Trần Vàng Sao
Tôi
bị bắt
(Nhớ lại những năm
tháng tôi bị bắt rồi được thả ra và
sống như tù) 10 kì
Lời người sưu tầm:
Tài liệu
mà tôi gởi tới độc giả sau đây
là một tập hồi ký, dày 134
trang A4 đánh máy vi tính chữ nhỏ xuất
hiện dưới hình thức samizdat
được photocopy (thứ văn chương chuyền tay khá phong
phú ở Việt Nam sau
những năm “đổi mới”) cách đây
có hơn 10 năm [1].
Tác giả của nó là Trần Vàng
Sao (tên
thật là Nguyễn Đính), một người
làm thơ ở miền Nam, nhưng vào những năm 60 của
thế kỷ
trước, đã cùng
với nhiều bạn bè đồng lứa đứng lên chống lại chế
độ
chính trị của miền
Nam lúc đó bằng cách “đi
lên
núi” để cuối cùng, sau khi
thoát khỏi bom
đạn Mỹ, anh đã vướng phải một tai hoạ cực kỳ tệ hại.
Cuốn hồi ký
này kể lại cái tai hoạ đó khi từ chiến
khu, anh
được đưa ra miền Bắc trị bệnh: ở nơi đây, sau một thời gian
quan sát,
anh đã ghi lại những suy nghĩ của mình về
cái gọi là “hậu phương xã
hội
chủ nghĩa” đó bằng nhật ký
và chính vì những suy nghĩ ghi
thành chữ
viết này anh bị các đồng chí của
mình truy bức, nguyền rủa, phỉ nhổ, cô
lập, đến chỗ như anh cho biết anh không còn được
coi là con người mà đã
thành “một con vật, một con
chó”. Trong rừng, tôi đã nghe
biết một số
trường hợp những trang nhật ký bị tố cáo, nhưng
chưa thấy có trường hợp
nào sự tố cáo lại dẫn đến một cuộc
hành hạ, trừng trị độc địa như
trường hợp của Trần Vàng Sao.
Những ai đã
đọc Đặng Thuỳ
Trâm cùng những bàn tán về
nhật ký
của chị, khi đọc xong hồi ký của Trần Vàng Sao,
sẽ thấy
rất khó mà coi
các tài liệu chiến tranh này
là những
“bản chứng nghiệm chân thực của
lịch sử” – như có một tác giả
nào
đó đã cho là vậy. Tuy cùng
“chung một
chiến hào”, thuộc cùng một thế hệ những
người đi
vào chiến tranh (Trần
Vàng Sao cũng sinh năm 1942 như Đặng Thuỳ Trâm),
nhưng
những giá trị mà
Đặng Thuỳ Trâm tin tưởng một cách
“chân
thực” để sống và để chết thì
đối với Trần Vàng Sao lại chỉ là những điều huyễn
hoặc
đơn thuần. Không
thể nói là không
“chân thực” nỗi
thất vọng của một trí thức như anh,
một người đi qua máu lửa để tìm đường chợt thấy
trước mắt
mình hiện ra
một khoảng hư vô mù mịt.
Với tai hoạ ấy, anh
đã bị đẩy
vào tình thế đứng giữa hai lằn
lửa. Là người miền Nam, nhưng anh đã phủ định
cái
huyền thoại ngô nghê
về một “một miền Nam đúng nghĩa” dưới
một
chính thể mệnh danh “dân chủ,
tự do, no ấm” để chọn lựa đi về “phía
bên
kia”, cuối cùng đã bị cả
“phía bên kia” lẫn
“phía
bên này” kết án.
Ngày nay, với sự xuất
hiện
lại của hồi ký này, không thể loại trừ
những tố
cáo ấy sẽ tái diễn, và
nếu như vậy thì cũng chẳng có gì
khó hiểu.
Như có người đã nói rồi,
cuộc chiến đã chấm dứt 30 năm nhưng những vết thương
mà
nó để lại trong
lòng người còn quá sâu đậm:
bên cạnh
hàng triệu người vui vẫn còn hàng
triệu người buồn. Những vướng mắc trong quá khứ vẫn chưa
tìm được cơ sở
chung để tháo gỡ một cách thanh thản,
hoà
bình.
Dù sao,
tôi thấy giới
thiệu lại những trang hồi ức của Trần
Vàng Sao như dấu tích của một thời đã
qua vẫn
là cần thiết, nhất là với
những ai chợt thấy có mong muốn nhìn lại
cái thời
đã qua ấy một cách
nhiều mặt hơn: ngoài những tiếng nói của hai phe
đối
nghịch có đủ lý do
(Bắc/Nam, quốc/cộng…) để tố cáo nhau một
cách
ác liệt, còn có tiếng nói
của những người cũng có đủ lý do để
không
còn phải đứng về phe nào
trong hai phe ấy nữa. Có thể chẳng giải quyết được
gì:
nhiều lắm cũng
chỉ là trải nghiệm của một cuộc dấn thân
máu lửa,
cần được nhắc đến để
rọi sáng thêm một cuộc máu lửa
mà những hệ
luỵ của nó chưa chịu nằm yên
trong những nấm mồ. Sự chân thực mang tính chất
nhân
chứng ở đây không
có lý do nào chính
đáng để
nâng mình thành sự chân thực
của bản
thân
lịch sử, dù đó là sự chân
thực của một niềm
tin hay là sự chân thực của
một hận thù.
Sài
Gòn ngày 2.11.2005
Lữ Phương
I. Ở
K65 thị xã Sơn Tây
1.
“Ngồi đó!”
“Ngồi đó!”
“Ngồi xuống!”
“Ngồi xuống đó!”
Một hai ba ông không nhìn tôi
chỉ cái
ghế quay lưng ngay ở cửa
ra vào nói. Tôi ngồi xuống, rồi dớm
người
kéo vạt áo bông lên.
Hình như
hai cái bàn đâu lại với nhau. Ghế, ghế
xung quanh.
Tôi nghe tiếng chân
ghế kéo lẹt xẹt trên nền xi măng. Rất nhiều
ông
đã ngồi trước. Rất
nhiều ông đội mũ cát dạ, kiểu Trung Quốc, kiểu
Liên
Xô; một hai ba cái
mũ bê-rê. Tất cả đều mặc áo ấm,
áo đại
cán và áo bông,
và choàng khăn
cùng một loại bằng len, chỉ khác màu,
lấm tấm đỏ
đen xanh trắng. Tôi
lấy thuốc ra hút. Trước mặt tôi là
cái cửa
sổ to rộng, nhiều cánh,
không có song và tàng
cây xanh ở
ngoài xa. Sột soạt, với tiếng ghế đụng
nhau, họ soạn sổ sách, giấy bút. Tất cả bọn họ
đều
là một màu xanh đậm
đen và đen, và to phồng. Mặt của họ đỏ, đen
chì,
trắng xám, có mặt đỏ
láng. Số đông bọn họ đều già, tuổi từ
50 trở
lên. Có một hai người suýt
soát trên dưới 40. Bọn họ đều lạ đối với
tôi
và hầu hết tôi không biết
tên, và nếu tôi có biết
thì cũng nghe
họ xưng hô với nhau. Tôi cũng
không biết rõ họ là ai, ở đâu
đến.
Tôi nghe có tiếng nói giữa
đám người
đó, giọng Thừa Thiên pha giọng Bắc rất
khó chịu:
“Thôi, làm đi!”
Ông vừa nói tên Lai, mặt đỏ
láng.
Một người mở tờ giấy ra để trước mặt và đọc:
“Họ và tên: Nguyễn Đính. Sinh
ngày: 12-12-1942…”
Người đó dướng hai con mắt khỏi cặp kính
ngó
tôi; nói bằng giọng Quảng cũng pha Bắc chớt chớt:
“Thật không?”
Tôi ngó người đó không trả
lời. Người đó cuối xuống đọc tiếp.
Trong lúc ông này đọc lý
lịch của tôi, tất cả bọn họ đều ngó chằm
tôi.
Một ông trễ kính xuống đầu chót mũi
dướng mắt ngó; một ông nghiêng đầu
sang ông bên cạnh miệng mấp máy, mắt
liếc xéo tôi; một ông dim mắt tay
đỡ cằm ngó tôi; một ông dựa ngửa
nhìn tôi qua khói thuốc; một
ông miệng
méo như cười, tai đụng vai ngó tôi,
ông nữa phía bên cạnh chống tay một
bên đầu, răng cắn vào môi ngó
tôi; ông nữa cắn gọng kính khịt mũi
ngó
tôi; ông nữa vừa xoay vừa thổ xuống mặt
bàn cái bi-kê Trung Quốc,
đánh
hai hàm răng theo nhịp ngó tôi;
ông nữa mím thít hai hàm
răng, bạnh cằm
ra ngó tôi; ông nữa cắn răng
vào khẩu tay ngó tôi; ông nữa
ngửa mặt lên
trần ngó mắt xuống vào tôi.
Ông kia đọc xong, một ông khác dựa ngửa
gõ
gõ cả bàn tay xuống mặt bàn, gục gặc
đầu, hất
hàm hỏi:
“Anh khai thật chứ?”
Tôi nghe tiếng nước chảy dưới nhà lỏng bỏng.
Có tiếng đàn bà nói:
“Mở nước ra rồi thì phải đóng lại chứ.
Lãng phí thế
này…”
Tiếng nước chảy to hơn, nước đổ vào cái thau men
thì phải;
tiếng bọt sủi, nước tràn rồi. Chỗ này thỉnh
thoảng tôi hay rửa chân cho
mát khi đi qua đây. Tiếng nước tắt. Tiếng người
đàn bà:
“Đun nước lên con!”
“Từ ngày ra Bắc đến bây giờ anh
đã làm gì?” Cái
ông tên Lai mặt
đỏ láng, đội mũ cát xanh gần như đen kiểu Trung
Quốc, lắc người trên
ghế. Khi cái ghế dừng lại, ông ta chồm người ra
phía trước, nói như
thế. Hai con mắt ngó thẳng vào tôi. Hết
câu ông ta dựa ngửa người lại,
mười ngón tay gõ hết lên mặt
bàn, điếu Điện Biên bao bạc ngậm trên
miệng, đầu hất ra phía trước, cằm đụng vào
cái cổ áo lông màu
đà. Hai
hàm răng ông Lai đó mở ra:
“Nói đi và nói
thật!”
Có tiếng kẹt bi-kê. Tôi rút
một điếu thuốc, rối vuốt điếu thuốc
cho thẳng. Tôi đưa điếu thuốc lên môi,
hai bàn tay đan vào nhau trên
mặt bàn. Tôi không hút.
Tôi khịt mũi, rồi lấy điếu thuốc ra khỏi miệng
và nhổ từng sợi thuốc dính trên
môi ra. Tôi hút thuốc.
Hôm đó là sáng 25
tháng 1 năm 1972 tại Viện điều dưỡng K65 ở Thị xã
Sơn Tây.
Đêm hôm qua, khoảng bảy tám giờ,
tôi thấy
có một người đàn ông
trên 50 tuổi vào phòng tôi
ngồi nói
chuyện với ông già người Phú
Yên
tên Giác ở cùng phòng với
tôi. Trong
khi nói chuyện, thỉnh thoảng ông
người lạ này giả đò bâng quơ
nhìn tôi.
Lúc đó tôi ngồi ở phòng
trong.
Tôi không để ý đến thái độ
của ông ta.
Tôi đang đọc và viết.
Bảy giờ sáng hôm sau, ngày 25-1-1972,
ông trưởng khối bệnh nhân đến gặp tôi
nói:
“Anh qua gác hai nhà C, có
mấy anh ở trên gặp.”
Thôi, tôi bị rồi. Tôi đi dọc
dãy hành lang. Những con mắt,
những con mắt ngó tôi không như thường.
Họ biết hết tôi rồi. Họ đã cùng
nhau họp hành, sắp xếp hết cho tôi rồi.
Tôi bị dòm ngó như một con quỷ
sứ bắt đầu từ dãy hành lang này, từ
ngày này.
Gần một tháng nay tôi đã
đoán biết mọi sự rồi sẽ xảy ra cho
tôi. Nhưng tôi không biết người ta sẽ xử
tôi như thế nào và bằng cách
nào. Cách đây một tháng,
bà bác sĩ chủ nhiệm khoa tôi ở,
tên Quy, đến
báo cho tôi biết:
“Sáng mai anh về E2 kiểm tra sức khỏe
và nhất là để chụp phim
lại cái dạ dày. Anh nhớ mang theo quần
áo để dùng trong một tuần.”
E2 là bệnh viện dành cho cán bộ miền
Nam ra Bắc chữa bệnh.
Bệnh viện này ở làng Cổ Nhuế cách
trường đảng Nguyễn Ái Quốc độ ba trăm
mét. Về E2 kiểm tra sức khỏe là phải ở lại
đó một tuần. Tôi hoàn toàn
không biết đây là sự sắp xếp của Ban bảo
vệ Đảng (thuộc Ban Thống nhất
của Chính Phủ) (?) và Cục đón tiếp
cán bộ B. (Tất cả các cơ quan bí mật
hay công khai này tôi không
biết rõ, chỉ gọi chung là Ban Thống nhất
hoặc Cục đón tiếp).
Tôi lại cho là tôi gặp may,
vì đây là một dịp tôi ở gần
Hà
Nội để đi chơi với Nguyễn Hữu Ngô, Hồ Tính
Tình (bí danh là Hồ Thanh)
và những anh em bạn bè khác. Hơn nữa,
thường sau một thời gian chữa
bệnh, người nào được kiểm tra lại sức khỏe tức là
sắp sửa chuẩn bị vào
Nam lại. Lúc này tôi rất muốn trở lại
chiến trường. Tôi vui. Những ngày
ở E2 thỉnh thoảng tôi về Hà Nội ở chơi với bạn
bè. Thời gian này tôi
viết tiếp cho xong bài thơ dài trên 500
câu: “Bản Thánh ca của một
người dựa cột đình liếm lá
bánh”. Một sáng thứ bảy tôi
thanh toán tiền
ăn của tôi những ngày ở E2 (tất cả đều
trên giấy tờ). Sáng Chủ nhật tôi
qua K10 ở Gia Lâm thăm ông Sự. Ông Sự
là Phó ban tuyên huấn Thành
ủy
Huế ra Bắc chữa bệnh và học tập. Lúc
đó, ông ta đang ở K10 bồi dưỡng
sức khỏe chuẩn bị vào Nam. Tôi ngỏ ý
với ông Sự là tôi muốn trở lại
chiến trường và nhờ ông tạo điều kiện cho
tôi vào càng sớm càng tốt.
Khác với những lần gặp trước, bao giờ ông Sự cũng
hỏi tôi đã khỏe chưa,
vết thương ở đầu gối và cái bụng thế
nào, có đủ sức leo dốc không. Lần
này ông Sự chỉ ậm à ậm ừ với
tôi. Tôi không để ý đến
thái độ lạnh nhạt
của ông đối với tôi. Tôi hỏi
ông:
“Bao giờ anh vào lại?”
Ông Sự loay hoay xếp dọn, lục lọi, tìm kiếm những
thứ vặt vãnh
giấy má gì đó giữa giường, trong ba
lô với những cử chỉ, động tác của
chân tay quờ quạng lúng túng, thừa một
cách vô ích, thỉnh thoảng lại
khịt mũi vài cái. Ông nói
không nhìn tôi:
“Cũng chưa biết nữa.”
Rồi xoay qua xoay lại Ông nói lảng một
mình:
“Chà không biết để mô
hè?”
Tôi đi gặp một vài người quen ở các
phòng
gần đó. Lúc tôi quay
lại thì ông Sự đã đi đâu rồi.
Tôi
tìm một miếng giấy loại để đi cầu.
Tôi thấy ở dưới đất phía trên đầu giường
của
ông Sự một tờ giấy vo tròn
lại. Tôi nhặt lên. Vào ngồi trong cầu,
tôi
trăn tờ giấy ra, hoàn toàn
tình cờ. Chữ của thằng Trần Nguyên Vấn, bằng
bút bi
bấm màu xanh viết
trên giấy kẻ ngang, tờ ét, xếp đôi.
Hèn
gì ông Sự đối xử với mình lạnh
nhạt và đờ đẫn. Lâu nay tôi
có hơi nghi thằng
Nguyễn Viết Trác (chứ
không nghĩ nó có thể phản
tôi), tôi
nghi ngờ về lòng thành thật và
thẳng thắn của hắn. Khi nói chuyện với tôi, nhất
là
về chuyện chính
trị, về tình trạng xã hội ở miền Bắc, về chiến
tranh, về
Đảng… hắn bao
giờ cũng chỉ ậm ờ và làm ra vẻ lắng nghe,
và
không bao giờ tỏ vẻ phản
đối hay đồng ý. Còn thằng Trần Nguyên
Vấn, hắn ở
với tôi cùng một cơ
quan trong rừng. Lúc ra Hà Nội cho đến
lúc
này, hình như tôi có gặp một
hai lần gì đó. Nó không biết
gì về
tôi lúc ở miền Bắc hết. Chỉ có thằng
Trác. Tôi giật mình và đắng
cuống cổ.
Tôi hoàn toàn không ngờ
và cho
đến hôm nay, ngày 25 tháng 1 năm 1972,
người ta đem
xử tôi, tôi cũng
không nghĩ là người ta đã xử sự với
tôi như
thế. Không phải là công
việc của họ đã được tổ chức và âm mưu
một
cách bí mật, rất tài nên
tôi
không biết được. Thực sự lúc này
đây,
lúc tôi đang ngồi trong cầu tiêu
của K10 này, tôi đã dự đoán
được một
đôi điều sẽ xảy đến cho tôi và
tôi
đã biết người muốn “lật tẩy phản động, chống
Đảng”
của tôi là ai. Tôi
cho rằng tôi không có gì phải
sợ về những
điều tôi viết trong nhật ký
và trong những bài thơ của tôi
lúc tôi
ở miền Bắc. Trong thư gửi cho
ông Sự mà tình cờ tôi tưởng
là giấy
loại đó và lúc này
tôi ngồi trong
nhà cầu đang đọc đây, thằng Vấn báo cho
ông
Sự biết công việc của hắn
và thằng Trác, đại ý thế
này: Cả hai đứa
đã làm việc với Ban bảo vệ
Đảng và Cục đón tiếp cán bộ B về
tôi
và hỏi ý kiến ông Sự với tư
cách
là thủ trưởng của tôi về cách xử
lý trường
hợp của tôi như thế nào. Cứ
như lời lẽ trong thư thì thằng Vấn không
nói trắng
ra nhưng cố giành
phần lớn công cho hắn về việc “phát hiện
tôi
là một tên phản động chống
Đảng”. Khoảng năm 1978, 1979 gì đó;
Võ
Quê có nói với tôi
“ông
Trác
luôn vỗ ngực cho là mình đã
lập được một
công lớn là phát hiện Trần
Vàng Sao là một tên phản
động”. Võ Đại
Ngẫu kể hồi 1976 hắn gặp thằng
Vấn ở Hà Nội, thằng Vấn cũng vỗ ngực giành
công kịp
thời tố cáo tôi là
một tên phản động chống Đảng.
Tôi vò lá thư của thằng Vấn lại như cũ
và xé bao thuốc thay
vào cho việc riêng của tôi trong
nhà cầu. Tôi bỏ lại lá thư
vào chỗ cũ
dưới thềm nhà trên đầu giường của ông
Sự. Tôi nghĩ một cách dại rằng
như thế làm như tôi không biết
gì về âm mưu của thằng Trác, thằng Vấn
với ông Sự. Tiếc là tôi đã
không giữ được lá thư đó. Nhưng nếu
tôi có
giữ thì sau này cũng bị tịch thu.
Tôi chào ông Sự rồi về Hà
Nội. Gặp Nguyễn Hữu Ngô, Hồ Tính
Tình tôi chỉ nói: Sáng thứ
hai tao lên Sơn Tây. Loanh quanh luẩn quẩn
trong Hà Nội với anh em bè bạn, mượn một
vài cuốn sách, mua một vài tờ
báo rồi về bệnh viện E2. Tôi hoàn
toàn không biết kể từ lúc
này tôi
đang bị theo dõi sát nút.
Tôi đi đâu, đến nhà ai, gặp ai ở
Hà Nội người
ta đều biết.
Sáng thứ hai có xe, tôi lên
Sơn Tây.
Tôi sống trong một tâm
trạng bồn chồn, lo lắng, không yên. Trước sau
tôi
cũng bị. Thằng Trác
cố tránh tôi. Tôi hoàn
toàn
không biết là thời gian tôi ở bệnh viện
E2,
va ly của tôi đã bị lục soát.
Và thằng
Trác chủ mưu trong việc này.
(Lúc tôi về E2 tôi gửi chìa
khóa va ly
cho hắn). Vài ngày sau đó
tôi
tìm cách đốt mấy tập nhật ký của
tôi rất
dày, khoảng 4, 5 tập vở một
trăm trang viết hai mặt. Việc đốt tập nhật ký rất
khó.
Tôi đã đốt và
làm như việc đốt giấy loại. Có khi tôi
đốt trước
mặt mọi người, nhưng
không ai để ý. Có khi nhân
chuyện làm
vệ sinh đốt rác, tôi xé nhỏ
các
tập vở lấp rác lên rồi đốt. Tôi
làm như một
kẻ không có việc chi làm
lấy chuyện đốt rác nhìn lửa cháy
khói bay
cho vui.
Và bây giờ đây tôi đang bị tra
tấn trong cái phòng của căn nhà C
này.
“Từ ngày ra Bắc đến nay anh đã
làm gì? Hãy khai đi, khai cho
thật.”
Bây giờ cái ông tên Lai mặt đỏ
láng
này không nói “hãy
nói”
nữa mà “hãy khai đi”.
Những người chung quanh tôi mặt mày lạnh tanh.
Tôi có cảm tưởng họ bất động. Tôi
nói:
“Tôi không biết các anh muốn
tôi khai cái gì?”
Cái ông Lai đó ngó căm
vào tôi:
“Anh khai hết tất cả những việc mà anh
đã làm từ ngày ra Bắc đến
nay.”
“Nhưng mà việc gì mới khai được chứ?
Tại sao
tôi lại phải khai? Tôi không biết
các anh muốn
gì?”
Những người chung quanh tôi động đậy. Có người cầm
tách nước
lên uống; có người đổi thế ngồi; có
người phịp phịp trong miệng. Ông
tên Lai trề môi dưới, gật gật cái đầu,
dim mắt nhìn tôi. Ông ta hừ
trong miệng một tiếng:
“Anh đừng có giả vờ. Anh tưởng anh qua mặt được
chúng tôi hả? Chúng tôi biết
hết anh rồi. Anh
thành thật đi cho rồi.”
Đến lúc này thành thật mà
nói
tôi không hiểu họ muốn gì ở
tôi. Tôi
nói:
“Tôi ra Bắc làm gì
các anh đều đã biết.”
Có tiếng “hử” và tiếng khịt
mũi.
“Này, tôi nói cho anh biết.
Anh không giấu được chúng tôi
đâu.
Tất cả những việc làm của anh chúng tôi
đã biết và có đầy đủ tài
liệu
làm bằng cớ. Anh thành khẩn sẽ được khoan
hồng.” Cũng cái ông tên Lai
đó nói.
Đã đến nước này, tôi bực lắm rồi:
“Tôi không hiểu các anh muốn
tôi
nói gì. Tôi ra Bắc nằm ở E2,
lên E1 và
bây giờ ở K65. Những việc đó các anh
đã biết
rồi.”
“Anh ngoan cố, không chịu thành
khẩn.”
Ông Lai đó hất hàm cho một người trong
bọn.
Ông này khoảng dưới bốn mươi tuổi. Ông
ta thủng
thẳng hỏi tôi:
“Anh Đính, chúng tôi gặp anh
hôm nay là tạo cho anh một cơ hội
để anh sớm thức tỉnh, đừng đi sâu thêm nữa
vào con đường tội lỗi của
anh. Anh nên thành thật khai hết những việc
làm của anh.”
Ông ta nghỉ một lát, rồi nói tiếp:
“Khi ra Bắc, ai giao nhiệm vụ cho anh? Nhiệm vụ đó
là nhiệm vụ
gì? Anh đã gặp ai, ở đâu, bao giờ? Anh
đã tổ chức họ như thế nào? Công
việc của anh hiện nay đã tiến hành đến
đâu? Anh phải nói thật, nói hết,
không được giấu giếm. Sinh mạng của anh là do nơi
sự thành khẩn của anh
quyết định đó.”
Đợi cho ông này nói xong, một
ông khác
một tay dựa lên thành ghế, một tay đặt
trên
bàn, nghiêng người về phía
tôi, nó
thêm vào:
“Chúng tôi biết hết những việc anh
làm, nhưng chúng tôi muốn tự
anh nói ra hết. Vì chỉ có như thế, anh
mới hưởng được lượng khoan hồng
của Đảng.”
A, thì ra như thế. Bây giờ thì
tôi hiểu ra rồi, họ nói tôi
là
CIA. Như thế tôi chẳng cần gì phải đối
phó gì với họ về điều này nữa.
Tôi dựa ngửa người ra và hút thuốc.
Thái độ của tôi làm cho họ bực tức.
Tôi nói:
“Tôi đau dạ dày và bị thương.
Tôi được Thành ủy Huế cho ra Bắc chữa
bệnh.”
Ông tên Lai đó chồm người ra
phía trước, cùi tay chống lên
bàn,
rung rung ngón tay trỏ chỉ vào tôi, lần
này ông ta nói to, dằn từng
tiếng một:
“Đến lúc này mà anh vẫn
còn ngoan cố. Được, chúng tôi
có cách
để cho anh phải khai thật, nhưng chúng tôi vẫn
muốn chính anh thành
thật khai báo để cho anh có cơ hội được hưởng
khoan hồng của Đảng. Anh
nghe chưa?”
“Tôi có gì mà
ngoan cố. Tôi được
Thành ủy Huế cho ra Bắc chữa bệnh. Tôi
có
làm gì đâu mà các
anh bảo tôi
phải khai báo.”
“Thôi được. Anh không nói,
nhưng rồi anh cũng phải nói.”
Cái ông độ dưới bốn mươi tuổi mở cặp ra,
cái cặp da rất to màu
đen, loại cặp đựng sách vở của học trò (loại cặp
bấy giờ khó thấy có ở
miền Bắc). Bây giờ tôi mới để ý người
nào trong bọn họ cũng có cặp xách
riêng. Một hai người có cặp to, còn
phần đông là xách. Ông
này lấy
trong cặp ra một cái cặp bìa cứng dày
to đựng toàn giấy. Ông ta lật lật
giấy tờ. Trong lúc đó, ông
tên Lai vẫn cái giọng dữ tợn hỏi tôi:
“Anh đã viết gì trong nhật
ký?”
Hỏi chi lạ. Tôi nói:
“Tôi không thể nhớ hết được.”
“Được rồi, anh phải nhớ.”
Cái ông dưới bốn mươi tuổi đó để hai
tay lên cặp giấy mở ra trước mặt, nói:
“Anh Đính, tất nhiên đã gọi
anh đến đây để làm việc, chúng
tôi
phải có đầy đủ hồ sơ và bằng chứng về anh. Anh
đừng tưởng là tôi nói
thế để dọa anh đâu, cũng không phải nói
thế để lừa anh. Chúng tôi chỉ
muốn cứu anh. Một người có học như anh tôi chắc
anh hiểu được những hậu
quả của việc làm của mình lâu
nay.”
Tôi uống nước và ngó ra
ngoài cửa sổ. Trời khô và lạnh.
Không
khí bắt đầu căng thẳng. Trên mặt của họ
đã lộ vẻ căm tức. Họ không còn
như bất động nữa. Tiếng giày dép kéo
trên sàn nhà; tiếng áo quần
xát
trên ghế; chân ghế đụng chân
bàn. Bọn họ xoay người, nghiêng, ngửa, đổi
thế ngồi, chống tay lên cằm, cắn môi, cắn
ngón tay, đẩy gương sát vào
mắt, đẩy tách nước ra xa, bẻ ngón tay.
Ông tên Lai, chắc ông ta là
trưởng đoàn
của đoàn người tra khảo tôi, nói,
nói nhanh:
“Tôi biết hiện nay anh đang nghĩ gì về
chúng tôi. Tôi biết
những gì đang chứa trong đầu óc của anh.
Tôi nói thẳng anh là một tên
phản động, chống Đảng. Anh căm thù chúng
tôi, căm thù chủ nghĩa xã hội,
căm thù chế độ này. Anh đang âm mưu lật
đổ chế độ này. Có phải chính
anh đã kêu gọi biểu tình, viết
báo chữ to lật đổ chế độ này hay không?
Anh sợ? Anh chối à? Nói đi, nói đi,
có phải không?”
Ông ta chồm người ra trước dằn giọng:
“Đây, đây này, anh
đòi bắn, đòi treo cổ tất cả bọn chúng
nó; đã
đến lúc phải biểu tình, viết báo chữ
to tố cáo tội ác của chúng
nó.”
Ông ta dừng lại, bỏ kính xuống bàn nghe
cạch:
“Có phải anh đã viết trong nhật
ký như thế không?”
“Tôi không nhớ.”
“Anh viết mà anh lại không nhớ
à?”
“Làm sao tôi nhớ hết những gì
tôi viết.”
Cái ông trẻ dưới bốn mươi tuổi đứng dậy, xoay
người ra phía sau
lấy cái cặp da để đứng dưới sàn nhà.
Cái cặp đã mở sẵn. Ông ta xây
lưng
về phía tôi. Ông rút ra một
tờ giấy đưa ra trước mặt tôi:
“Cái gì đây? Có
phải chữ của anh không?”
“Phải?”
Đó là bức ảnh chụp một trang nhật ký
của tôi, khổ bằng tờ giấy
kẻ ngang. Đến lúc này tôi mới biết
là toàn bộ nhật ký của tôi
đã bị
chụp ảnh trong thời gian tôi về bệnh viện E2 để kiểm tra sức
khỏe, và
bây giờ tôi mới biết việc tôi đi E2 kiểm
tra sức khỏe là một sự xếp đặt
của Ban Thống nhất Trung ương, Cục đón tiếp cán
bộ B và Cục 78.
Ông Lai nói:
“Anh hết chối chưa?’’
Mọi người ở đây đều đã biết trước sự việc sẽ diễn
tiến ra
sao rồi. Tối hôm qua họ đã họp với nhau
bàn kế
hoạch.
“Tại sao anh lại đòi bắn, đòi treo cổ?
Bắn ai, treo cổ ai? Nói đi!”
Tôi nói:
“Tôi đòi bắn tất cả những kẻ
nào, người nào đã ăn đường, sữa,
tã lót của trẻ con, ăn hòm, vải liệm
của người chết, những kẻ đã đẩy
con dân vào chiến trường còn con
cháu họ thì qua Liên Xô,
Bulgari,
Hungari…”
“Anh đòi bắn cả Trung ương Đảng kia
mà.”
“Nếu trong Trung ương Đảng, trong Chính phủ
có
người nào đã ăn như thế, theo tôi, đều
đem bắn được
hết.”
“Anh lại còn kêu gọi biểu
tình?”
“Tôi đâu có kêu gọi
ai. Tôi
nói là đã đến lúc phải
làm như
thế.”
“Vì sao lại viết báo chữ to?”
“Viết báo chữ to để mọi người đều biết.”
“Mọi người là ai?”
“Nhân dân.”
“Nhân dân, hừ”, một
ông chỉ vào
mặt tôi, “nhân dân! Anh
làm gì
có nhân dân. Nhân
dân theo Đảng
làm cách mạng, đổ xương, đổ máu để
có
được như ngày nay. Nhân dân của anh
là
nhân dân kiểu Mỹ Ngụy. Anh là kẻ
thù của nhân dân thì
có.”
Giọng ông ta mỗi lúc một to, mỗi lúc
mỗi gấp.
“Anh là một tên gian dối. Anh khai
lý lịch không thật. Anh bảo
anh thuộc tầng lớp dân nghèo thành thị.
Anh tưởng anh qua mặt được tổ
chức à? Dân nghèo thành thị
dưới chế độ Mỹ Ngụy mà học hành được như
anh à, mà lại lên được đại học như anh
à? Không phải là tư sản thì
gia
đình anh cũng thuộc tầng lớp tay sai Mỹ Ngụy.
Đúng là Mỹ Ngụy đã đào
tạo anh không uổng. Anh chui rúc vào tổ
chức cách mạng cũng khá sâu,
anh Đính.”
Ông ta dừng lại. Một vài người trong
đám người này gật gật
đầu tán thưởng ý kiến của ông ta. Một
vài người ghé đầu vào nhau to
nhỏ. Ông ta nói tiếp vừa nói vừa
nhìn xuống cuốn sổ:
“Theo tôi, tất cả những tư tưởng phản động của anh
trong nhật
ký, trong thơ không phải chỉ là lẻ tẻ,
ngây thơ, không phải là do nhận
thức bị hạn chế. Tất cả đều có hệ thống, đều nằm trong một
hệ thống, từ
văn chương đến triết học, chế độ xã hội chủ nghĩa, Quốc hội,
chuyên
chính vô sản, sự lãnh đạo của Đảng,
các tổ chức quần chúng, hạn chế
sinh đẻ, sinh hoạt xã hội, chiến tranh, các đồng
chí lãnh tụ, thậm chí
cái áo, cái quần, lon sữa miếng đường,
rác rưởi đều có trong nhật ký
của anh, đều bị anh xuyên tạc, nói xấu. Anh xem
cuộc kháng chiến chống
Mỹ của nhân dân ta hiện nay là
máu, là chết chóc. Anh không
phân biệt
được chiến tranh chính nghĩa với chiến tranh xâm
lược của bọn đế quốc.
Anh lên án tất cả mọi cuộc chiến tranh, cho chiến
tranh là ghê tởm.’’
Cái ông dưới 40 tuổi lại chìa ra một
bức ảnh:
“Có phải như thế
không?’’
Đó là bức ảnh chụp một trang nhật ký
của tôi, trong đó có đoạn
tôi nói về chiến tranh. Tôi
không nhớ nguyên văn, đại ý
tôi cho rằng
tất cả mọi cuộc chiến tranh đều là thảm họa, đều
là máu và xác chết.
Tôi ghê tởm và sợ chiến tranh.
Hình như tôi có dẫn lời của một người
nào đó nói về trận đánh ở
Nam Lào: “Đó là một chiến
thắng vĩ đại, nhưng
hết sức đau lòng, vì có quá
nhiều người chết mà đều là người Việt
Nam”.
“Vậy là anh đã không
phân biệt địch và ta, tức là anh đứng
về
phía kẻ thù. Anh ghê tởm cuộc chiến
tranh này, tức là anh chấp nhận
cuộc chiến tranh xâm lược, anh cho đế quốc Mỹ và
bè lũ tay sai là chính
nghĩa.’’
Một ông khoảng 57, 58 tuổi mặc áo đại
cán màu nâu, ngồi đối
diện với tôi ở cuối hai cái bàn
đâu lại, từ nãy giờ không
nói, bây giờ
vươn hai tay ra trước và nhìn vào xấp
giấy để trên bàn, nói:
“Đây này, anh viết bằng tiếng
Pháp, đại ý: ‘Chiến tranh
là
thế đấy con hãy nhìn và nhớ lấy,
vâng, chiến tranh là thế đấy, là chết
chóc, hận thù, hủy diệt, là
làm cho con người quên tất cả những
tình
cảm nhân loại’. Hừ,
nhân loại, nhân dân! Nhân loại,
nhân dân của
anh là nhân loại, nhân dân của
bọn tư sản, đế quốc. Chủ nghĩa của bọn
thực dân đã làm cho anh trở
nên ngu đần.’’
Tôi nhớ tôi có ghi lại trong nhật
ký lần
tôi, Nguyễn Hữu Ngô,
Hồ Tính Tình đi thăm ông Nguyễn
Đóa,
ông Tôn Thất Dương Tiềm và bà
Nguyễn Đình Chi ở phố Nguyễn Du, Hà Nội.
Lúc
đó những người này ở trong
Mặt trận Liên minh thành phố Huế ra Hà
Nội cư
trú. Ông Đóa là thầy dạy
Pháp văn, ông Tiềm là thầy dạy quốc văn
của
tôi năm đệ tứ ở trường Bồ
Đề Huế. Tôi nói với thầy Đóa:
“Thưa thầy, con
nhớ mãi câu mà thầy dạy
bọn con năm học đệ tứ ở Bồ Đề”. Tôi đọc
câu
nói về chiến tranh đó bằng
tiếng Pháp. Thầy Đóa xua tay:
“Thôi,
thôi…..”. Tôi biết
lúc đó, trong
hoàn cảnh đó thầy ngại.
Cái ông trẻ dưới 40 này (thôi
cứ tạm gọi ông ta tên Thanh) nói tiếp
theo liền:
“Rõ ràng đây anh
Đính này. Anh viết: ‘Đâm
mũi chông vào ngực kẻ thù,
tôi tự do và trở thành thi sĩ’’’.
Ông ta đọc thêm một số câu
trích trong
bài “Những con đường đã
đi qua và những con đường sẽ đi tới” của
tôi viết
khoảng đầu năm 1968
lúc còn ở trong rừng, trong đó
có những
câu nói về những bàn tay rướm
máu vì kéo thép gai
(tôi không
nhớ rõ nguyên văn). Hình như
ông ta có
đọc câu: “hàng
cờ bay trên đống thịt người”
thì phải.
Ông mặc áo đại cán màu
nâu giải thích thêm:
“Kẻ thù? Hừ! Anh đã để lộ rõ
con người thật
của anh rồi. Kẻ thù
ở đây, thưa các đồng chí, là
kẻ thù
của anh ta, là cách mạng, là
chúng
ta ngồi ở đây. Anh ta đâm vào
cách mạng,
vào Đảng để anh được tự do và
trở thành nhà thơ. Kinh thật! Còn
những người
kéo thép gai tay rướm
máu, đó là anh muốn ám chỉ
các chiến
sĩ giải phóng phải sống cuộc sống
đọa đày… chớ gì
nữa.’’
Tôi không cãi gì
thêm mệt. Khoảng tháng 11-1968, tôi
có làm
bài thơ tưởng niệm Trần Quang Long (hy sinh tháng
10-1968 tại chiến
trường Tây Ninh) và dán trên
tờ báo tường của Chi đoàn Thanh niên
thuộc
cơ quan Thanh vận Thành Uỷ Huế (C90). Tôi nhớ mấy
câu của Trần Quang
Long trong bài “Thưa mẹ trái
tim”:
Con sẽ
vót nhọn thơ thành chông
Xuyên
vào gan lũ giặc
………
Và tôi viết:
Đâm
mũi chông vào ngực kẻ thù
tôi
tự do
và
trở thành thi sĩ
Tôi chỉ nói:
“Chỉ có ta mới dùng chông chứ
địch không dùng chông. Còn
những
bàn tay kéo thép gai rướm
máu là tôi nói đến những
người sống trong
vùng địch bị bắt đi xây đồn đắp
lũy.’’
Cái ông 57, 58 tuổi mặc dại cán
màu nâu, xoay sang hỏi tôi:
“Trong nhật ký anh có viết mấy chữ tắt
C. C., nghĩa là gì?’’
“Comité Central.’’
“Vì sao anh lại viết tắt mà
không viết thẳng ra là Trung ương
Đảng?’’
“Đó là thói quen ghi
chép của tôi. Tôi viết cho
tôi.’’
“Anh cố ý che mắt những người nào
đó
tình cờ đọc nhật ký của anh chứ gì
nữa? Đây,
anh viết…’’
Ông ta chìa cho tôi một tấm ảnh
khác.
“Một câu tiếng Pháp có nghĩa
như thế này: “Cách
mạng cần lao muôn năm!”
Anh có giấu ý đồ của anh ở đâu cho
được. Anh vẫn
nuôi mộng Bắc tiến của bọn Cần lao nhân vị
Ngô
Đình Diệm.’’
Tôi cấm bức ảnh đọc và nói:
“Không phải như thế. Tôi viết thế
này: “Vive la
révolution prolétarienne!”,
nghĩa là “cách mạng vô sản
muôn
năm!”. Đó không phải tôi
nói, câu
đó là của Lenine.’’
Tôi biết đây là một sự cố
tình xuyên tạc của ông ta. Ông
ta có
lẽ là người duy nhất trong đoàn khảo tra
tôi biết tiếng Pháp. Ông ta
là
người tra vấn tôi về những đoạn ghi chép,
trích dẫn của tôi bằng tiếng
Pháp. Nhưng từ đó, người ta vẫn cứ buộc
tôi là một tên
CIA-Cần-lao-nhân-vị-tay-sai-Mỹ-Ngụy, “muốn phục hồi
một chế độ đã từng
lê máy chém khắp miền Nam
sát hại nhân dân, tiêu diệt
cách mạng, một
chế độ mà ngay nhân dân miền Nam
đã đạp đổ từ năm 1963”.
Ông này nói tiếp, ông coi như
không có những lời của tôi
nói vừa rồi.
“Cho nên tôi nói thẳng cho anh
biết rằng trong máu anh đã có
sẵn máu phản động chống Cộng rồi. Những tư tưởng suy nghĩ
như thế sẽ
dẫn anh đến hành động chống đối, làm
loạn.’’
Rồi ông ta chuyển sang vấn đề khác:
“Trường Nguyễn Ái Quốc là một trường
Đảng nổi tiếng khắp thế
giới mà anh cũng không trừ ra. Anh cho trường
Nguyễn Ái Quốc chỉ đào
tạo những mẫu người trung thành với chế độ, với Đảng
mà không có đầu óc
suy nghĩ độc lập, thậm chí anh còn nói
là có những người mới học có lớp
bốn trên danh nghĩa, chữ viết còn sai
chính tả mà cũng học lớp trung
cấp, cao cấp Nguyễn Ái Quốc.’’
Trong nhật ký tôi có ghi lại lần Nguyễn
Hữu
Ngô, Hồ Tính Tình
và tôi gặp ông Phạm Như Cương với
ông Tịnh
và một bà nào đó
(hình như
tên Quỳ thì phải) tại Viện Triết học ở
Hà Nội.
Trong câu chuyện tôi có
nói đại ý: trường Nguyễn Ái Quốc
đã
đào tạo được những cán bộ trung
thành với đường lối và chủ trương của Đảng, nhưng
không đào tạo được
những con người có đầu óc phản tỉnh, suy nghĩ độc
lập,
nhất là về mặt
tư tưởng triết học. Hình như ít có
người (hay
là không có người) sau
khi học xong có thể viết được một bài ngắn về
triết học
Mác-Lênin, một
vài dòng về bản tuyên ngôn
Đảng Cộng
sản…
Nguyễn Hữu Ngô, Hồ Tính Tình
nói: “Những thứ mà các anh
gọi là
triết học đã dạy ở các trường Đảng chỉ
là một thứ triết học hành chính,
mà hết chữ cho nên phải dùng hai chữ
triết học đó…”.
Tôi có nói: “Theo
tôi, tinh thần triết
học trước hết là đối
thoại. Đối với triết học Mác-Lênin thì
không
có đối thoại. Vì chủ nghĩa
Mác-Lênin là vô địch,
là bách
chiến bách thắng, là muôn năm. Đối
thoại
ở đây là vô ích mà
còn
bị… tù nữa là khác. Bởi
vì
các anh hãy cất khẩu
súng trong hộc bàn đi khi nói chuyện
triết học,
văn chương với người
khác… Đối với các anh, chủ nghĩa
Mác-Lênin là đỉnh cao tuyệt vời nhất
của nhân loại, và xưa nay, chỉ có tư
tưởng, triết
học Mác-Lênin là
triết học chân chính, duy nhất vĩ đại. Thậm
chí,
trong các bài giảng,
sách vở của các anh, các anh
đã khinh bỉ
Hegel. Các anh cố tìm xem
trong nhân loại xưa nay, có ai có tư
tưởng duy vật
hay không. Và nếu có
ai, na ná như thế, hoặc các anh tự gán
ép
na ná như thế, và kết luận:
một thứ chủ nghĩa duy vật ngây thơ, tự
phát…
và những người đó, các anh
cho là… tiến bộ… còn
toàn thể
là duy tâm phản động…”.
Tôi nói, thằng Ngô nói, thằng
Tình nói… Ông Phạm Như Cương
(tôi không nhớ lúc đó
có phải ông ta là Viện trưởng Viện
triết học hay
không) vẫn để tay trên cuốn sách mở ra
làm như đang đọc nữa chừng: Les
Problèmes de la dialectique dans le Capital de Karl Marx
của Rosenthal (bản dịch từ tiếng Nga, cuốn này đã
có bản dịch tiếng
Việt). Sau này khi nghe tin tôi là một
tên phản động, ông ta nói:
“CIA
giỏi thật, cài anh ta vào sâu đến như
thế”.
© 2005 talawas
[1]Tôi
có được một bản do bạn bè cho mượn nhưng lại
là một bản không bìa, nên
không biết nhan đề của tập hồi ký là
gì. Đáng lẽ tôi phải nhờ tác
giả
xác minh, nhưng do không quen biết anh, lại đọc
thấy ở trang cuối trong
hồi ký của anh dòng sau đây:
“Tôi muốn yên ổn. Nhưng cho đến
bây giờ
tôi vẫn cứ bị nhòm ngó”,
nên rất ngại phải liên lạc với anh trong việc
này. Vì vậy (trong khi chờ đợi được bổ sung),
tôi tạm đặt cho cuốn hồi
ký của anh cái tên Hồi ức của
một người tù không bị giam vào ngục,
như anh đã viết về mình trong hồi ký
là
“trường hợp một thằng tù không bị giam
vào
ngục”.