng như cái hố này, bò lên tường ngoằn ngoèo như con rắn, tôi đã lấy dép cao su đập chết và anh lính gác đã xách về ngâm rượu.
Cuối cùng, chẳng còn cách nào khác là nằm xấp xuống đất, ghé mũi vào chân cửa ra vào, vừa là để hít lấy chút không khí trong lành bên ngoài, vừa là hưởng cái hơi mát của đất.
Quá nửa đêm, trong phòng dịu bớt, đã có thể nằm được thì bắt đầu cuộc chiến đấu với muỗi. Muỗi lao xuống đậu phịch lên cái thân thể trần truồng của tôi, đậu đâu biết đấy. Chỉ còn có việc nhẹ nhàng đưa tay tới gần, rồi đập mạnh. Bách phát bách trúng. Diệt được khoảng dăm sáu chục con như thế thì ngủ thiếp đi, làm mồi cho muỗi đến sáng. Và buổi sáng lại nằm lơ mơ ngủ tiếp cái giấc ngủ không đã của ban đêm, hoặc nằm vắt tay lên trán nghĩ, nghĩ, nghĩ về cái thân tội thân nợ của mình.
Và cứ thế, vài ba ngày một lần ông Nhuận lại cho gọi tôi lên hỏi cung. Bước qua cửa phòng giam, đứng lại một tí cho hết lóa mắt, tôi bước theo viên quản giáo qua ba bốn lần cửa của khu giam biệt lập đi một quãng xa sang đồi bên là nơi hỏi cung. Ðó là những giây phút sung sướng hiếm hoi của tôi. Trong khoảnh khắc tôi được sống lại cuộc sống người: ngẩng đầu lên là trời, chân đạp xuống là đất, nhìn quanh xa xa là người. Không phải những con người đang thực thi chuyên chính vô sản mà những con người bình thường đang bận rộn những công việc bình thường của một cuộc sống bình thường, cuộc sống mà tôi đã mất. Chà, sao mà tôi thèm người thế, người nói chung chứ không phải đàn bà. Bao lâu nay tôi sống như một con chó sói cô độc nằm một mình trong hang nhớ cuộc sống bầy đàn. Tôi bước đi tung tăng. Niềm vui đơn sơ. Và niềm vui ngắn ngủi.
Chỉ vài phút sau, trước mắt tôi đã là cái bàn, mấy tờ giấy trắng, cái bút, và đối diện là ông Nhuận với câu hỏi búa bổ kia. Hai bàn tay tôi đặt lên bàn, da nom trắng nõn như trứng gà bóc, nổi rõ từng đường gân xanh đỏ. Và vài ba giờ sau người ta lại dẫn tôi trả về phòng tối. Tôi lại đi ngược trở lại quãng đường tôi đã đi lúc sáng. Vẫn cảnh ấy, trời mây, cây cỏ, và người. Nhưng nguồn cảm hứng lúc sáng đã tắt ngấm. Tôi bước đi, trong lòng nửa muốn sống để về với vợ con, nửa muốn chết cho xong nợ đời.
Ông Nhuận bảo ông ta đợi bao lâu cũng được. Ông ta đợi thì thoải mái quá: ngồi mát đọc tài liệu, rỗi rãi thì đi bắn chim, chủ nhật nhảy xe com măng ca về Hà Nội với vợ con. Còn tôi thì nằm đếm từng ngày từng giờ trong cái phòng tối này.
Tường của phòng tối là tường cách âm, vẩy lổn nhổn những cục xi măng vữa. AỸnh sáng lọt qua khe cửa phản chiếu lên tường làm nổi lên những hình thù kỳ quái: hai cái vú đàn bà thỗn thện, một kỵ sĩ không đầu cầm đao, cưỡi con ngựa chỉ có hai chân sau, một bộ mặt nhăn nhó rất khó coi... Tôi nằm lơ mơ trong cái không khí nửa thật nửa ảo ấy. Còn tôi, cái gì là ảo, cái gì là thật? Những mảnh đời quá khứ của tôi là ảo, lúc hiện ra, lúc tan đi. Vợ con tôi là ảo, những trận chiến đấu, sông Luộc, Ðường Số 5 là ảo. Cái có thực là cái thân tàn ma dại của tôi nằm đây. Chín tháng rồi còn gì! Chín tháng xà lim, chín tháng hỏi cung, chín tháng cơm tù (mà lại là cơm tù thời chiến), và bây giờ, cái phòng tối này. Tôi sờ nắn thân thể gày gò của mình, thử đánh giá xem trên con đường lịch sử tiến hóa nhân loại, từ vượn đến người, từ Homo Sapiens đến con người hiện đại, cái tòa thiên nhiên.
Tôi đang đứng ở quãng nào. Sờ cẳng: hai ống tre. Sờ ngực: cái thùng bẹp toàn những đai. Sờ bụng: lép kẹp. Sờ chim: rũ rù rù, như cờ rũ, không làm thế nào cho nó hăng hái lên được, nó không còn một tí tinh thần cách mạng tiến công nào.
Ông Nhuận thách thi gan với tôi, nhưng cuộc thi quả thật là không công bằng.
![]()
[Tử Tù Xử Lý Nội Bộ] [Thư Mục Tài Liệu] [Trở lại
Web Page LMVNTD]