Trần Vàng Sao
Tôi
bị bắt
(Nhớ lại những năm
tháng tôi bị bắt rồi được thả ra và
sống như tù) 10 kì
2.
Tôi
nhớ
rõ một hay ba ngày sau, khoảng 7 giờ
sáng,
bà Quy, bác sĩ chủ nhiệm khoa bảo tôi:
“Anh
chuẩn
bị sáng nay về Cục. Giấy tờ và thủ tục
chúng
tôi đã làm xong. Anh cứ đợi
đây. Bao giờ
tôi vào báo anh sẽ
đi.’’
Lát
sau, bà ta quay trở lại đưa giấy tờ cho tôi:
“Xe
đợi anh ngoài cổng.’’
Tôi
chào ông già Tuyến. Ông đưa
trả tôi mấy
cuốn sách, những cuốn bìa đỏ của Mao Trạch
Đông
bằng tiếng Pháp. Tôi nói:
“Bác
cứ giữ mà đọc.’’
Ông
già lắc đầu:
“Cái
thằng…’’
Rồi
ông hỏi tôi:
“Mầy
đi đâu hả Đính?’’
“Dạ,
họ nói về Cục.’’
Tôi
bước
ra ngoài phòng, không có
ông
già Giác. Tôi không
chào ai hết. Mọi
người bây giờ coi như không có
tôi.
Tài
xế
là một thanh niên rất trẻ có
râu quai
nón. Suốt dọc đường từ
Sơn Tây về Hà Nội tôi và anh
ta không
nói gì với nhau. Sau này rất
lâu
tình cờ tôi gặp anh ở Hà Nội. Anh ta
chào
tôi rất vui vẻ. Anh ta nói:
“Anh biết không, lúc đưa anh về
Hà Nội, trở
về Sơn Tây tôi bị mấy ông
tra hỏi đủ điều. Họ hỏi tôi trên đường đi anh
đã
nói gì với tôi, và
tôi
đã nói gì với anh. Tôi
nói là
anh có mời tôi hút thuốc, nhưng
tôi lại
không hút thuốc”.
Xe
ngang qua nghĩa trang Mai Dịch, tôi chợt nhớ lại trong trận
tra vấn tôi có một ông đã
hỏi:
“Anh
quá tệ đi anh Đính ạ. Anh nói xấu cả
những đồng
chí lãnh đạo của ta đã chết
chôn ở nghĩa
trang Mai Dịch nữa.’’
“Tôi
có nói thế đâu.’’
“Anh
không bao giờ thành khẩn hết. Đây
này, có phải là anh đã
viết:
“…ở cái chết con người cũng
không được bình đẳng. Cứ tùy theo
tiêu
chuẩn bao nhiêu thịt, bao nhiêu đường, bao
nhiêu sữa mỗi tháng, mỗi
ngày mà kẻ chết đi, người thì được
chôn ở nghĩa trang Mai Dịch, kẻ thì
ở Văn Điển”. Chắc anh cũng biết nghĩa trang Mai Dịch
là nơi dành cho
những đồng chí lãnh đạo có
công lớn với cách mạng với nhân
dân với đất
nước?’’
Đến
Cục đón tiếp cán bộ B ở 11 Hoàng Hoa
Thám, tôi vào trình giấy
tờ. Đến lúc này, tôi cũng
không biết người ta sẽ còn làm
gì tôi nữa.
Chắc chắn là tôi sẽ bị khảo tra nhiều lần nữa,
nhưng không biết bằng
cách nào. Tôi có cảm tưởng
cơ thể của tôi như bị mất cân bằng. Tôi ở
trong trạng thái của một người bị bắt buộc phải
làm việc quá nhiều,
nhưng các thớ thịt không căng lên
mà lại giản ra, máu lưu thông
không
đều; tất cả như dồn tại một chỗ trong đầu. Tôi cứ muốn mửa.
Tôi
vào phòng làm việc để trình
giấy tờ. Một
anh chàng rất trẻ, trắng trẻo ngồi sau bàn giấy
sát cửa ra vào, chào tôi:
“A,
anh Đính.’’
Anh
ta tên Ninh, người Quảng Nam, có quen
tôi lúc ở K65. Anh ta bị
thương ở trán, phía trên
thái dương trái hỏm vào một lỗ bằng
đồng bạc
kênh năm xu. Nắng mưa gì anh ta cũng đội
cái mũ cát dạ để giữ ấm đầu và
đề phòng có va chạm. Hầu hết những người
làm việc ở Cục đón tiếp cán bộ
B này là người miền Nam, trong số này
phần đông ở chiến trường ra chữa
bệnh hoặc an dưỡng. Những người này nhờ quen biết
thân thế vận động xin
được làm việc ở đây để khỏi vào lại
chiến trường và để được hưởng các
tiêu chuẩn chế độ của cán bộ miền Nam. Anh
chàng này cũng thế. Cha anh
ta là một cán bộ cao cấp không muốn cho
con trở lại chiến trường nên
xin chuyển anh ta về làm việc ở đây.
Anh
ta chỉ cho tôi vào phòng trong để
trình giấy tờ. Phòng trong
chỉ có một người đàn ông đứng tuổi ngồi
sau bàn giấy. Những bàn chung
quanh đều vắng người. Ông ta cầm xấp giấy tờ của
tôi liếc qua rồi cất
giọng:
“Anh
tạm ở đây, chờ các anh ở trên giải
quyết. Bây giờ anh để đồ
đạc và nghỉ ngoài hội trường. Các
tiêu chuẩn của anh căng tin sẽ giải
quyết. Nếu anh đau, anh ra dãy nhà sau đến
phòng y tế. Cơm trưa của anh
tôi đã báo. Tiêu chuẩn ở
đây một đồng hai một ngày. Tiền còn
thừa (bốn
hào) sau này anh sẽ truy lãnh. Buổi
sáng anh phải tự túc, vì ở
đây là
cơ quan làm việc.’’
Hai
ba người bước vào phòng cười nói,
giọng Quảng, giọng Thừa
Thiên, giọng Bắc… rồi tiếng máy chữ
lóc cóc, tiếng gọi nhau ngoài
hành
lang, ở phòng ngoài…
“Thế
mà tôi cứ tưởng anh hy sinh rồi chứ? Đến
đây làm gì thế? Lại
tiêu chuẩn chế độ chứ gì hay tìm người
chứng để cưới vợ… ha ha… Thôi,
thôi, ngồi đây, ngồi đây, uống
trà nói chuyện cái
đã.’’
“Ê,
chuẩn bị đi phép phải không? Xuống nhận
tiêu chuẩn tế cho rồi.’’
Người
đàn ông đứng tuổi nhìn tôi
nói:
“Thế
này nghe anh Đính. Về đây tạm thời anh
không được đi đâu hết,
chỉ ở tại đây, chờ ý kiến của các anh.
Thôi, anh ra hội trường nghỉ.’’
Ở
hội trường cũng có một vài người (đều
là cán bộ ở chiến trường) ở
xa đến liên hệ công tác nằm chờ. Tất cả
đều nằm trên ghế băng. Tôi kéo
mấy cái ghế băng sát vào nhau gần cửa
ra vào và cạnh cửa sổ làm chỗ
nằm. Tôi chắc thằng Ngô, thằng Tình,
bà Ngọc Trai, ông Doãn Triều
đã
biết chuyện của tôi. Sắp Tết rồi. Chắc chắn những
ngày tết tôi phải bó
rọ ở đây một mình.
Hai
hôm
sau, người ta báo cho tôi chuyển chỗ ngủ.
Phía
bên kia
đường Hoàng Hoa Thám, đối diện với Cục
đón tiếp
hơi chếch về phía Hà
Nội, vào sâu trong hẻm có một
dãy nhà
mới xây làm nhà khách
dành cho
những người ở xa đến nghỉ lại. Dãy nhà nhiều
phòng
xây trên một cái hồ
rau muống mới được lấp đất. Nhà mái
ngói,
phên tre trát vữa, chung
quanh còn ngổn ngang những ụ đất đá, những đống
vôi
vữa bỏ dở đọng nước
mưa, và tre nứa, gạch ngói vỡ rải khắp
sân. Đất chỉ
lấp phần nền để làm
nhà, vẫn còn lại một phần hồ rất rộng, ban
đêm ếch
nhái kêu um nghe tức
ngực. Đoạn đường từ con đường hẻm cũ vào nhà phải
đổ
cát lấp những hố
bùn. Hai bên con đường hẻm này
có một hai
cái nhà nhưng mặt xây ra
đường Hoàng Hoa Thám nên
không có cửa
ngõ. Cuối hẻm là một cái dốc,
nhà
thằng Ngô Thế Oanh ở sau đó, khuất sau những
cây to.
Tôi đã ngủ lại nhà
thằng Oanh một hai lần rồi.
Căn
phòng
tôi ở có khoảng sáu giường, đi
ngoài
ngõ vào là phòng đầu
tiên của dãy nhà. Có lẽ
tôi là
người đầu tiên đến ở đây. Tôi nằm giường
ngoài cạnh cửa sổ ngó ra đường. Mưa lất phất
và
lạnh. Ông gác cổng Cục
đón tiếp, người Nam bộ, đưa cho tôi một ổ
khóa
và dặn tôi khi nào đi ăn
cơm nhớ khóa cửa. Ông ta nói với
tôi, giọng
Nam bộ pha Bắc:
“Mấy
anh
dặn tôi nói lại với anh là anh ở
đây
và không được đi đâu hết. Đến giờ, anh
sang
bên Cục ăn cơm.’’
Tôi
bỏ đồ
đạc lên giường rồi ra ngồi trên bực cửa.
Mùi
vôi và xi
măng mới hơi khó chịu. Chung quanh nhà
không
có cây cối gì cả. Không
có
cửa ngõ, chỉ có một bãi đất trống rộng
mở ra
đường, chằng chịt vết bánh
ô tô nước đọng thành những vũng
dài. Con
đường trước mặt thỉnh thoảng
lắm mới có người đi qua. Không có một
thứ tiếng
động nào cả, không nghe
tiếng người nói, chỉ có tiếng ô
tô chạy
ngoài đường Hoàng Hoa Thám. Tất
cả đều trống không và tôi một
mình. Tôi
ngồi ngó mưa như rắc bụi trên
những vũng nước. Tôi lượm một mảnh ngói
ném ra giữa
sân, một mảnh rồi
hai ba bốn mảnh ngói, vôi vữa chết đóng
cục.
Không còn cái gì để
làm
nữa, tôi cứ ngồi yên ngó ra
ngoài. Gần một
buổi sáng và hết cả ngày,
hết ngồi lại nằm, tôi cứ loanh quanh luẩn quẩn một
mình
tôi thế này. Ăn
cơm xong, trưa chiều, tôi trở về lại đây, mở
cái cửa
duy nhất của phòng
này, tôi ngồi ngó ra giữa trời đất.
Trời còn
mưa lất phất, tôi mặc thêm
cái áo vệ sinh. Cái áo
bông vẫn chưa
đủ ấm. Buổi chiều lại yên tĩnh và
trống trải hơn nữa. Tôi trông trời mưa thật to, mưa
ào xuống nước chảy
không kịp tràn cả sân và
chim, một vài
tiếng chim, chim se sẻ vừa nhảy
vừa hót trên sân, rồi chợt vụt bay rồi
kêu
toáng lên vì có
bóng người.
Nhưng không có gì hết. Một
mình tôi,
đầu óc tôi mệt mỏi, chán nản.
Đêm
đến, ngoài ánh sáng của ngọn
đèn điện trong
phòng hắt ra sân một vạt và
tiếng ếch nhái, còn thì tối đen hết.
Tôi
thèm một miếng nước trà, nhưng
không có nước sôi và ấm
chén.
Tôi nhai mấy viên Ka-vét cho
cái bụng đỡ
cồn cào. Gần nửa đêm thì điện
cúp.
Sáng
hôm sau, cái ông dưới bốn mươi tuổi
tôi tạm đặt tên Thanh cho
dễ gọi, cái ông đã khảo tra
tôi ở K 65, đến gặp tôi. Ông ta
nói:
“Anh
theo tôi lên đây làm việc. Nhớ
mang theo giấy bút.’’
Tôi
theo ông ra đường cái.
“Anh
lên đây tôi lai.’’
Ông
ta chở tôi về phía Hà Nội. Gần đến vườn
bách thú, ông rẽ sang
một con đường phía bên phải sát
đó (tôi không nhớ tên đường).
Đi một
đoạn dốc dài dài, ông ta đứng lại trước
một dãy nhà một tầng. Ông ta
không nói gì hết. Ông dắt
chiếc xe Phượng Hoàng nam màu đen lên
thang
gác. Tôi đi theo sau. Ông ta dựng xe
vào lan can hành lang, khóa lại,
rồi mở cửa một căn phòng ở cạnh lối xuống thang
gác.
“Anh
vào đây.’’
Ông
ta bật điện và mở cửa sổ. Một cái bàn
với hai cái ghế để sát
cửa sổ có màn che bằng vải hoa. Ông ta
đi vào trong mang ra một phích
nước. Ông ta chế trà.
“Anh
ngồi xuống đi.’’
Tôi
kéo ghế ngồi xuống. Ông đẩy một tách
nước về phía tôi.
“Anh
uống nước.’’
Tôi
lấy thuốc hút và uống nước. Ông ta vẫn
mặc cái áo đại cán bằng
nỉ màu đen, khăn quàng cổ ca rô xanh
hồng đen trắng. Cái mũ lưỡi trai
bằng nỉ kiểu Liên Xô cũng màu đen
luôn luôn trên đầu. Ông ta xoa
tay,
rồi đặt hai bàn tay vào nhau lên kẹp
đựng giấy tờ. Ông ta bắt đầu nói,
trong lúc tôi dựa ngửa người lên ghế
và duỗi chân ra dưới bàn.
“Chúng
tôi đưa anh về đây là để tiếp tục
làm việc với anh. Hiện nay
quần chúng, cán bộ và Đảng
viên ở K65 hết sức bức xúc, để anh ở đó
chúng tôi xét thấy không
có lợi. Số phận và tương lai của anh
bây giờ
là do anh quyết định đó. Anh chưa nói
hết và thành thật với Đảng. Đây
là cơ hội cho anh hối cải. Anh phải nói hết,
nói thật, chỉ có cách đó
anh mới cứu được anh. Đánh kẻ chạy đi, không ai
đánh kẻ chạy lại. Đảng
rất độ lượng, mặc dù anh đã có những
thái độ và hành động chống Đảng.
Chúng tôi biết anh đang ở trong một
tình trạng hết sức căng thẳng.
Chúng tôi tạo điều kiện cho anh suy nghĩ thật
đúng đắn về những việc
làm của anh trước kia. Chúng tôi tin
anh sẽ tỉnh ngộ và phải tỉnh ngộ
để được hưởng lượng khoan hồng của Đảng.’’
Ông
ta nói, nói rất nhiều. Ông
nói như giảng nghị quyết. Cách mạng
miền Nam đang thắng lớn. Miền Bắc vừa đang ra sức xây dựng
chủ nghĩa xã
hội, vừa đổ hết sức người sức của chi viện cho miền Nam, đồng thời
hoàn
thành nghĩa vụ quốc tế của mình đối với hai nước
bạn anh em là Lào và
Campuchia. Tất cả để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược.
Trước mắt nhân dân ta
có những khó khăn nhất định, nhưng thuận lợi
là cơ bản. Nhân dân tiến
bộ khắp hoàn cầu, kể cả nhân dân lao
động tiến bộ Mỹ và các nước tư
bản, đều đứng về phía chúng ta. Chúng
ta có hai nước hậu phương lớn là
Liên Xô và Trung Quốc vĩ đại
cùng các nước xã hội chủ nghĩa anh em
khác
đang hết lòng hết sức ủng hộ và giúp
đỡ chúng ta. Đảng ta vĩ đại, nhân
dân ta anh hùng, chúng ta nhất định
thắng. Sự thất bại của đế quốc Mỹ
và bè lũ ngụy quyền tay sai là tất yếu
và chỉ còn là vấn đề thời gian
v.v…
Ông
ta nói nữa:
“Những
người như anh cách mạng miền Nam đang cần. Tôi
tiếc
là anh
đã phạm những sai lầm quá nghiêm trọng.
Nhưng chưa
muộn đâu anh Đính ạ.
Chúng tôi muốn cứu anh, muốn cho anh trở
nên người
có ích cho xã hội.
Cho nên điều tốt nhất, là anh phải hết sức
thành
khẩn trong việc khai
báo. Anh phải nói hết, nói thật,
không
nên giấu giếm một việc, một điều
gì hết. Anh phải biết rằng hôm ở K65 có
những điều
anh nói xấu Đảng,
các đồng chí lãnh đạo và
cán bộ Đảng
viên, chúng tôi đã
không cho anh
chị em biết. Nếu họ nghe được thì chưa biết việc
gì sẽ
xảy ra như thế
nào đối với anh. Riêng tôi,
tôi tin rằng con
người anh có thể cải tạo
được. Anh phải trở thành một con người
tốt.’’
Ông
ta nói có đến 20 phút, nửa giờ.
Ông ta nói lúc nhanh, lúc
chậm,
lúc như bình thản, lúc dằn giọng.
Có khi ông ta đứng dậy bậm môi,
có
khi ông ta nhìn ra ngoài qua khoảng
trên tấm màn che cửa sổ.
“Hằng
ngày anh sẽ lên đây làm việc
với tôi. Mọi việc sẽ được giải
quyết nhanh hay chậm là do anh. Điều mà
chúng tôi yêu cầu anh phải
nói
rõ là về mặt tư tưởng và ý
thức, lập trường, anh phải nói hết những suy
nghĩ của anh về chế độ, về miền Bắc, về chiến tranh, về Đảng
v.v… Thứ
hai là những việc làm của anh khi ra miền Bắc. Ai
đã giao nhiệm vụ này
cho anh, những người đó hiện nay ở đâu, đang
làm gì. Công việc của anh
đã tiến hành đến đâu, và
trong dự định anh sẽ hành động như thế nào?
Thứ ba là mối quan hệ của anh trong những ngày ở
miền Bắc. Anh giao
tiếp với ai, quan hệ với ai? Anh đã tổ chức họ như thế
nào v.v.. Tôi sẽ
nói cụ thể hơn về những vấn đề này lúc
làm việc với anh, bây giờ tôi
chỉ gợi ý. Trước hết anh viết cho chúng
tôi một bản kiểm điểm. Chúng
tôi sẽ căn cứ vào bản kiểm điểm của anh để xem
xét thái độ của anh có
thành khẩn hay không, có trung thực hay
không? Chủ yếu trong bản kiểm
điểm này có hai điểm quan trọng mà anh
phải trình bày rõ là tư
tưởng và
hành động của anh. Anh nhớ, tự anh phải đề ra một phương
hướng sửa chữa
những sai lầm của mình. Hằng ngày tôi
sẽ đưa anh lên đây làm việc. Anh
cứ viết, bao giờ xong chúng tôi sẽ xem lại
và góp ý. Mấy ngày cũng
được, để cho anh thư thả và có thì giờ
suy nghĩ. Chúng tôi không hạn
chế thời gian.’’
Ông
ta lấy trong cặp giấy ra đưa cho tôi một xấp giấy kẻ ngang
màu vàng.
“Anh
có bút rồi chứ? Giấy và mực
đây. Buổi trưa, buổi chiều về ăn
cơm anh để lại tất cả giấy tờ ở đây. Tôi nhắc lại
để anh nhớ. Trong
thời gian làm việc với tôi, anh không
được đi đâu cả, không được tiếp
xúc với bất cứ một người nào. Tôi sẽ
đưa anh đến đây và đến giờ ăn tôi
sẽ đưa anh về. Anh cần gì cứ báo cho
tôi hoặc những đồng chí ở Cục
biết. Nếu đau ốm anh đến phòng khám bệnh của Cục,
mà ở đây cũng gần
Viện E2. Thuốc chữa bệnh anh sẽ được cấp phát đầy
đủ.’’
Đến
trưa
ông ta chở tôi về 11 Hoàng Hoa
Thám. 1 giờ 30
chiều ông lại đạp xe về chở tôi lên. Đến
chiều,
tôi nói với ông:
“Anh
để tôi đi bộ cũng được. Đây với đó
không xa lắm.’’
Ông
ta cắn môi, một lát sau bật miệng:
“Thế
cũng được.’’
Nhiều
buổi
ông ta đi đâu chỉ còn một
mình tôi ngồi
trong phòng. Tôi
cũng không biết dãy nhà một tầng
này
là cơ quan nào, dùng để làm
gì
nữa. Có điều chắc chắn là giữa cái
nhà
câm lặng này và Cục đón tiếp
không có một quan hệ công tác
nào cả.
Suốt thời gian tôi đến đây ít khi
tôi thấy người ra vào. Dãy
gác này
các cửa phòng đều đóng kín.
Thỉnh
thoảng có một hai người đi ngang qua phòng
tôi
ngồi. Tôi đoán căn phòng
tôi đang ngồi đây là một
phòng vừa ở vừa
làm việc. Căn phòng này nhỏ,
chiều rộng hơn 3 mét. Một cái tủ đứng bằng gỗ tạp
và một bức màn vải
hoa xanh đỏ đã cũ che không hết phía
sau căn
phòng. Phía sau không biết
dài rộng bao nhiêu, luôn luôn
tối, chắc
là chỗ ngủ. Khoảng kê bàn để
tiếp khách và làm việc rộng khoảng 7
đến 8
mét vuông.
Trong
thời gian ở đây, thỉnh thoảng giữa chừng cuộc tra vấn
ông ta
mời tôi ăn bánh kẹo uống nước trà
và nói chuyện, chuyện nói bao giờ
cũng như vừa tâm sự vừa khuyên nhủ.
“Tôi
tiếc cho anh… những người như anh là nằm trong
hướng
đào tạo của Đảng…’’
Có
khi ông ta trong câu chuyện như tình cờ
hỏi thăm về gia đình của
tôi, anh em nội ngoại, bà con họ hàng
hiện nay ở Huế sống ra sao; từ
ngày thoát ly đến nay tôi có
liên hệ hoặc gặp gỡ họ đến không, cuộc
sống của họ thế nào… Tôi nói
hết cho ông ta nghe, và ông ta
có lần khi
không hỏi:
“Anh
thấy Sài Gòn thế
nào?’’
Tôi
cười:
“Tôi
chưa bao giờ vào Sài
Gòn.’’
“Thế
anh so Huế với Đà Nẵng thì thế
nào?’’
“Tôi
cũng chưa bao giờ vào Đà
Nẵng.’’
Tôi
biết
ông ta không tin, nhưng hơi sức đâu
mà
nói thêm nữa. Ông ta ậm ừ gì
đó trong
miệng, rồi gật gật cái đầu hỏi nữa:
“Anh
có bà con anh em gì ở Sài
Gòn hay Đà Nẵng
không?’’
Tôi
cười hứ một cái:
“Không.’’
Ông
ta hỏi những câu như thế bao giờ cũng làm như hỏi
cho vui để
qua thì giờ trong lúc ngồi uống nước.
Có lần ông ta nói là
ông ta chưa
thấy Huế bao giờ và bảo tôi kể sơ qua về Huế cho
ông nghe. Tôi biết qua
cách kể và nhận xét của tôi
về một thành phố địch tạm chiếm ông ta sẽ
đánh giá lập trường và quan điểm của
tôi. Đang chừng câu chuyện ông ta
hỏi:
“Bạn
bè của anh có ai làm việc cho địch
không?’’
Tôi
không cho câu hỏi này là
ngây thơ hay
tình cờ một chút nào hết.
Tôi nói:
“Bạn
bè tôi người nào đã đi
làm việc đều làm việc cho địch
hết.’’
“Thế
có ai là sĩ quan ngụy
không?’’
“Lính
cũng có mà sĩ quan cũng
có.’’
“Bây
giờ chắc có người đã lên đến cấp
tá.’’
“Hiện
nay
thì tôi không biết. Lúc
tôi
thoát ly, bạn bè tôi có
người đã
là trung úy.’’
“Phần
đông họ ở binh chủng nào?’’
“Hải
lục không quân đều có. Đa số
là ở bộ binh.’’
Một
ngày hai buổi trong khoảng một tuần ngày
nào tôi cũng phải leo
lên cái thang gác lộ thiên
vào ngồi trong căn phòng này để kiểm
điểm
với cái ông Thanh này. Khoảng 10 giờ
trưa ngày thứ hai, tôi đưa cho ông
ta bản kiểm điểm. Ông ta bỏ bản kiểm điểm của tôi
vào kẹp giấy.
“Được
tôi sẽ góp ý và bổ sung
thêm. Bây giờ anh có thể về
sớm.’’
Trời
vẫn mưa
lâm thâm và lạnh. Tôi uống một
chén
nước cho ấm bụng.
Tôi chưa xuống cầu thang vội, tôi đứng
tì hai tay
lên lan can ở hành
lang nhìn qua bên kia đường. Khoảng sân
của
dãy nhà này rộng, không
có
cây cối. Bên kia đường là vườn
bách
thú. Một khoảng đất dốc của núi
Nùng thấp thoáng sau các
tàng lá.
Tôi quàng cái áo mưa
lên cổ, bước
xuống thang gác. Đường Hoàng Hoa Thám
thường
ít người và ít xe. Nhà ăn
chưa có cơm, tôi quay ra cái
quán gần
ngõ mua diêm thì gặp anh
Doãn
Triều:
“Anh
Triều, anh đi đâu đó?’’
Anh
Triều trong cử chỉ có vẻ vội vã.
“Về
chuyện của mi đây.’’
Tôi
ngó quanh xem có ai luẩn quẩn không.
“Mầy
thiệt là thằng… Bữa trước tao với bà
Trai đã bảo mầy về Trại
sáng tác B, mầy không chịu. Mầy nghe
tao với bà Trai thì đâu có
chuyện
này xảy ra. Thằng Trác hại mày chớ
gì nữa.’’
“Tôi
nói thật với anh, tôi muốn trở lại chiến trường.
Ra
công tác A thì khó
vào lại lắm.
“Mầy
chẳng hiểu gì cả. Tao với bà Trai đang
tìm cách cứu mày đây.
Tao muốn nhân cơ hội này xin cho mầy về Trại
sáng tác B. Nhưng họ không
đồng ý. Họ bảo cần phải theo dõi mầy một thời
gian đã. Mầy thấy khổ
chưa. Nghe tao bữa trước là hay rồi.’’
“Anh
có gặp thằng Ngô, thằng Tình
báo cho
chúng nó biết chuyện tôi
với.’’
“Ở
Hội Văn nghệ một số anh em đã biết rồi. Bây giờ
tao cũng chưa rõ
là họ sẽ đưa mầy đi đâu nữa. Bà Trai
và tao sẽ tìm cách cứu mầy. Tao sợ
họ đưa mầy đi K3. Mà dám
lắm.’’
“Tôi
bây giờ khó đi đâu và gặp ai
hết.’’
“Tao
biết
rồi. Cục 78 đang theo sát mầy. Mầy cứ sống bình
thường.
Trường hợp có chuyện gì mầy cố tìm
cách
báo cho tao và bà Trai
biết.’’
Trước
khi chia tay, anh Triều nói:
“Nhớ
đừng
buồn gì hết. Phải cố sống như thường. Bà Trai gửi
cho mi
mấy gói thuốc. Tao cũng đem chừng, chưa chắc gặp mi
được.’’
Cách
đó hơn một hai tháng, anh Triều và chị
Trai
đã lên K65 nói tôi
về công tác ở Trại sáng tác
B, mọi thủ tục
chuyển tôi đi công tác đã
xong. Tôi không đi, tôi muốn
vào Nam.
Tôi nhớ mẹ tôi quá. Anh em bạn
bè
còn trong đó. Nếu ra công
tác A (tức
công tác ở miền Bắc), thì trở
vào
Nam rất khó. Lúc đó anh Triều
có giải
thích cho tôi rõ tôi đến
công
tác
ở Trại sáng tác B ở Hà Nội, nhưng vẫn
thuộc
biên chế cán bộ miền Nam.
Lúc
này tôi không hối tiếc gì về
việc này.
Tự tôi, tôi đã quyết định như thế.
Suốt
thời gian tôi bị tra vấn, thỉnh thoảng có một
vài người đến dự
cuộc. Những người này đều đã có mặt
trong cuộc thẩm vấn tôi ở K65, có
khi họ đến giữa buổi, có khi họ đến từ đầu. Có
người ngồi yên nghe hoặc
chỉ ghi chép; có người thình
lình trong cuộc đối đáp hỏi chen ngang một
câu. Thường những người này đều có
thái độ bực tức giận dữ ra mặt. Họ
đứng dậy chống tay lên mặt bàn hoặc vừa theo
dõi thái độ của tôi, vừa
nghếch lên nghếch xuống cái đầu. Giọng lưỡi của họ
bao giờ cũng nạt nộ,
dọa dẫm.
“Anh
nói không thành
thật.’’
“Anh
còn giấu chúng tôi nhiều
điều.’’
“Không
được đâu anh Đính. Anh nên nhớ anh
là người có tội. Anh còn
trẻ, anh phải nghĩ đến tương lai của mình. Đảng
không bỏ anh đâu, Đảng
sẽ khoan hồng, nhưng anh không được giấu Đảng. Đảng biết hết
rồi.’’
“Anh
là ai? Anh hãy nói thật
đi!’’
“Anh
đã làm gì cho
địch?’’
“Chúng
tôi biết hết, anh không qua mặt được
chúng tôi đâu.’’
Rồi
họ lấy những tấm ảnh chụp nhật ký của tôi, những
ghi chép mà họ
đã tịch thu của tôi ra, cứ theo cái
đà đó, hạch sách, dọa nạt
tôi.
Thường họ hay kéo nhau ra ngoài hội ý
to nhỏ với nhau, rồi sau đó đi
vào phòng họ bảo nhau: “Cứ
thế… cứ thế… ừ ừ… cứ
thế…”
Ông
Lai kẻ chủ chòm cuộc tra vấn tôi thường đến dự
cuộc. Một hôm
ông ta đưa cho tôi mấy tờ giấy có chữ
đánh máy bảo tôi đọc. Đó
là một
bài thơ, không ghi tên tác
giả, nhan đề là “Cảnh tượng”.
Tôi chỉ nhớ
đại ý man mán: vào một ngày
mùa hè nóng dữ dội, một
chàng thi sĩ bước
vào một vườn hoa, có một bông hoa đỏ
rực. Thi sĩ đi khỏi vườn hoa và
lạc vào một khu vườn hoang, ở đó có
một cây ngọc lan đang ra hoa, nhưng
tầm gởi và gai gốc bám đầy. Một con cú
quàng khăn đỏ đang đậu trên
cành. Thi sĩ đang bàng hoàng
thì một con mèo đen ở đâu đó
xuất hiện.
Thi sĩ hoảng hốt bỏ chạy…
Ông
Lai hỏi tôi
“Anh
biết tác giả bài thơ này
chứ?’’
“Tôi
không biết.’’
“Anh
thấy bài thơ này thế
nào?’’
“Đó
là một bài tả cảnh.’’
Và
ông ta không hỏi gì thêm nữa.
Có thể họ
tin tôi không biết người
làm ra bài thơ này thật.
Bài thơ này
của Nguyễn Hữu Ngô dán trên
báo
tường ở Đài Giải phóng (58 Quán Sứ,
Hà
Nội). Bài này tôi đã đọc
lâu
rồi.
Khi
tra vấn tôi trong bản kiểm điểm, đến mục quan hệ bạn
bè, ông Thanh hỏi:
“Anh
có bạn bè ở Hà Nội
không?’’
Tôi
nói có.
“Đó
là những ai.’’
“Hồ
Thanh [1] , Nguyễn
Hữu Ngô.’’
“Họ
là người thế nào?’’
“Bạn
cũ của tôi ở Huế.’’
“Có
phải bạn thân không?’’
“Bạn
thân.’’
“Bây
giờ họ đang làm gì?’’
“Công
tác tại Đài Giải
phóng.’’
“Anh
có hay đến Đài Giải phóng
không?’’
“Có.’’
“Tư
tưởng của những người đó như thế
nào?’’
“Tôi
không biết.’’
“Bạn
bè thân với nhau mà anh lại
nói không biết.’’
“Làm
sao tôi biết hết họ được.’’
“Thế
anh thường trao đổi với họ về những điều mà anh
đã viết trong
nhật ký không? Cụ thể là thế
này, có khi nào anh trao đổi với anh
Ngô,
anh Thanh và những người khác nữa những suy nghĩ
của anh về miền Bắc,
về chế độ xã hội chủ nghĩa, về Đảng, về chiến tranh
vân vân… Và ý kiến
của họ như thế nào? Họ có đồng ý với
anh không?’’
Tôi
nói ngay:
“Chúng
tôi lâu lâu mới gặp nhau và
mỗi lần gặp nhau thường nói đủ
thứ chuyện. Tất nhiên trong câu chuyện thường cũng
hay nói đến những
suy nghĩ của mình về miền Bắc, về chủ nghĩa xã
hội, về Đảng… và việc
đồng ý hoặc không đồng ý với nhau về
một điểm nào đó là chuyện
thường.’’
“Thí
dụ họ đã đồng ý với anh về những điều
gì?’’
“Làm
sao tôi nhớ hết được.’’
Vẻ
bực tức và giận dữ của ông Lai lộ ra ngay trong cử
chỉ và thái
độ. Ông ta hứ một tiếng. Đến nước này
tôi chẳng cần phải giữ ý tứ gì
nữa. Mặc kệ, họ muốn làm gì tôi
thì làm.
Buổi
chiều ngày tôi nộp bản kiểm điểm, tôi
lên lại căn phòng này.
Lúc đó, ông Thanh vừa mới ngủ dậy.
Ông bảo tôi rót nước pha chè
uống.
Ông lấy mấy tờ Nhân
dân, Quân
đội Nhân dân để giữa
bàn, rồi bảo tôi ông đi có
việc một lát sẽ trở về.
Tiếng
mở khóa xe đạp nghe cách một cái,
ông ta vác xe xuống thang
gác. Giữa chừng thang gác phần lộ thiên
một cô gái bước lên. Ông ta
dừng lại nói gì với cô ta rồi đi xuống.
Ông ta đạp xe về ngã Ba Đình.
Tôi nghe tiếng dép nhựa lóc
cóc trên thang gác, rồi lẹt xẹt
ngoài hành
lang. Cửa phòng vẫn mở. Cô gái
ngó vào như tình cờ. Thỉnh thoảng
cô lại
đi ngang qua phòng tôi ngồi, khi cầm tờ
báo, khi xách phích nước.
Tôi
cầm mấy tờ báo lật qua lật lại. Dãy
nhà này không biết dùng để
làm gì
mà yên tĩnh thật. Thỉnh thoảng mới nghe tiếng
người nói ở tầng trệt.
Cũng không thấy xe cộ ra vào. Không thấy
bóng trẻ con. Tôi hút thuốc,
uống nước. Có lẽ ông Thanh này chưa bao
giờ vào chiến trường. Ông ta
tập kết ra Bắc rồi làm việc luôn từ đó
đến nay. Chắc ông ta ở ban bảo
vệ Đảng của Ban Thống nhất Trung ương. Còn căn
phòng này, có lẽ ông ta
mượn để làm việc với tôi. Ngoài
ông ta ra, không bao giờ tôi thấy một
người nào ở trong phòng này.
Tôi nhìn lên bức tường trước mặt. Ảnh
Chủ
tịch Hồ Chí Minh đứng khoác áo đưa tay
chào, phía dưới là những ảnh
màu
chụp người, nhà cửa, xe cộ cắt từ báo ảnh
Liên Xô. Anh Triều có nói
người ta dám đưa tôi đi K3 lắm. K3 là
trại cải tạo những phần tử xấu,
phản động ở Quảng Bình. Tôi cũng chỉ nghe
nói thế, nhưng không biết cái
K3 này như thế nào? Hồi mới ra Hà Nội,
tôi gặp thằng Ngô, thằng Tình,
Út (Ý Nhi) đang đứng trước veranda [2]
của Đài Giải phóng ở 58 Quán Sứ,
tôi nói với thằng Ngô: “Rứa
mà tụi hắn
đồn mi bị đưa ra Bắc là để đi cải tạo ở K3 Quảng
Bình”. Thằng Ngô đẩy
cái kính cận thị sát mắt:
“Thiệt hả mi? Tụi hắn đồn rứa hả mi?”, rồi
hắn ngửa mặt lên trời cười ha ha rất sướng.
Một
tiếng đồng hồ sau, ông mà tôi tạm gọi
là Thanh này trở lại. Ông
ta dắt xe lên thang gác, dựng xe vào
lan can ngay trước cửa, khóa lại,
cầm túi xách, đi thẳng vào sau
phòng. Ông ta trở ra một tay cầm một cặp
giấy, một tay xách cái bót da
màu đen. Ông ta để cặp sau lưng ghế, rồi
lật cặp giấy, rút bản kiểm điểm của tôi ra để
lên bàn.
“Tôi
đã đọc bản kiểm điểm của anh rồi. Anh đã viết
theo dàn bài mà
tôi gợi ý. Nhưng vẫn còn nhiều, rất
nhiều chỗ cần phải viết lại. Tôi đã
nói với anh nhiều lần, chúng tôi muốn
cứu anh. Chúng tôi đã tạo điều
kiện cho anh thấy rõ những sai lầm của mình để
có phương hướng sửa
chữa. Anh nên hiểu rằng đối với những trường hợp như anh
thường người
ta có ngay biện pháp xử lý.
Và, chúng tôi chỉ cần thực hiện
ý kiến của
tập thể anh chị em ở K65 đối với anh là đủ. Nhưng
chúng tôi không làm
như thế. Chúng tôi tin con người anh có
thể cải tạo được. Anh sẽ trở
nên một người có ích mà
cách mạng miền Nam đang cần.’’
Ông
ta đưa bản kiểm điểm cho tôi và nói
tiếp:
“Anh
viết còn thiếu nhiều lắm. Anh chưa thật sự thành
khẩn và không cụ thể.’’
Ông
ta bảo tôi đọc bản kiểm điểm. Trong bản kiểm điểm của
tôi,
nhiều chỗ bên lề và phần giấy còn lại
có những chữ ghi chú nhằm sửa sai
tôi của ông ta.
Bản
kiểm điểm của tôi có ba phần: A- Tóm
tắt lý lịch; B- Phần kiểm
điểm; C- Phương hướng sửa chữa. Tôi ghi lại dưới
đây bản kiểm điểm của
tôi (bản thảo) đã được ông Thanh
này góp ý sửa chữa nhiều lần.
A-
Tóm tắt lý lịch.
Họ
và tên: Nguyễn Đính, tên
riêng: Nhân.
Làm
thơ lấy tên Trần vàng Sao.
Sinh
ngày ………….. tại
……………
B-
Phần kiểm điểm.
Sau
khi đã được các đồng chí ở Cục
đón tiếp cán bộ B [3]và
tập thể K65 góp ý kiến và
phân tích,
tôi đã nhận thấy rõ những sai
phạm về ý thức, tư tưởng có tính phản
động của
mình, tôi tự kiểm điểm
mình như sau:
Bằng
nhật
ký, những ghi chép khi đọc sách, thư
từ và
thơ văn, tôi đã biểu lộ những tư tưởng
và suy nghĩ [4]
chống Đảng, nói xấu các đồng chí
lãnh đạo ở Trung ương, xúc phạm lãnh
tụ, mạt sát các Đảng viên,
xuyên tạc chế độ xã hội chủ nghĩa ở miền
Bắc, nhận thức sai lầm về cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước
hiện nay;
khinh miệt giới văn nghệ sĩ và tri thức miền Bắc.
1) Đối
với chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc.
-
Về chuyên chính vô sản.
Một
thắc mắc
đã có trong đầu óc tôi khi ở
miền Bắc
là những điều đã
nói trong kinh điển về chuyên chính
vô sản
và sự thực thi chuyên chính
vô sản ở miền Bắc là hoàn
toàn trái
nghịch nhau. Chuyên chính vô sản
và
sự lãnh đạo của Đảng không phải là một.
Staline khi
đấu tranh chống lại
bọn cơ hội trong Đảng đã xác định rõ
(về mặt
lý thuyết) rằng: Nếu như
Lénine có lần nói
“chuyên chính
của Đảng” là muốn nói Đảng
không chia
quyền lãnh đạo với một phe phái nào
khác,
vì chuyên chính vô sản
là
chuyên chính của giai cấp vô sản đối với
các
giai cấp phản động chống
đối cách mạng. Còn nếu “Đảng
chuyên
chính” thì chuyên
chính với ai,
không lẽ lại chuyên chính với giai cấp
đang nắm
chính quyền là giai cấp
vô sản. Staline đã xác định điều
đó
là sai lầm, không thể coi sự lãnh
đạo của Đảng và chuyên chính
vô sản là
một (xin xem Staline
toàn tập, tập 6) [5] .
Khi
ở miền Bắc, tôi có cảm nghĩ là miền Bắc
đã vi phạm nguyên tắc
kinh điển đó. Tôi cho là Đảng
đã với tay quá dài ra khỏi quyền
lãnh đạo
của mình để xâm phạm vào quyền
chuyên chính của giai cấp vô sản. Ở
các
Đảng bộ cơ sở, tôi cảm thấy hình như
cách làm việc có tính quan
liêu,
mệnh lệnh của những đồng chí lãnh đạo
đã thể hiện sự vi phạm nguyên tắc
đó. Quyền hạn của chi bộ, Đảng bộ to quá, lấn
áp cả quyền hành chính.
Quần chúng muốn được tiếng là tiến bộ
thì không dám phê
bình thẳng Đảng
viên, cấp ủy. Như thế, tôi kết luận, ở miền Bắc chỉ
có chuyên chính của
Đảng, chứ không phải là chuyên
chính của giai cấp vô sản. Và
chuyên
chính của Đảng đó thực chất là
chuyên chính của Trung ương. Giai cấp vô
sản, rõ ra là chuyên chính
của giai cấp này, không có thực quyền.
-
Về kinh tế.
Tôi
cho rằng miền Bắc khó có thể tái sản
xuất mở rộng được. Khu vực
sản xuất tư liệu sản xuất và khu vực sản xuất tư liệu
tiêu dùng bị mất
cân đối trầm trọng. Vừa tích lũy vốn
dành cho khu vực trên, vừa phải
dành cho nhân dân đủ ăn, đủ mặc, lại
thêm đất nước có chiến tranh, đó
là một vấn đề nan giải. Trong lúc đó,
bất cứ một quan hệ nào giữa người
dân với người dân cũng đều được gọi là
quan hệ sản xuất xã hội chủ
nghĩa [6]
. Tôi nghĩ rằng muốn có một quan hệ sản xuất
xã hội chủ nghĩa, trước
hết phải có hai điều kiện cần và đủ
là, một là lực lượng sản xuất xã
hội chủ nghĩa, hai là khối lượng vật chất tiêu
dùng của nhân dân phải
có tính xã hội chủ nghĩa.
Không có đủ hai điều kiện đó
thì mọi quan hệ
trong xã hội gọi là quan hệ sản xuất
xã hội chủ nghĩa đều là ảo tưởng.
Miền Bắc chưa có hai điều kiện đó. Ăn mặc thiếu
thốn, làm ăn bỏ công bỏ
việc mà cứ nói quan hệ sản xuất xã hội
chủ nghĩa. Tôi cho như thế là
chúng ta đã quá chú trọng
về phía trước mà bỏ quên hiện tại
chúng ta
đang có nhiều thiếu thốn khó khăn. Và
tôi nghĩ rằng tình trạng trộm
cắp, gian thương, những cách làm ăn bê
bối trong các cửa hàng mậu dịch,
hợp tác xã buôn bán, ăn
uống… do đó mà ra cả.
Tôi
cho là nhân dân thì thiếu
thốn, kẻ giàu người nghèo trong xã
hội còn nhiều, người có nhiều thịt, kẻ
không có thịt mà ăn như thế
là
không bình đẳng. Còn lâu
nhân dân mới thấy chủ nghĩa xã hội thật
sự.
-
Về văn học”nghệ thuật.
Tôi
có thái độ bất kính đối với một số
người
làm công tác văn học
nghệ thuật ở miền Bắc. Tôi cho họ có
tài, nhưng
không dám suy nghĩ độc
lập, viết lách theo chỉ thị nghị quyết của Đảng; viết một
điều
gì sợ
mất lập trường hoặc không đủ luận cứ để trình
bày
thì họ lại trích dẫn
nghị quyết, lời của các đồng chí lãnh
đạo. Như thế
là họ nịnh lãnh đạo,
làm việc miễn cưỡng, thiếu tự do. Họ có tiếng
mà
không có miếng. Tôi
nghĩ rằng từ cân thịt, lạng đường họ được phân phối
thì cái kiến thức
của họ cũng căn cứ vào đó, lấy đó
làm cơ
sở, mà phân phối. Tôi thắc mắc
vì sao trí thức miền Bắc được Đảng và
Chính
phủ đào tạo bao nhiêu năm
nay lại không viết được một quyển sách
nào về kinh
tế, chính trị hoặc
nghiên cứu về triết học khả dĩ có giá
trị mà
tất cả đều do các đồng chí
ở Trung ương. Viết về Bác Hồ cũng chỉ có đồng
chí
Phạm Văn Đồng, đồng
chí Tố Hữu… Cả cái kho tàng
lý luận
Marx – Lénine đồ sộ như thế mà
các
nhà nghiên cứu đã có cuốn
sách
nào cống hiến cho nền lý luận chủ nghĩa
Marx-Lénine ở Việt Nam chưa, hay rồi cũng chỉ có
Bác Hồ, các đồng chí ở
Trung ương, như cuốn Dưới
lá cờ vẻ vang của Đảng…
của đồng chí Lê Duẩn. Tôi mất tin tưởng
ở một số
người làm văn nghệ và trí thức ở miền
Bắc
là vì thế. Do đó mà
tôi đã
nói:
“Nếu
không có tài đánh giặc
thì miền Bắc
chỉ là một vũng nước bùn lộn cứt”.
Một
số cuốn sách và bài báo
viết về văn học phản động ở bên Tây hay
ở vùng địch tạm chiếm đã làm cho
tôi ít tin tưởng ở sự hiểu biết của
các tác giả về loại văn học này.
Tôi cho họ chưa đủ sức để đối đầu với
địch về phương diện này. Tôi nghĩ có
chính nghĩa chưa đủ, cần phải có
kiến thức. Về hạn chế sinh đẻ, tôi cho đó
là tàn nhẫn. Tôi ghê tởm
chuyện nạo thai. Hạn chế sinh đẻ, tôi nghĩ, chẳng qua
là một cách giải
quyết sự thiếu thốn, khó khăn về nhân khẩu.
Đó
là những suy nghĩ và tư tưởng hết sức sai lầm
và phản động của
tôi. Những điều tôi hiểu trong sách vở
chưa thấu đáo, sự liên hệ thực
tế của tôi lại có tính cách
xuyên tạc, hơn nữa lại hết sức mơ hồ và bản
thân tôi không tìm ra một
chứng cứ cụ thể. Tôi biết một mà chưa biết
hai. Tôi chưa hiểu rõ về sự lãnh đạo
của Đảng. “Đảng ta là một Đảng cầm
quyền” [7] .
Đối
với
xã hội miền Bắc, tôi không hiểu hết
những đặc điểm
của nó.
Tôi chỉ thấy khó khăn mà
không thấy thuận
lợi. Thấy một vài hiện tượng
ở bên ngoài xã hội tôi
đã vội
vàng kết luận đó là thực chất của
xã hội.
Do đó, trong ghi chép, nhật ký, thơ
văn của
tôi, tôi chỉ nêu lên những
khó khăn, đau đớn, thiếu thốn trong xã hội,
mà
không nêu hết cái tốt,
cái ưu việt của xã hội. Những sai lầm
đó đã
dẫn tôi đến sự mất tin
tưởng, bất mãn với chế độ [8]
. Từ đó, cái gì thật sự là
tốt đẹp
tôi cũng nói là xấu như vấn đề hạn chế
sinh đẻ
chẳng hạn.
Cái
óc tiểu tư sản vẫn chưa được gột rửa hết những tư tưởng phản
động tiêm nhiễm trong những năm tôi sống trong
vùng
địch còn sót lại,
thêm vào, đó là
tính tự cao tự đại
của tôi, đã làm cho tôi
có thái
độ
khinh miệt một số người làm văn nghệ và tri thức
ở miền
Bắc và khen bọn
Trần Dần, Phùng Quán. Từ đó
tôi có tư
tưởng chống lại đường lối văn
nghệ của Đảng. Tôi cho các đồng chí
Phạm Văn Đồng,
Trường Chinh, Tố
Hữu… không phải là những chân
lý sống
của nghệ thuật. Con người ta có
hạn, nghệ thuật thì lâu dài,
không thể căn cứ
vào những lời nói của các
đồng chí lãnh đạo để làm bằng cứ cho
chân
lý của nghệ thuật được.
2) Đối
với sự lãnh đạo của Đảng
Từ
những suy
nghĩ về chuyên chính vô sản
và nền kinh tế
của miền Bắc, tôi đã có thái
độ không
tin tưởng ở sự lãnh đạo của Đảng.
Tôi
cho rằng tất cả những tệ nạn xã hội hiện nay Trung ương đều
biết, nhưng Trung ương bất lực không giải quyết nổi.
Tôi nghĩ rằng
Trung ương Đảng chỉ có tài lãnh đạo
đánh giặc chứ không có kinh nghiệm
về xây dựng chủ nghĩa xã hội, nhất là
về kinh tế.
Tôi
cho rằng trong cuộc cách mạng của ta, ta chủ trương
xóa bỏ giai
cấp, nhưng trong xã hội lại hình thành
một giai cấp mới, đó là giai cấp
lãnh đạo mà Trung ương là đứng đầu.
Giai cấp lãnh đạo này có nhiều
đường, nhiều thịt sống trên lưng trên cổ
nhân dân, ra chỉ thị, nghị
quyết cho những thằng ở dưới.
Từ
chống đối, bất mãn đó có khi
tôi đã nói xấu các đồng
chí lãnh
đạo. Tôi gọi Tố Hữu, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng
là những tên và trong
bài thơ Sân Khấu II tôi đã
xúc phạm lãnh tụ [9] .
Đối
với
các Đảng viên có lần tôi
đã chê
bai và mạt sát thậm tệ. Tôi
đã dùng những lời lẽ hết sức vô lễ, hết
sức bẩn
thỉu như cái chổi quét
nhà, ăn máu tanh đàn bà,
cuồng tín
để nói về họ. Tôi đã cho Đảng
đã
thành công trong việc biến những Đảng
viên
thành những đinh ốc, bù
loong.
Suy
nghĩ như thế, tôi căm tức, tôi cho Trung ương Đảng
không biết
hết những cực khổ, nhọc nhằn của nhân dân.
Tôi muốn nhân dân phải biểu
tình, viết báo chữ to tố cáo những kẻ
ngồi trên sung sướng để nhân dân
phải cực khổ, nói rõ những nguyện vọng của
mình và nổ súng vào bọn đầu
trâu mặt ngựa.
Những
tư tưởng của tôi về sự lãnh đạo của Đảng hết sức
phản động.
Tôi đã tỏ thái độ căm tức hết sức
điên cuồng, không lối thoát.
Tôi đã
quên mất rằng, chúng ta đang đánh Mỹ,
bất cứ một hành động, một suy
nghĩ nào có phương hại đến chế độ, đến uy
tín của Đảng kẻ thù đều muốn
lợi dụng.
Cuốn
La
nouvelle classe dirigeante của M.
Djilas [10]
(một tên xét lại phản động đã từng
làm bộ trưởng ngoại giao Nam Tư) mà
tôi đã biết hồi còn ở trong
vùng địch đã làm cho tôi
có suy nghĩ sai về
Đảng là “một giai cấp lãnh đạo
mới”. Sai lầm của một số Đảng viên đã
làm cho tôi hiểu sai không
đúng đắn về Đảng viên của Đảng. Những
lúc
suy nghĩ như thế tôi đã quên mất trong
bất cứ một cuộc đấu tranh chống
xâm lược hoặc trên một lĩnh vực nào,
Đảng viên là những người đi trước
hơn tất cả, là những người đã hy sinh nhiều hơn
tất cả.
Tôi
thắc mắc về những va chạm trong đường lối của các Đảng anh
em
trong phong trào cộng sản quốc tế. Mỗi Đảng đều
có một sách lược riêng,
một chiến lược riêng. Ai đúng? Ai sai? Nhưng
chính tôi, tôi cũng rất
hãnh diện về Đảng ta đã có một đường
lối độc lập hoàn toàn, không phụ
thuộc vào một Đảng nào khác.
Chính nhiều khi tôi cũng đã nghĩ con
đường
từ Mạc Tư Khoa sang Bắc Kinh phải qua Hà Nội.
Thực
tiễn của hai cuộc kháng chiến chống xâm lược
và của công cuộc
xây dựng chủ nghĩa xã hội ngày nay phải
làm cho tôi hiểu rõ điều đó.
Nước ta là nước Việt Nam, Đảng ta là Đảng Lao
động Việt Nam, người sáng
lập và đứng đầu là Hồ Chủ Tịch, ta có
đường lối của ta. Cái tinh túy
của chủ nghĩa Marx – Lénine là ở trong
cách mạng Việt Nam, được áp dụng
một cách sống động và phù hợp với
hoàn cảnh Việt Nam.
3) Đối
với sự nghiệp chống Mỹ cứu nước
Tôi
đã mất bình tĩnh trước sự kéo
dài của chiến tranh. Tôi tin
tưởng nhất định ta sẽ thắng, nhưng nhân dân ta sẽ
chết rất nhiều. Tôi
bị ám ảnh bởi sự chết chóc của chiến tranh
gây ra. Cuộc đánh nhau ở Nam
Lào đã dằn vặt ý thức tôi.
Nam Lào, tôi nghĩ nơi thí điểm của
chiến
lược Việt Nam hóa của Nixon. Hắn gieo gió ở
đó, và những người Việt Nam
phải gặt bão, phải chết ở đó.
Tôi
đã có những tư tưởng căm thù
và ghê tởm chiến tranh như thế.
Tôi đã lên án tất cả
các cuộc chiến tranh, không phân biệt
chiến tranh
phi nghĩa và chính nghĩa. Và
tôi đả đảo chiến tranh.
Với
những
ý nghĩ đó ngay trong bản thân
tôi, tôi
đã thủ tiêu sự đấu
tranh rồi. Tôi đã quên mất rằng
chính sự chết
chóc, tàn phá, nô lệ,
tù
đày là do đế quốc gây ra. Muốn chấm dứt
chết
chóc và tàn phá
thì phải
đuổi bọn xâm lược Mỹ ra khỏi bờ cõi nước ta. Muốn
thế
thì phải cầm súng
để ngăn chặn chiến tranh phi nghĩa. Thà hy sinh tất cả, nhất
định không
chịu làm nô lệ. Không gì
quý hơn độc
lập, tự do.
4) Về
quan hệ
Tôi
đã trao đổi những thắc mắc, suy nghĩ của tôi để
mong có sự đồng
tình với một số bạn bè hoặc mới quen khi ra Bắc
hoặc đã quen từ trước
trong chiến trường. Và cũng đã có một
số bạn bè như Nguyễn Hữu Ngô, Bùi
Đức Mẫn đã có một vài điểm đồng
tình với tôi. Nguyễn Hữu Ngô đồng
ý với
tôi về cái nhìn của tôi về
chiến tranh và về sự bất lực của lãnh đạo
trước một vài tình trạng xấu của xã
hội. Mẫn đồng ý với tôi về nguyên
nhân của sự bất bình đẳng trong xã hội.
Trong
quan hệ
với bạn bè như thế, tôi đã
gây ảnh hưởng xấu
cho họ. Tôi đã sai trái còn
làm cho
họ sai trái theo tôi.
C-
Phương hướng sửa chữa
- Bằng thực tiễn lao động để tự cải tạo mình [11]
- Phải tìm hiểu những cái hay
cái đẹp của xã hội ta để cải tạo nhận thức
- Học hỏi ở các đồng chí chung quanh [12]
- Đọc sách phải đúng đắn và
nghiêm
túc hơn nữa. Học tập chủ nghĩa Marx –
Lénine để cải
tạo tư tưởng mình.
Nói thật, tôi mệt mỏi và
chán lắm rồi, tôi viết cho qua. Suốt ba bốn
ngày, ông Thanh này xoay tôi
từng chữ, từng câu, từng ý, gạch bỏ,
thêm
bớt, và làm cái việc gọi là
gợi ý cho tôi thêm nhiều đoạn nữa.
Tôi
viết
lại bản kiểm điểm, thêm vào những điểm bổ sung,
rồi nộp
cho ông Thanh. Ông ta bảo tôi đọc cho
ông ta
nghe. Tôi đọc và không cần
để ý đến thái độ của ông ta. Thỉnh
thoảng ông
ta ngắt tôi và góp ý
thêm
bớt. Ngay ở đoạn đầu phần kiểm điểm: “Từ ngày ra
Bắc, bằng
nhật ký,
những ghi chép khi đọc sách, thư từ và
thơ văn,
tôi đã biểu lộ những tư
tưởng và suy nghĩ chống Đảng…”,
ông ta lắc
đầu nói to:
“Tôi
đã ghi chú ở ngoài lề là
anh phải ghi
thêm hai chữ “hành động”
vào, “biểu lộ những tư tưởng, suy nghĩ
và
hành động” nữa chứ.’’
Tôi
nói liền:
“Tôi
chỉ có tư tưởng, lập trường chống Đảng, chứ không
có hành động chống Đảng.’’
Tôi
nhất định không làm theo ông ta.
Ông
Thanh nói:
“Bản
kiểm điểm của anh vẫn chưa đầy đủ. Những điều anh đã
nói thì
anh không nói hết, và còn
nhiều vấn đề anh chưa nói. Sự thành khẩn của
anh chỉ có mức độ. Chúng tôi chấp nhận
ngang đó đã. Không phải anh kiểm
điểm như thế là hết đâu. Đó mới chỉ
là một bước. Và anh còn tiếp tục
làm việc với chúng
tôi.’’
Có
người đứng ngoài hành lang. Ông ta đứng
dậy đi ra. Hai người to
nhỏ một lúc. Ông kia nghiêng đầu
nhìn tôi, rồi đi xuống cầu thang. Ông
Thanh trở vào:
“Chiều
nay
anh tạm nghỉ cái đã. Tôi cũng
thông cảm cho
anh, kể ra anh cũng căng thẳng. Sáng mai tám giờ
anh lại
đến gặp tôi.’’
Tôi
nói: