Trần Vàng Sao
Tôi
bị bắt
(Nhớ lại những năm
tháng tôi bị bắt rồi được thả ra và
sống như tù) 10 kì
 |
Nhà thơ Trần
Vàng Sao
ảnh: Nguyễn Ngọc Giao |
Ông tên Lai nói tiếp:
“Đối
với anh ta chỉ có triết học duy tâm phản động của
bọn đế quốc
tư bản mới là triết học. Đúng anh ta
là một tên phản động nguy hiểm.
Đây, nhật ký của anh ta đây. Anh
đã nói gì về Quốc hội, về
Đảng… Anh ta
tỏ ra khinh bỉ giới tri thức miền Bắc, anh cho đó chỉ
là những kẻ nói
thuội, Đảng dạy gì nói nấy, không
có đầu óc suy nghĩ độc lập, sợ. Trí
thức, học giả được phân sách gì,
tài liệu gì để đọc là phân
theo tiêu
chuẩn thịt, đường, sữa. Người này tiêu chuẩn một
tháng một lạng thịt
thì chỉ được đọc sách này, người kia
năm lạng một cân thì đọc sách
này.
Anh nói gì mà vô học thế.
Nhưng người viết phê bình văn học…
thì chỉ
biết trích dẫn Nghị quyết, phê bình văn
học miền Nam thì cái gì cũng Mỹ
Ngụy hết. Đối với anh ta chỉ có bọn Nhân
văn-Giai phẩm phản động
chống Đảng mới là nhà văn thực
sự.’’
Tôi
nói:
“Tôi
nói điều này cho rõ. Còn
chữ viết của tôi đó. Trong nhật ký
tôi có nhắc lại một lần trong cuộc nói
chuyện với bạn bè ở Huế khoảng
1961, 1962 gì đó, một người bạn tôi
tên là Lê Văn Mỹ (tôi cầm bức
ảnh
chụp những trang nhật ký của tôi đưa ra trước mặt
họ), có nói: “Ở miền
Bắc của mi chỉ có nhóm Nhân
văn-Giai phẩm
là có tư cách của người cầm
bút” (Đại
ý như thế tôi không nhớ rõ
nguyên
văn).’’
Ông
Lai không để cho tôi nói nữa,
ông ta dằn dọng:
“Còn
văn chương chữ nghĩa của anh thì thế
nào?’’
Tôi
nói cho anh biết: Mỹ Ngụy đã nhồi nhét
vào
đầu óc anh những tư
tưởng phản động, chống đối. Nó làm cho anh trở
nên
mù quáng, phản động.
Bác Hồ, giọng ông ta chậm lại và đằm
thắm hết gắt
gỏng, Bác Hồ là một
vị lãnh tụ của nhân dân ta, của Đảng ta,
cả thế giới
đều kính phục,
ngay cả kẻ thù, bọn Mỹ Ngụy cũng phải kính phục.
Thế
mà anh, anh, ông
ta la to lên, chính anh đã
nói xấu
Bác. Đây này, đây
này, thơ anh
đây
này.
Ông
dưới 40 tuổi tên Thanh cầm một tờ giấy lên
nói:
“Trong
bài “Sân khấu II” anh ta
viết :
Một
tập sách giấy hồng
Ghi
lời thánh
Ông
thánh già đã chết
Bác
Hồ chứ còn ai nữa? Ở một chỗ khác, cũng trong
bài này:
A ha
tôi là một tên hề
Một
tên hề không có râu
Một
tên hề không có bánh
mì mà ăn
Anh
ta nói đến Bác Tôn Đức Thắng
đấy.”
Quay
sang tôi ông ta gắt với vẻ dọa nạt:
“Có
phải anh đã viết ra đó không? Anh căm
thù chế độ này, Anh nói
xấu Bác Hồ. Anh hết rồi. Bác mà anh
cũng nói như thế thì còn gì
nữa.
Giọng ông này trầm dần lại. Hình như
có một lúc những người xung quanh
tôi xúc động. Có một người Việt Nam
đã xúc phạm Bác Hồ. Bác Hồ
không ai
được đụng đến, không ai được nói xấu,
không ai được nói khác về
Bác
những gì Đảng đã cho phép.
Bác là vĩ đại, nên phải ngợi ca
và chỉ được
ngợi ca, mà có ngợi ca cũng chỉ được
phép trong khuôn phép của Đảng.
Chung
quanh tôi có những tiếng động lạo xạo, giấy, quần
áo, cặp da,
túi xách nhựa, giày dép,
chén uống nước, lạo xạo, lạo xạo. Mọi người
đều xúc động và nổi điên vì
tôi đã xúc phạm đến Bác
Hồ.”
Tôi
nói:
“Tôi
làm thơ, còn việc hiểu thơ tôi như thế
nào
đó là quyền của
người đọc. Tôi là tác giả,
tôi không
nói gì thêm (thật ra lúc
này
tôi
dám nói gì). Nhưng không
lý,
bác Tôn Đức Thắng lại không
có bánh
mì mà
ăn.”
Một
người khác lớn tiếng chỉ vào mặt tôi:
“Thế
ông thánh già là ai? Anh
ám chỉ Hồ Chủ Tịch chứ gì nữa? Hả, hả.”
Tôi
nói:
“Thánh
thần Phật thì nhiều, tôi chưa nghe ai gọi
Bác Hồ là thánh
cả, mà chỉ nghe nói Bác Hồ cũng chỉ
là một người như mọi người…”
“Ngoan
cố!
Ngoan cố! Anh đừng lấp lửng vô ích.
Chính trong
đoạn ghi
chép đây này.” Ông
ta chìa ra
cho tôi một bức ảnh. “Anh viết…
tên Lê
Duẩn, Phạm Văn Đồng, Trường Chinh… Các
lãnh tụ
đáng kính của Đảng ta,
của nhân dân ta mà anh gọi bằng
“tên”. Anh phản động thật. Hãy
nói đi
bọn địch cài anh vào tổ chức cách mạng
với nhiệm
vụ gì? Nói đi!”
Tôi
đã là kẻ đối địch với họ, họ coi tôi
là kẻ
thù và ngày mai sẽ là kẻ tử
thù.
Tôi
cầm tấm ảnh, nói:
“Tôi
viết thế này còn đây: “Hễ mỗi
lần những
nhà nghiên cứu, phê
bình văn học lúng túng không
tìm ra
lối thoát thì họ lại dẫn ra những
tên Lê Duẩn, Trường Chinh, Phạm Văn
Đồng… và
chỉ thị, nghị quyết của
Đảng ra làm bằng cớ và bùa
phép. Vì
không ai dám cãi
lại…”. Chữ tên
ở
đây có nghĩa là tên tuổi, chứ
không
phải như các anh hiểu…”
“Lấp
lửng.”
“Có
gì mà lấp lửng. Tôi viết cho
tôi kia
mà, có phải viết cho các anh đọc
đâu
mà lấp lửng.” Ông tên Lai gầm
mặt nhìn
tôi:
“Chúng
tôi không cần anh phải biện bạch, giải
thích gì hết. Vô ích.
Tất cả những điều anh viết ra đó đã
nói lên hết con người của anh là
thế nào rồi. Điều mà chúng
tôi muốn chính anh nói ra là
ai đã tổ chức
anh? Từ ngày ra miền Bắc anh đã làm
gì, liên hệ với ai, công việc
đã
tiến hành tới đâu? Anh đừng để chúng
tôi dẫn ra bằng cớ.”
Lúc
này tinh thần tôi căng thẳng. Đã
có dấu hiệu
của những cơn dạ
dày hành hạ. Nhưng tôi không
sợ gì
hết, thành thật mà nói như vậy.
Cái
thất sách của họ là nói tôi
là CIA.
Ông
Lai tiếp, giọng khi không có dịu bớt và
chậm lại:
“Anh
Đính, anh có thương mẹ anh
không?”
Mới
nghe nói như thế là tôi đã
lộn ruột lên rồi. Đồ mất dạy.
“Nếu
anh thương mẹ anh, chắc anh nghĩ rằng sẽ có ngày
anh về gặp
lại mẹ anh. Anh hãy khai thật đi, khai hết đi, chỉ
có như thế anh mới
hy vọng có cơ hội gặp lại mẹ anh.”
Thằng
Trác, cả thằng Vấn nữa, là những thằng bẩn thỉu,
vô
lương,
mất dạy. Tôi thường nói chuyện với
chúng về mẹ
tôi, và chính trong nhật
ký tôi viết rất nhiều về mẹ tôi. Đối với
tôi,
trên đời này tôi chỉ còn
có mẹ tôi. Cả hai thằng này
đã mách
nước cho bọn này cách tra khảo tôi.
Tôi chợt nghĩ, nếu lúc này mẹ
tôi ở miền Bắc,
chắc bọn người này sẽ bảo
tôi: “Hãy khai thật đi, không
thôi tao
bắn mẹ mày”. Những người đang
ngồi bao vây tôi ở đây không
thể hiểu câu
hỏi: “Anh có thương mẹ anh
không?” đã làm cho
tôi khinh bỉ
và ghê tởm họ, và đã
làm cho
tôi bình
tĩnh hơn, mặc dù lúc đó cái
dạ dày
của tôi đang lên cơn. Hạ sách
tàn tệ
đó của họ đã đặt tôi vào thế
đối thủ, kẻ
thù với họ.
“Thế
các anh có thương cha mẹ của các anh
không
mà các anh lại hỏi tôi câu
đó?”
Tôi
nhìn từng mặt người một, không phải để ghi nhớ
vì cho đến bây
giờ tôi có nhớ ai đâu, mà,
đối với tôi tất cả bọn họ cũng chỉ là một;
cũng không phải để dò xem họ sẽ xử tôi
như thế nào, vì làm sao tôi
biết
được những âm mưu của họ. Tôi nhìn họ để
nói với họ rằng đến nước này
các người muốn làm chi tôi
thì làm, tôi trơ ra rồi. Họ tức tối. Họ
cúi
đầu vào nhau thì thầm. Một hai người
lánh ra ngoài hội ý, rồi đi
vào
gật gật cái đầu. Những cảnh đó cứ lập đi lập lại
mãi suốt thời gian họ
tra khảo tôi.
Tôi
không còn nhớ rõ những diễn biến của
cuộc khảo tra này nữa. Hai
mươi năm rồi. Đây là một cuộc khảo tra, ở
đây tôi không được xem như
một người đối thoại. Kể cả tư cách một bị cáo
trong một phiên tòa, tôi
cũng không có. Tôi là kẻ phản
động thù địch, một tên chống Đảng, chống
chế độ, xúc phạm lãnh tụ. Tất cả mọi người đều
có quyền xỉ vả tôi và
coi tôi như một con chó ghẻ tởm lợm. Một
ông ở trong cuộc khảo tra này
đã nói giữa chừng cuộc: “Anh đừng tưởng
anh ngồi đây với tư cách của
người tham dự một buổi họp. Anh phải hiểu như thế để ăn nói
cho đàng
hoàng”.
Tôi
nhớ
hình như đã gần 11 giờ 30. Ông Lai đứng
dậy đi ra
cửa, chỉ tay vào mặt tôi nói:
“Bây
giờ anh về phòng, mang hết lên đây tất
cả va ly, quần áo, sách
vở, tư trang, tất cả những gì mà anh
có, mang lên đây hết. Nhờ đồng
chí
(……) và đồng chí
(…..) theo anh Đính kiểm tra.”
Tôi
xuống
thang gác, mệt mỏi, chán nản. Dạ dày
tôi
lên từng cơn. Đã
đến giờ ăn, nhiều người đang cầm chén đũa đi xuống
nhà
ăn. Người ta
nhìn tôi. Tôi đoán họ
đã biết hết
những gì đã xảy ra trên gác
khi nhà
C. Những con mắt họ nhìn tôi không
bình
thường nữa.
Tôi
sắp xếp đồ đạc vào va ly. Sách tôi bỏ
vào cái thùng
các-tông.
Hai ông đi theo kiểm tra lật hết mùng mền, giường
chiếu, rũ từng cái
xem tôi có giấu tài liệu gì
không. Một vài tờ giấy loại lót
trên vạt
giường, mảnh báo cũ… họ đều lấy hết. Bức
chân dung Karl Marx tôi vẽ
trên giấy khổ rộng bằng mực Cửu Long xanh đen họ cũng giật
xuống. Họ mở
cả cánh cửa ra vào giữa hai phòng mở
khép sát tường, lục mắt vào.
Tôi
mang sách vở đồ đạc đi. Tôi phải đi hai chuyến,
qua về, hai ông đó cứ
lẽo đẽo theo. Giữa đường có rớt một vài thứ lặt
vặt, tôi để va ly
xuống, lượm lên.
Tôi
bước
vào phòng, lúc này mọi
người ngồi, đứng
hút thuốc, uống nước nói chuyện cười vui.
Ông Lai
ra lệnh cho tôi:
“Anh
để tất cả ở đây.’’
Tôi
để mọi thứ lên bàn.
“Anh
ngồi xuống đó.’’
Tôi
lấy thuốc ra hút. Lúc để đồ đạc lên
bàn, tôi có mở va ly ra lấy
mấy gói Tam Đảo bỏ vào túi
áo bông. Có một ông khi thấy
tôi bật nắp va
ly, định sấn lại, nhưng thấy tôi lấy thuốc, ông bỏ
hai tay lên thành
ghế, đứng lại.
Ông
Lai hỏi:
“Anh
mang tất cả lên đây rồi chứ?’’
“Vâng.’’
Một
trong hai cái ông theo kiểm tra tôi
nói:
“Hết
cả rồi.’’
Tôi
ngồi xuống, uống một hớp nước. Mọi người đã ngồi
vào chỗ của
mình. Một hai người còn đứng ở ngoài.
Lúc đó thằng Nguyễn Viết Trác
nhăn mặt, mệt nhọc xách va ly bước vào. Hắn
ngó tôi vẻ thiểu não. Con
c… họ. Tôi chửi trong bụng. Bọn chúng
giả vờ làm như thằng Trác chơi
với tôi nên bị liên lụy. Hắn cũng bị lục
soát va li. Nhưng suốt trong
thời gian tôi bị khảo tra không bao giờ người ta
hỏi tôi về hắn. Chính
hắn đã nhúng tay vào việc tổ chức cuộc
tra khảo tôi hôm nay. Hắn có
công. Lúc tôi quay ra ngoài
hành lang lượm một vài cuốn sách
thì gặp
hắn, mặt mày trân đi, xách va li một
cách nặng nhọc đi tới. Hắn ngó
tôi, nói:
“Mi
làm khổ tao.”
Mả
cha cái thằng con nhà không ai răn dạy.
Cái mặt hắn nhăn nhó vì
giả đò như hắn thường giả đò lên cơn
suyễn. Không có một vẻ xúc động
hay thay đổi nào trên cái mặt của hắn
hết.
Tôi
có nói với hắn:
“Mi
cố sống, sau này gặp nhau.”
Hắn
đặt va li xuống sàn nhà. Ông Lai
nói:
“Thôi
cho anh Trác về.’’
Hắn
bực nhọc như cố lê bước đi ra.
Thằng
Trác quen tôi là tình cờ.
Hắn đến chơi với thằng Lê Ngọc Từ
nằm cùng phòng với tôi ở khoa ngoại B1
bệnh viện E2 khoảng giữa năm
1970. Lúc đó hắn cũng đang chữa bệnh
và nằm ở khoa khác. Hắn mượn tôi
sách báo. Sau đó hắn cho tôi
mượn quyển Larousse. Tôi nói chuyện với
hắn nhiều lần về chủ nghĩa Marx-Lénine, về Đảng, về nền kinh
tế ở miền
Bắc, về tình trạng xã hội…
Tôi có đọc cho hắn nghe nhiều đoạn trong
nhật ký của tôi và đưa thơ
tôi cho hắn đọc. Lúc gặp hắn ở bệnh viện E1
(Thạch Thất – Hà Tây) tôi
đã đọc bản đề cương của tôi về nền
chuyên
chính vô sản và sự lãnh đạo
của Đảng. Khi nói chuyện, hắn cứ ngó quanh
quất làm như có ai lảng vảng đâu
đó. Hắn nói: “Nói nhỏ nhỏ
a”. Suốt
thời gian nói chuyện, tôi nói nhiều hơn
hắn nói, hắn không tỏ vẻ phản
đối hoặc đồng ý những suy nghĩ của tôi. Hắn chỉ ầm
ừ, miệng ngậm khít,
mắt mở trừng. Hắn biết tư tưởng và suy nghĩ của
tôi. Hắn báo cáo Ban
bảo vệ Đảng biết. Hắn cùng Ban bảo vệ Đảng để mưu sắp lớp
lục va ly tôi
và chụp ảnh nhật ký của tôi. Hắn gặp
thằng Trần Nguyên Vấn lúc đó mới
ra Bắc ở khu tập thể số 2 Lê Phụng Hiểu, Hà Nội,
toa rập với nhau bàn
với ông Sự cách trị tôi.
Và
bây giờ thì hắn giả bộ đau khổ, vì chơi
với
tôi mà phải liên lụy. Hắn giả vờ sợ sệt
một
cách tội nghiệp, thảm não.
Đã
quá giờ ăn trưa, người ta cho tôi về.
Tôi
về
phòng. Mọi người đã đi ăn cơm. Một bát
miến
và một hộp sữa đã để sẵn trên
bàn. Cô
Chanh y tá bước vào nói:
“Anh
Đính, anh ăn ở đây, đừng xuống nhà ăn
nữa.”
Tôi
có báo ăn miến đâu. Người ta biết
tôi bị căng thẳng và sẽ bị dạ
dày hành nên cho tôi ăn miến
và sữa để có sức tiếp tục chịu đựng cuộc
tra vấn.
Ăn
xong tôi nằm nghỉ. Những người trong phòng
đã về; cả phòng trong
và phòng ngoài có khoảng
sáu bảy người. Tôi ở phòng trong, ba
người.
Người ta vẫn nói chuyện, nhưng khác với mọi
ngày không ồn ào. Tôi biết
phận mình, tôi nằm. Chỉ có
ông già Tuyết, người Quảng Ngãi
cùng phòng
với tôi, hỏi tôi:
“Không
đi ăn hả mày?”
“Dạ
ăn rồi…”
Ông
nhìn lên bàn rồi
“à” một tiếng.
Không
biết chúng còn giở trò gì
nữa với tôi đây. Đầu tôi nóng
bừng.
Trời lạnh tanh. Bây giờ mà có một cơn
mưa. Một giờ rưỡi chiều, một ông
trong đoàn khảo tra vào báo
tôi:
“Anh
lên làm việc tiếp.”
Vẫn
những người cũ: đầy đủ những ông trong đoàn khảo
tra, bí thư
đảng ủy, bốn bí thư chi bộ bốn khoa bệnh nhân, chủ
tịch hội đồng bệnh
nhân…, bí thư chi bộ K65,
không có mặt ông Điềm, bác sĩ
trưởng K. Người
ta cho biết anh Điềm bận chuyên môn không
dự được. Tất cả sách vở, giấy
tờ của tôi đã được xếp chồng để trên
cái giường sau lưng những người
ngồi đối diện với tôi. Trước mặt ông tên
Lai mặt đỏ láng là những chồng
giấy tờ, vở ghi chép của tôi.
“Ta
làm việc thôi, các đồng chí
ạ.”
Ông
Lai nói, rồi nhìn tôi, tiếp:
“Bây
giờ vẫn chưa muộn đâu anh Đính ạ. Anh
nên nói ra tất cả những
suy nghĩ của anh, những công việc của anh từ ngày
ra Bắc, nói hết, nói
thật…”
Tôi
biết
họ nghi tôi là gián điệp của Mỹ Ngụy
cài
vào tổ chức cách
mạng để phá hoại, và họ muốn tôi
thú nhận
điều đó. Họ muốn tôi phải đầu
hàng họ như một tên gián điệp đầu
hàng
cách mạng. Tôi không còn sợ
gì
nữa. Họ không thể lấy điều này để trấn
áp tôi
được. Cái đáng phải sợ là
tìm cách che giấu những việc mình
làm.
Tôi không làm gì hết
thì việc
gì
mà phải tìm cách đối phó.
Nhật ký
của tôi họ đã chụp ảnh, sách vở ghi
chép, các tập thơ của tôi
đó. Tôi
không che giấu gì cả. Chắc chắn họ
chỉ còn một cách là truy bức
tôi về mặt tư
tưởng.
Ông
già mặc đại cán màu nâu chỉ
đống sách của tôi nói:
“Anh
đọc nhiều đấy. Có lẽ chúng tôi ở
đây không ai đọc bằng anh
đâu. Nhưng vô ích anh Đính ạ.
Anh đọc để anh xuyên tạc, anh đọc để anh
chống đối.”
Ông
dưới 40 tuổi, tạm gọi là tên Thanh, hỏi
tôi:
“Anh
đã mang tất cả sách vở, tài liệu ghi
chép,
sổ sách của anh lên đây rồi chứ?
Có
còn cái gì cất giấu ở đâu
không?”
“Tất
cả của tôi là ở đó.”
“Thế
bản đề cương về chuyên chính vô sản của
anh đâu?”
“Tôi
đốt rồi?”
“Cả
nhật ký nữa?”
“Tôi
cũng đốt rồi.”
“Tại
sao anh đốt?”
“Viết
xong không thích thì đốt hay
xé đi là chuyện thường.”
“Anh
sợ à?’’
Tôi
không trả lời câu này.
“Trong
bản đề cương đó anh viết gì’’
“Tôi
ghi lại những suy nghĩ của tôi về sự lãnh đạo của
Đảng
và nền chuyên chính vô
sản.’’
“Anh
nói cụ thể xem!’’
“Tôi
trình bày hai phần. Phần một, những quan niệm
kinh điển
của
Lénine và Staline về chuyên
chính vô
sản và sự lãnh đạo của Đảng; phần
hai, mối quan hệ giữa sự lãnh đạo của Đảng và nền
chuyên chính vô sản
trong thực tế ở miền Bắc. Tôi cho rằng hiện nay ở miền Bắc
mối
quan hệ
giữa chuyên chính vô sản và
sự lãnh
đạo của Đảng không đúng như sách vở
của Lénine và Staline đã
nói. Chỉ có
Đảng là trên hết, là tuyệt đối.
Không những Đảng đã nhúng tay
quá sâu
vào chính quyền mà Đảng đã
lấn áp
cả chính quyền. Chỗ nào cũng là Đảng
hết cả. Ở
miền Bắc không có chính
quyền, không có Nhà nước, chỉ
có Đảng.
Ông chủ tịch Hội đồng bệnh nhân
cũng là phó bí thư đảng ủy,
ông trưởng Khối
bệnh nhân cũng là phó bí
thư chi bộ hay chi ủy viên. Ông trưởng K
là
bí thư chi bộ hoặc phó bí
thư. Các cơ quan, các tỉnh, trung
ương…’’
“Tại
sao
anh lại bảo ở miền Bắc không có tổ tiên,
không
có ông bà, chỉ có
Đảng?’’
Ông
Lai nổi tức:
“Xuyên
tạc và phản động như thế là cùng.
Các lập
luận như thế chỉ có địch… Anh không
hiểu thật hay
là cố tình xuyên
tạc?’’
Và
ông ta dạy cho tôi một bài về sự
lãnh đạo của Đảng: Đảng là bộ
phận ưu tú nhất của giai cấp công nhân,
Đảng là người lãnh đạo và tổ
chức mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam; Đảng
là vĩ đại, là tuyệt
đối… Trên thế giới, có đảng
nào vĩ đại như Đảng ta đâu
v.v…’’ Tôi nghe
quá mệt.
Hình
như
họ chỉ nghe thằng Trác nói lại về bản đề cương
của
tôi nên
tôi đã chỉ nói cho có
và tránh
hai điểm. Một là nhân dân làm
nên lịch
sử, nhưng chỉ có Đảng, đứng đầu là Ban Chấp
hành
Trung ương, hiểu và
nắm được quy luật của lịch sử. Làm sao một thiểu số người
lại
có thể
nắm và hiểu được quy luật lịch sử mà lại hiểu
đúng
và vận dụng đúng?
Hai là, nhân dân đâu
có bầu ra Đảng
và Ban Chấp hành Trung ương mà Đảng
lại bắt nhân dân phải tuyệt đối trung
thành
và tin tưởng Đảng? Tôi cho
là quá vô lý.
Một
ông nào đó dằn giọng:
“Anh
có tin Đảng không? Anh nói đi,
nói đi!’’
“Lúc
này tôi có trả lời thế nào
các anh
cũng không tin tôi nói thật.
Vì không
lý tôi lại dám nói
là tôi
không tin.’’
Ông
ta hừ một tiếng.
“Tôi
nói cho anh biết. Cuộc họp này chấm dứt sớm hay
kéo dài là tùy
theo thái độ của anh. Và tôi cũng
nói cho anh rõ là anh ngồi
đây không
phải với tư cách như trước nay của anh trong các
buổi họp đâu. Rất may
cho anh là chúng tôi đã
không để cho anh đi sâu hơn nữa vào con
đường
phản động của anh. Chúng tôi muốn cứu anh, muốn
anh sớm tỉnh ngộ. Anh
còn trẻ. Anh hiểu chưa? Anh nói láo,
anh không tin Đảng. Anh không tin
gì ở chủ nghĩa xã hội cả. Anh có quan
điểm lập trường của anh, đó là
lập trường và quan điểm của bọn tư sản phản động tay sai của
đế quốc
Mỹ. Những thứ đó đã có sẵn trong con
người anh, nó có từ lúc anh ở
trong vùng địch. Cho nên nói thẳng ra,
lập trường quan điểm của anh là
chống cộng.’’
Một
người khác nói chen vào:
“Chống
cộng có hệ thống! Không phải anh ta chỉ
chê chế độ miền Bắc,
mà anh chống đối chế độ xã hội chủ nghĩa, anh ta
cho là một chế độ bế
môn tỏa cảng, do đó mà chỉ thấy trời
bằng cái vung. Trí thức thì bế
môn
tỏa cảng, dân chúng thì cấm
làm giàu. Đó không chỉ
là luận điệu tư sản
phản động mà chính là của bọn
xúi làm loạn.’’
Một
ông khác chĩa vào:
“Anh
cho là miền Bắc không có chủ nghĩa
xã hội. Quan hệ xã hội chủ
nghĩa ở miền Bắc chỉ có trong nghị quyết, chỉ thị.
Còn về mặt hiện thực
thì chỉ là một sự áp đặt,
làm lấy được của những người lãnh đạo, của
trung ương Đảng.’’
“Tôi
không thể nhớ hết được…’’
“Đây
này, cả trang nhật ký và cả trong
các ghi
chép của anh, đây, đây
này!’’
“Không
nhớ, thì đây.’ Một ông
khác nữa
ném một tấm ảnh và quyển vở
ghi chép của tôi đã lật sẵn
và có
đánh dấu. “Này, anh Đính
ngẩng mặt
lên, nhìn đây.’’
Ông ta ngó
tôi qua khoảng trống giữa sống mũi và cặp
kính. Ông ta vừa đọc vừa nói xen
vào:
“Anh
nói thế này. Những điểm ưu việt của chủ nghĩa
xã hội chỉ có
trong sách vở, trong nghị quyết, kinh điển. Chủ nghĩa
xã hội chỉ có
trong đầu óc của những người lãnh đạo. Miền Bắc
không có cái chủ nghĩa
xã hội như sách vở và các
nghị quyết đã nói. Cái quan hệ
xã hội chủ
nghĩa trong sản xuất cũng như giữa người và người trong
xã hội hiện nay
chỉ là một sự áp đặt hoàn
toàn không có nội dung hiện thực.
Còn nếu cái
hiện thực xã hội ở miền Bắc hiện nay là
xã hội chủ nghĩa như sách vở đã
nói thì cần phải xem lại cái chủ nghĩa
xã hội đó.’’
Ông
dừng lại, rồi nói tiếp:
“Này,
anh Đính, chính trong nhật ký anh
đã
nói rằng không có cuộc
kháng chiến chống Mỹ hiện nay thì xã
hội miền Bắc
chỉ là một vũng bùn
lộn cứt… Không có đánh nhau
với Mỹ
thì cái chủ nghĩa xã hội và
Đảng là
tiêu dên rồi. Phải không? Phải
không?’’
“Phải,
tôi có nói.’’
Ông
Lai:
“Đấy,
các đồng chí thấy không, anh ta đang
ngồi đây với chúng ta,
và lâu nay ta gọi anh ta là đồng
chí và anh ta gọi chúng ta
là đồng
chí. Chúng ta sơ hở và thiếu cảnh
giác…’’
Ông
quặt sang hỏi tôi:
“Anh
nói là thủ đô Hà Nội
có năm nhứt thế
giới, là… nhứt trộm cướp, nhớp nhứt…
phải
không?’’
“Tôi
nói Hà Nội có ba nhất: cây
xanh nhiều nhất,
xe đạp nhiều nhất và nhớp nhất.’’
“Chắc
chỉ
có Sài Gòn, thủ đô của bọn
Mỹ Ngụy của anh
mới tốt đẹp
chớ gì? Những gì phồn vinh giả tạo của Mỹ Ngụy
thì
anh cho là tốt đẹp.
Những gì ưu việt của chế độ ta thì anh
chê bai đủ
điều. Anh chê cả các
nếp sống văn minh của chế độ ta nữa. Anh cho sắp hàng ở miền
Bắc
không
phải là một nếp sống của người văn minh mà do
thiếu thốn.
Cái gì cũng
sắp hàng, mua gạo sổ, mua thịt cá,
bánh mì
theo tem phiếu, mua cà phê,
bát bún, tô phở… cũng sắp
hàng. Rồi,
bữa ăn của cán bộ công nhân
viên ở
các nhà ăn tập thể tại Hà Nội anh cho
là
quá tồi tàn. Anh nghi trong
nhật ký: “Con mừng được chiếc áo hoa,
nhờ tiền tiết
kiệm mẹ cha để
dành”. Anh mở vòng đơn (trên
tấm áp
phích ở đầu thị xã Sơn Tây
phía từ
Hà Nội vào). Anh viết thêm:
đó là chủ
nghĩa xã hội! Hừm, cả nước đang
đánh Mỹ. Miền Bắc là hậu phương lớn, miền Bắc
phải chi
viện cho miền
Nam, người, của cải vật chất… phải thắt lưng, buộc
bụng…
chắc anh cũng
đã học tập những điều đó chứ? Tại sao anh cho
câu
đó là bi đát?’’
Tôi
làm thinh. Ông ta gõ tay xuống
bàn nhắc lại:
“Anh
nói đi.’’
Tôi
nói:
“Một
cá nhân thì không kể, nhưng
kêu gọi cả
toàn xã hội mà là một
xã hội xã hội chủ nghĩa ưu việt phải như thế,
tôi
cho là bi đát.”
Chung
quanh tôi mọi người đều tức giận, hầm hừ. Có một
khoảng im
lặng, chỉ nghe tiếng giấy tờ lạo xạo. Còn tôi,
cái dạ dày lên cơn. Tôi
hút thuốc liên tục. Cái ông
mặc đại cán màu nâu chậm rãi
thuyết giảng
cho tôi một bài triết học về thế nào
là hiện tượng, thế nào là bản
chất. Từ đó ông chuyển sang giảng thêm
cho tôi hiểu về bản chất của chế
độ ta và bản chất của chế độ địch. Ưu việt và tốt
đẹp là bản chất của
chế độ xã hội chủ nghĩa; độc ác, bóc
lột, xâm lược là bản chất của chế
độ tư bản. Những cái gì chưa hoàn
thiện mà tôi thấy hàng ngày
ở miền
Bắc chỉ là hiện tượng, có tính nhất
thời; còn những gì tốt đẹp của bọn
tư bản, đó chỉ là cái bề
ngoài, cái phồn vinh giả tạo, cái hiện
tượng.
Tất cả những cái đó đã che lấp
cái bản chất xấu xa của chủ nghĩa tư bản
v.v…
Lúc
này nghe những thứ lộn xộn như thế tôi cũng mệt.
Đầu óc tôi chỉ
lùng bùng những tiếng bản chất, hiện tượng, chủ
nghĩa xã hội, đế quốc,
tư bản, xâm lược, bóc lột, Marx,
Lénine, Hồ Chủ tịch… lẫn trong tiếng
người lao xao, tiếng sắt thép gỗ chạm nhau lóc
cóc, lách cách… ở xa
ngoài thị xã chen vào.. Trước mắt
tôi bây giờ là những cái đầu,
những
con mắt nhìn chằm hăm tôi. Đầu cúi,
ngẩng, lắc lư; mắt ngó thẳng, ngó
xiêng, ngó xéo, mở trừng, mở to, lim
dim; có những con mắt nhắm lại.
Tôi hút thuốc, tôi uống nước, nước hơi
nguội. Nước máy lại chảy ộc ộc
dưới nhà. Tiếng đàn bà la to, lấy nước
rồi không chịu khóa lại. Khóa
sao được. Nhiều lần tôi phải lấy một cục đá chận
lên cái robinet nước
mới không chảy. Có hai ba hộ ở dưới đó,
và một hộ ở đằng kia gần phòng
tôi đều lấy nước ở đây. Tôi nghe tiếng
nước chảy ào một cái rồi tắt
luôn.
Có
tiếng dằng hắng, tiếng nước rót vào
bình trà.
“Đảng
có đối xử gì anh khác biệt
đâu, mà
còn ưu đãi anh nữa là đằng
khác. Ra Bắc anh được hưởng mọi tiêu chuẩn
mà một
cán bộ miền Bắc không
thể có được. Anh bất mãn cái
gì? Hay
là…. Hay là…
à…
à… một thanh niên
ở vùng địch tham gia cách mạng lâu
ngày… như anh… mà
không được kết nạp
Đảng cho nên anh bất mãn phải
không?”
Tôi
không trả lời.
Khoảng
cuối năm
1964 hay đầu 1965, tôi nhận được một lá thư theo
đường dây bí mật, từ trên rừng gửi về
Huế. Đó
là quyết định của thành
ủy Huế kết nạp Nguyễn Thiết, Nguyễn Đình Hương và
tôi vào đảng, viết
dưới hình thức một bức thư do đồng chí
Hà, tức
Lén, bí thư Thành ủy ký.
Anh Đàm, tức Văn Nhạc, được cử làm bí
thư chi bộ
dự bị. Nguyễn Thiết
xin hoãn việc kết nạp mình một thời gian, nhưng
không nói rõ lý do.
Thiết nói với tôi: “Vào Đảng
có những
ràng buộc về mặt kỷ luật rất mệt.
Tao thích như thế này tự do hơn”.
Nguyễn Thiết
lúc nhỏ đã học trường
Huỳnh Thúc Kháng ở Nghệ An hồi kháng
chiến chống
Pháp. Năm 1954, theo
lời Thiết kể, Thiết theo đoàn của Ủy hội Quốc tế bảo vệ
đình chiến vào
Nam. Anh Đàm chọn phòng X-quang ở bệnh viện
bài
lao để làm lễ kết nạp
vì ở đó đã có cơ sở của ta.
Đúng
hẹn, một giờ ba mươi chiều, tôi lận tờ
giấy đỏ trong áo trước bụng, thằng Hương nhét
trong quần
lót hai mảnh
búa liềm do Lê Minh Trường cắt, đến Viện
bài lao.
Anh Đàm cho biết
không hiểu thế nào tên phó
bí thư
huyện ủy Phú Lộc đã chiêu hồi lại
có
mặt hôm đó ở phòng X-quang. Tay
này cũng
làm việc ở đây, nhưng không
phải ở phòng X-quang. Ba chúng tôi đi
thẳng
luôn ra cửa sau vòng tay
trái chuồn về ngay.
Tháng
6-1965, chúng tôi thoát ly
lên rừng, không nghe thành ủy nhắc
lại chi về chuyện này nữa. Nhất định người ta muốn thử
thách chúng tôi.
Về sau, tuần tự, Thiết, Hương, Trường đều vào Đảng.
Cái
ông già mặc đại cán màu
nâu cầm
lên một xấp giấy màu vàng đất đưa ra
trước mặt
tôi hỏi:
“Đây
là bài “Sân khấu
II”. Thế “Sân khấu I” ở
đâu?”
“Mất
đâu ở trong rừng rồi.”
“Thế
còn “Sân khấu III”? Trong nhật
ký anh
có viết anh sẽ viết “Sân khấu
III”?”
“Tôi
chưa viết.”
Rồi
ông quay lại đàng sau lấy một cuốn
sách, lật trang đầu hỏi:
“Anh
có viết một câu tiếng Pháp trong
này, đại ý nói là mọi sự
rồi
sẽ trở nên sáng sủa hơn. Có phải anh
có ý tưởng làm loạn
không?”
“Câu
đó tôi ghi lại lời của một nhân vật ở
trang cuối.
Ông cứ giở sách ra mà xem.”
Ông
ta làm thinh để cuốn sách xuống bàn.
Ông ta nhìn tôi một lúc
gật gật cái đầu, tay cầm một tập sách
khác đưa cao dứ dứ trước mặt tôi:
“Anh
lấy cái này ở đâu? Ai đưa cho
anh?”
Đó
là tập san HÒM KẼM của một nhóm sinh
viên ở Cộng Hòa Liên Bang
Đức, xuất bản năm 1969 (?), Nguyễn Hữu Ngô cho tôi
mượn. Tôi nói:
“Tôi
mượn ở Đài Giải phóng.”
Ông
ta cười ra tiếng, rồi ngậm miệng trề môi dưới ra hứ hứ trong
họng. Ông ta cầm tờ báo trên hai tay lật
qua lật lại những trang trong:
“Đây
là tờ báo của bọn sinh viên
Sài Gòn xuất bản ở Tây Đức. Bọn
này được Mỹ Ngụy gửi sang Tây Đức đào
tạo để sau này về nước làm công
cụ tay sai đắc lực cho chúng, chống lại nhân
dân và cách mạng. Mà
Tây
Đức… là một nước tư bản thuộc loại đầu sỏ, kẻ
thù của Liên Xô và
các
nước xã hội chủ nghĩa, kẻ đối đầu trực tiếp với Cộng
hòa Dân chủ Đức.
Toàn bộ nội dung tờ báo này sặc
mùi tư sản phản động. Tư tưởng và lập
trường của bọn này lập lờ, hai mặt, nhưng nhìn
chung, bản chất là chống
cộng triệt để.”
Ông
ta nhìn thẳng vào mắt tôi:
“Anh
mê những thứ bẩn thỉu này lắm phải
không, đồng hội đồng thuyền
mà? Anh có biết là anh đã
phạm một tội rất nặng là oa trữ và phổ biến
tài liệu sách báo của địch
không?”
Tôi
cũng
chịu không biết nói thế nào nữa,
mà
có nói cũng vô ích.
Tôi làm thinh, và họ cứ chửi bới
tôi.
Cái ông tên Lai mặt láng cầm
cái
thẻ kiểm tra bọc nhựa của tôi bỏ xuống bàn ngay
trước mặt
ông, nói:
“Có
phải anh giữ cái thẻ kiểm tra mà bọn ngụy quyền
đã
cấp cho anh đây để có ngày anh trốn về
vùng
địch hay không?”
Một
ông nào đó nói xen
vào:
“Ngày
đó là ngày anh đã
hoàn thành nhiệm vụ của Mỹ Ngụy giao
cho?”
Chán
lắm rồi. Tôi cũng quá mệt. Tôi
nói:
“Cái
thẻ kiểm tra đó tôi đem theo đi đường
lúc
thoát ly và sau đó giữ làm
kỷ niệm.”
Có
những tiếng đằng hắng và ậm ừ trong họng. Ông Lai
nói:
“Những
tư tưởng và lập trường của anh là phản động,
chống cộng. Anh
hãy nói thật để được hưởng sự khoan hồng của
Đảng. CIA Mỹ Ngụy cài anh
vào tổ chức cách mạng từ khi nào, ra
Bắc anh đã thực hiện nhiệm vụ của
anh tới đâu rồi? Anh móc nối với những ai? Anh
nói đi, tôi cần chính
anh tự thú nhận. Chúng tôi
đã có đầy đủ bằng cớ và tài
liệu.’’
Một
ông khác nói tiếp:
“Chỉ
có anh mới cứu được anh. Anh phải thành khẩn
nói thật, khai thật.’’
Tôi
nói liền:
“Tôi
mà CIA thì tôi đã
không viết nhật
ký và làm thơ như
thế.’’
Không
ai nói gì cả. Ông Lai nói:
“Chưa
hết đâu, anh Đính ạ. Còn có
nhiều điều, nhiều việc chúng tôi
chưa nói với anh. Chưa hết đâu. Rồi anh sẽ biết
hậu quả những hành động
của anh.’’
Bao
giờ họ cũng nói: “Những hành động của
tôi”.
Cái
ông trẻ dưới 40 tuổi tên Thanh hỏi tôi:
“Anh
có cần đọc lại biên bản hay
không?’’
“Không.’’
Một
vài
người đã đứng dậy để đi ra ngoài. Ông
Lai
ngã người trên ghế nhìn tôi.
Ông Thanh
vẫy tôi lại, nói:
“Anh
xem
lại và ký vào. Đây
là biên bản
những gì của anh mà chúng
tôi tạm giữ để
nghiên cứu. Anh kiểm tra lại đi.’’
Tôi
nói, thôi không cần và
ký. Toàn bộ các tập thơ,
các tập vở ghi
chép, tất cả những giấy tờ gì, dù
là một tờ rời, một mảnh nhỏ có chữ
của tôi đều bị họ tịch thu hết. Sách họ trả lại,
trừ một vài quyển,
trong đó có một quyển tiểu thuyết bằng tiếng
Pháp (tôi mua ở nhà sách
ngoại văn ở Hà Nội), vì ở trang đầu cuốn
sách này tôi có ghi một
câu
của một nhân vật trong truyện nói đại
ý: mọi sự mọi việc rồi sẽ được
sáng sủa và tập san Hòn Kẽm.
Một
ông ra lệnh cho tôi:
“Anh
mang va ly và đồ dùng cá
nhân về phòng. Còn sách
sáng mai anh
sẽ nhận. Tôi xin họ cuốn tự điển Anh-Việt loại bỏ
túi của Võ Lang
(quyển này tôi mang từ chiến trường ra), họ đồng
ý. Sau này có một ông
cho tôi biết việc này làm cho họ nổi
tức và không có lợi cho tôi,
vì họ
cho đến lúc đó mà tôi vẫn
còn bình tĩnh đọc sách
được.’’
©
2005 talawas