Trần Vàng Sao
Tôi
bị bắt
(Nhớ lại những năm
tháng tôi bị bắt rồi được thả ra và
sống như tù) 10 kì
Sau
khi đăng 4 kì hồi kí của nhà thơ Trần
Vàng Sao, chúng tôi đã
xác minh
được tên nguyên thủy cuả tác phẩm
này. Nay xin sửa tên mà nhà
nghiên
cứu Lữ Phương tạm đặt (Hồi ức của một người tù
không bị giam vào ngục) thành
tên do tác giả đặt: Tôi bị bắt
(Nhớ lại những năm tháng tôi bị bắt rồi được thả
ra
và sống như tù). Chân thành
cáo lỗi
cùng tác giả và độc giả.
talawas
Cái
nhà khách mà tôi ở trong
những ngày bị khảo tra thường chỉ có một
mình tôi. Lâu lắm mới có một
cán bộ miền Nam đến ngủ qua đêm. Chắc
tôi là người đầu tiên và duy
nhất
ở đây lâu ngày. Một buổi chiều khoảng 3
giờ, lúc đó tôi đang ngồi đọc
báo ở trên giường, một ông bước
vào.
“Chào
anh.’’
Ông
ta
trạc năm mươi tuổi, người cao gầy, hơi đen. Ông ta mặc một
bộ đồng phục, áo bốn túi màu
vàng đất, đội
mũ phớt Liên Xô màu xám.
Ông
ta là người trong đoàn khảo tra tôi ở
K65 và
cách đây mấy hôm ông cũng
có mặt trong phòng của ông Thanh nọ.
Sau tiếng
chào, ông ta nói liền:
“Tôi
đến gặp anh và nói chuyện cho vui,
không phải đến làm việc với
anh đâu, anh đừng ngại. Tôi biết anh ở Huế
và biết nhiều về Huế nên tôi
đến hỏi anh một vài chuyện.’’
Ông
ta tỏ vẻ thành thật. Nhưng đối với tôi
lúc này tất cả những
người thuộc loại này đều không tin. Ông
ta nói ông là người Thừa
Thiên,
có bà con ở Huế. Chắc ông ta muốn biết
tin tức người thân mà biết đâu
tôi biết. Ông hỏi tôi về Huế, về cầu
Trường Tiền, chợ Đông Ba, chợ Bến
Ngự, chợ An Cựu…, về sinh hoạt ở Huế, về mức sống của người
Huế. Ông
nói:
“Tôi
nói thật tôi tiếc cho anh lắm, anh Đính
ạ. Những người như
anh, có nhiều điều kiện tiến bộ, tiếc là anh lại
vấp vào những chuyện
như thế.’’
Nói
chuyện một hồi, ông ta đứng dậy nhìn
cái
phòng to dài chỉ có một
mình tôi
và một dãy giường trống không
có chiếu.
Ông nói:
“Ở
đây, anh dễ tự tử lắm. Nhưng anh đừng có
dại.’’
Ông
bước ra ngoài:
“Tôi
đến nói chuyện với anh cho vui, chứ không
có
ý gì hết. Khi khác sẽ gặp lại
anh.’’
Ông
ngập ngừng ở ngoài cửa dưới mái hiên:
“Kể
ra ở đây một mình cũng buồn
thật.’’
Tôi
ra 11A Hoàng Hoa Thám ăn cơm. Cơm ở đây
khác với các K điều
dưỡng cho cán bộ miền Nam là có độn
mì sợi. Lúc này tôi ăn rất
nhiều và
rất ngon, nhiều khi không thấy no và có
vẻ thèm ăn nữa. Tôi ăn cơm một
mình như mọi người khác. Ai đến trước ăn trước.
Người ăn không đông, độ
trên mười người, trừ những ngày có
khách, nhưng khách lại không đều,
trưa năm, sáu người, chiều còn một hai, hoặc
không có ai, hoặc đông
hơn, bất chừng. Tôi là người khách duy
nhất thường trực ở đây. Có khi
tôi ngồi ăn chung bàn với người gác
cổng. Sau bữa ăn, thỉnh thoảng ông
mời tôi ra phòng trực cũng là
nhà ở của ông, uống trà hút
thuốc nói
chuyện.
Tôi
nói với ông:
“Nếu
tôi ở đây thì vui biết mấy.
Có khi
thèm uống trà, ở trong đó cũng
chịu.’’
Khi
có dịp uống nước với ông, thường bao giờ cũng
vào buổi chiều,
tôi ngồi ở đây cho đến sập tối. Tôi ngồi
uống nước, còn ông ta thì lục
đục làm một việc gì đó.
“Anh
ở đây còn lâu
không?’’ Ông hỏi tôi.
“Tôi
cũng không biết nữa.’’
“Gần
Tết rồi. Anh có đi phép
không?’’
Tôi
lắc đầu. Ông nói:
“Có
mấy người quen ở quê ra nhắn tôi gặp nhau một bữa,
nhưng chắc là sau Tết.’’
Ông
ta nói giọng Nam bộ hơi pha Bắc.
“Anh
năm nay bao nhiêu tuổi?’’
“Dạ,
ba mươi.’’
“Tết
mà ở nhà khách thì buồn
chết.’’
Rồi
tôi trở lại cái phòng mà
người ta đã sắp xếp cho tôi ở trong
một cái hẻm vắng. Một hai ba bốn năm sáu
ngày hay mấy nữa tôi cũng
không nhớ, một mình, không quen cũng
không được, cứ ăn cơm xong tôi trở
lại đó, một mình, không buồn
không vui, không gì hết. Tôi
cũng không
nghĩ ngày mai người ta sẽ làm gì
tôi nữa. Hình như những lúc
này tôi
không còn chán nản, mệt mỏi nữa.
Tôi như một người bị liệt từ não bộ
đến cơ bắp. Tôi lừ đừ, một mình, một
cõi, ngày như đêm, đêm như
ngày,
không gặp ai, không thấy ai, không
có ai nói chuyện. Chung quanh tôi,
người lạ. Tôi như chết rồi. Chỉ còn một
bóng dáng ám ảnh, dày
vò tôi,
đó là mẹ tôi. Và
tôi thấy mình còn thở.
Nửa
đêm
thức giấc, tôi không nhớ mình
đâu. Tôi
tưởng tôi cứ như
thường, tôi thấy mình bình
yên. Tôi trở
dậy, mở toang cửa ra ngồi ngoài
thềm hút thuốc. Không biết mấy giờ rồi.
Bây giờ
mà có trăng, ánh sáng
sẽ làm cho không khí bớt nặng
và tôi
có thể nhìn thấy mọi vật chung
quanh, thấy mình bớt vắng lạnh. Nhiều đêm như thế
này, tôi bật đèn, mở
toang cửa ra, tôi có cảm tưởng cái
ánh
sáng thình lình ào ra
ngoài
đã
làm cho đất đá và các vật
ngổn ngang
ngoài sân kia vụt thức dậy. Tôi
đứng sửng trước cửa như trời trồng. Bây giờ tôi
không
còn ai nữa, ngoài
đất đá và những thứ vô dụng người ta
vất bỏ
ngoài kia. Tôi cảm thấy
chúng cần thiết và thân mật với
tôi
lúc này đây. Cái cảm
giác trống
không và không nhớ gì hết
đã bắt đầu
trong tôi từ đây, bây giờ. Rồi
đây
sẽ có những lúc tôi lang thang giữa
phố, trên
các đường làng, ngoài
đồng, giữa chợ ở những nơi xa lạ, một mình, đầu
óc trống
không, không
nhớ gì hết. Chỉ có cơn đau dạ dày
làm
tôi đặt tay lên bụng và biết rằng
mình còn sống như thế này
và chung quanh
có người.
Tám
giờ
sáng hôm sau tôi lên
phòng ông
Thanh. Tôi ngồi vào cái ghế
ở vị trí hàng ngày tôi ngồi.
10, 15
phút, hai ba ông đến, trong đó
có
ông Lai. Bước vào phòng họ
kéo ghế ngồi
liền. Ông Thanh rót nước. Họ
nói qua nói lại với nhau những chuyện
gì
đó, coi như không có tôi.
Tôi
thì tôi cứ hút thuốc, uống nước.
Trà ở
đây bao giờ cũng ngon, không
Thanh Tâm thì cũng Thanh Hương, Hồng
Đào.
“Thôi,
chúng ta làm việc, anh Lai
nhá!’’
Ông
Thanh nói.
Ông
Lai xoa hai tay vào nhau:
“Trời
vẫn còn lạnh, khó chịu
thật.’’
Vừa
nói
ông ta vừa kéo dịch cái ghế ra. Mấy
ông kia,
ông nào cũng
mở cặp, túi xách lấy sổ sách để trước
mặt. Mặt
mày họ lạnh tanh. Và bây
giờ họ mới nhìn tôi, tất cả đều bằng những cặp mắt
chằm
hăm; có cặp mắt
cúi xuống, ngó trợn qua phía
trên gọng
kính; có cặp như lim dim theo
cái đầu gật lên gật xuống; có cặp mở to
ngó
thẳng vào hai mắt tôi;
trong lúc đó hai cái dùi
dưới bàn
rung rung… Tôi chẳng chờ đợi cái
gì
cả. Tất cả mọi sự rồi cũng chẳng tốt lành gì cho
tôi hết. Tôi sẽ bị cải
tạo lao động ở K3, bị giam ở Hỏa Lò…
Ông
Lai nói trước:
“Chúng
tôi đã đọc bản kiểm điểm của
anh.’’
Ông
ta cầm
chéo mấy tờ giấy kiểm điểm của tôi, ấn mạnh
ngón
tay cái ở một góc, dứ dứ trước mặt tôi,
nói
tiếp:
“Chúng
tôi nói thẳng cho anh biết là
chúng
tôi vẫn chưa tin những
điều anh nói ra đây đều là
thành thật, nhất
là những điều mà anh nhận
là mình sai lầm. Những tư tưởng phản động chống
Đảng của
anh có hệ
thống và không phải mới có
đây, mà
đã có từ lâu rồi; tôi chưa
cần nói
nguồn gốc. Chúng đã thấm sâu trong
óc
não máu thịt của anh, và có
thể
coi như đó là máu thịt của anh, cũng
được.
Cái nhìn của anh về miền
Bắc, về chế độ xã hội chủ nghĩa, về Đảng…
đâu phải
giản đơn là cái nhìn
của một người lạc hậu, không có trình
độ nhận thức,
cũng không hẳn là
vì bất mãn mà xuyên tạc,
nói xấu.
Đó là một cách nhìn
có hệ thống,
có
quan điểm lập trường hẳn hoi; nói rõ ra
đó
là quan điểm, lập trường của
giai cấp tư sản, mà đã là tư sản tức
là
phản động, chống cộng, chống
cách mạng, chống nhân dân, chống Đảng.
Thế
thì… không lý mới
có mấy
ngày mà anh lại từ bỏ những quan điểm, lập trường
đó một cách dễ dàng
và thú nhận chúng sai lầm
và phản động. Ở
đây, chúng tôi không dọa nạt,
không ép buộc anh một điều gì cả. Anh
cũng
không bị tra tấn hoặc hành
hung. Nhưng tôi biết anh sợ, anh sợ (những người chung quanh
nhìn nhau
gật đầu) và anh thú nhận, dù
đó là
cực chẳng đã. Bởi vì những điều anh
thú nhận là ngược với cái
lý tưởng phản
động mà anh tôn thờ. Anh đã
nói
ra được một phần tư tưởng và suy nghĩ phản động, sai lầm của
mình,
nhưng anh chưa nói hết và cũng còn
thiếu
thành thật. Ngay từ đầu chúng
tôi muốn tự anh nói ra những việc mà từ
ngày
ra Bắc đến nay anh đã làm.
Anh đã hoạt động như thế nào, có bao
nhiêu
cơ sở, gồm những ai? Và… ai,
ai đã giao cho anh nhiệm vụ này. Nói
rõ ra
CIA hay bọn ngụy Sài Gòn?
Không phải chúng tôi không
biết nhưng
chúng tôi muốn cứu anh, muốn cứu
những con người như anh. Chúng tôi muốn anh được
hưởng
lượng khoan hồng
của Đảng.
Nhưng
anh vẫn không nói, anh giấu. Vô
ích, điều đó chỉ làm cho anh
lún sâu vào vũng bùn nhơ của
tội lỗi. Đảng rất độ lượng và sẵn sàng
khoan hồng, nhưng chỉ với những người biết ăn năng và hối
cải, và, và…
cũng phải trải qua một quá trình giáo
dục và cải tạo.
Vậy
động cơ tham gia cách mạng của anh là
gì? Anh không thể che mắt
được quần chúng. Tập thể K65 đã cho anh một
bài học. Họ căm phẫn, nhưng
rất sáng suốt. Anh đã chui vào tổ chức
của cách mạng để phá hoại.’’
Mấy
tiếng sau
ông ta nói đều đều một giọng, dằn từng tiếng một,
rồi
ngừng, xoay người đổi thế ngồi, vắt một tay lên
thành ghế:
“Anh
phải nói rõ ra ở đây những hoạt động
của anh từ ngày ra Bắc.’’
Tôi
không tỏ vẻ gì là bực tức, cứ
cái giọng điệu
đó cứ rề rà kéo dài
mãi tôi
đã chán. Tôi hút một hơi
thuốc trả lời:
“Tôi
bị thương và đau dạ dày. Tôi được cho
ra Bắc chữa
bệnh, rồi vào lại chiến trường.’’
Ông
giật cái tay để trên thành ghế, chồm
người ra phía trước:
“Chúng
tôi còn nhiều việc phải làm,
không thể mất
thì giờ với anh như thế này được
nữa.’’
Im
lặng một lúc. Một ông nói:
“Anh
Đính ạ, chúng tôi đã đối xử
với anh rất tử
tế. Cho đến lúc
này, anh cũng vẫn là một cán bộ B. Anh
vẫn được
hưởng đầy đủ tất cả mọi
chế độ, tiêu chuẩn của cán bộ B. Anh là
người miền
Nam. Chúng tôi đây
cũng là người miền Nam. Chúng tôi
có thể dễ
hiểu anh hơn và trong một
mức độ nào đó cũng có thể
nói là
có thể thông cảm với anh. Chúng
tôi
muốn trường hợp của anh được giải quyết trong nội bộ của
chúng
ta.’’
Ông
này nhìn tôi, rồi tiếp:
“Nhưng
anh vẫn không biết điều.’’
Một
ông khác:
“Tội
của
anh là tội ở tù. Nhưng chúng
tôi vẫn chưa
đưa anh ra pháp luật là vì
thế.’’
Tôi
nói:
“Tôi
đã nói hết với các anh rồi.
Tôi không
còn gì để nói nữa. Những
tư tưởng và suy nghĩ của tôi đã được
tôi ghi
lại, còn đó, tôi có giấu
gì đâu. Có thể có nhiều điều
tôi
không viết ra trong bản kiểm điểm, bởi
vì tôi không thể nhớ hết
được.’’
Ông
Lai nói:
“Tôi
muốn biết điều mà anh không viết
ra.’’
“Có
nhiều điều tôi nghĩ tôi đã ghi lại.
Nhưng làm
sao tôi ghi lại hết những suy nghĩ của mình.
Các
anh nói thế tôi cũng chịu.’’
Ông
Lai dằn giọng:
“Anh
thừa
biết là chúng tôi muốn anh
nói ra cho
chúng tôi biết những
gì?’’
À,
những
người này muốn tôi nói thế
này: tôi
là CIA mà mạng lưới
hoạt động của tôi ở miền Bắc là thế này
này.
Mà thôi, mệt quá, nói qua
nói lại với những người này càng
thêm căng
đầu căng óc. Hơn nữa tôi
cũng chẳng biết nói gì với họ nữa. Suốt những
buổi như
thế này họ nói
nhiều hơn tôi. Tôi ngồi đó, nhiều khi lơ
đãng
nhìn lên mấy tấm hình cắt
trong báo ảnh Liên Xô dán
trên tường,
chấm ngón tay vào những giọt nước
đổ trên bàn vẻ những vòn
tròn, những mặt
người mặt thú. Cuộc hỏi cung
cứ rề rà kiểu này làm tôi
chán
và mệt. Tôi không muốn nói
gì nữa.
Tôi
cũng chẳng lo lắng gì nữa. Họ bắt tôi nhận những
điều
mà tôi không có.
Tôi thư thả và không cảm thấy căng
thẳng.
“Thôi
tùy anh. Đã thế anh đừng có
trách
chúng tôi sau này. Ông Lai
nói. Anh sẽ còn gặp chúng
tôi. Bây giờ
trước mắt anh ở tạm tại nhà
khách của Cục một thời gian cái đã,
chưa biết
lâu hay mau, chờ trên
quyết định. Có gì anh cứ gặp anh Thanh
đây. Nếu anh
Thanh đi vắng, anh
gặp các anh ở Cục. Anh có thể ra phố, nhưng tuyệt
đối
không được gặp
một người nào cả, không được nói với
bất cứ với ai
về chuyện của anh.
Chắc anh phải ăn Tết ở đây rồi đó. Kể cũng buồn
thật.’’
Họ
còn
xúm nhau nói với tôi nhiều điều, nhiều
chuyện nữa.
Tất nhiên
họ chưa buông tha giả dớm tôi đâu.
Cái
tình trạng này vẫn còn kéo
dài
mãi, mỗi lúc mỗi khác, mỗi
hoàn cảnh mỗi
khác vẫn còn cho đến lúc tôi
viết những dòng này. Khi thì trực tiếp
chạm mặt
bằng thường mục hoặc
bằng áo mũ công an; khi thì cho người
lẩn
vào trong các cuộc gặp gỡ nói
chuyện giữa bạn bè; khi thì đi ngang qua đường
giả
đò ngó vào nhà, hay
đứng bên gốc ổi, gốc khế nhà bên cạnh
ngó
trời ngó đất chổng tai, liếc
mắt đủ cách, đủ kiểu…
Tôi
lại về
nằm dài trong cái phòng to rộng một
mình,
gối tay lên
đầu ngó mái nhà. Đọc sách
cũng ít
thích thú, hết ra sân nhìn
trời nhìn
đất, lại vào ngồi lên bực cửa. Rồi không
có
việc gì làm, một mình, tôi
để ý hết tất cả các vật chung quanh:
cái
cán xen gãy một nửa, mấy tấm
sắt làm trạc dắt đất vất bừa bãi ở một
góc, những
vôi vữa còn lại nước
mưa chảy xoi thành núi sông ao hồ,
những đống gạch
vỡ, đường nước giọt
dưới mái hiên… Nhiều khi tôi
loanh quanh luẩn
quẩn giữa những đống vật
này, đẩy cái cán xẻng gãy
lún
sâu vào đống vữa, dũi chân
vào đống
cát,
ném một viên gạch xuống hồ để nghe tiếng bọt nước
sủi
tăm…
Lạ
thật, suốt thời gian ở đây tôi không nghe
tiếng chó sủa, không
thấy một con gà con vịt. Bây giờ mà
có một con vật gì động đậy chạy qua
đây chắc là vui lắm.
Còn
người?
Người
đi ngoài đường kia, tôi không quen,
không biết. Họ thấy tôi
cũng như tôi thấy họ, như mọi vật trước mắt có
trong con mắt thì thấy.
Người bước vào phòng này
thì bao giờ họ cũng nhìn tôi
không như nhìn
một con người. Mắt, miệng họ bao giờ cũng xiên lệch.
Đêm
như ngày, ngày như đêm, ở trong tối hay
ra ngoài sáng, tôi chỉ
có mình tôi, không
có ai thân thiện, bạn bè. Rồi cũng như
sau này, cả
ngày thường khi không nói chuyện với
ai, cứ như câm như điếc. Vây chung
quanh là những bộ mặt nặng nề, khinh khỉnh.
Tết
đến rồi. Ở các phòng làm việc của Cục
đón tiếp cán bộ B người
vô ra nhiều hơn. Họ đi từ phòng này
sang phòng khác, kẻ chạy, người
bước mau, vội vàng hấp tấp. Họ lo Tết. Họ chia
hàng, nhận tiêu chuẩn.
Mặt người nào người nấy cũng vui, cũng cười. Những
bàn làm việc có ghế,
có giấy tờ sổ sách, có cả thuốc
lá, mứt kẹo, trà đường và thịt, nhưng
không có người ngồi. Tôi ra
phòng khám bệnh xin một ít thuốc dạ
dày.
Cửa phòng khám bệnh đóng một
cánh. Cô y sĩ đang ở căng-tin, bận giúp
những người khác phân phối hàng. Một
người đang lúi húi nhận thịt nói
với tôi:
“Anh
vào nhận tiêu chuẩn đi.’’
Ông nói vói vào trong
phòng:
“Anh
Đính ở K65, cho anh nhận tiêu chuẩn
Tết.’’
Những
ngày tết những người thường ăn cơm ở đây đều đi
phép. Các cô
phục vụ nhà ăn là người Hà Nội
nên ai cũng về nhà. Tôi chưa biết ăn ở
đâu. Khoảng 29 Tết, ông Thanh bảo tôi:
“Những
ngày Tết anh vẫn ăn cơm ở Cục. May có mấy
ông không đi
phép…’’
Ông
nói tiếp:
“Anh
nhớ là không được tiếp xúc với ai hết.
Ra Tết các anh trên sẽ
có hướng giải quyết cho anh. Anh đi đâu phải
báo cáo cho đồng chí trực
ở Cục biết.’’
Rồi
ông hỏi tôi một câu hỏi mà
ông ta đã hỏi tôi nhiều lần:
“Anh
có bà con ở Hà Nội
không?’’
“Không.’’
“Anh
nhận tiêu chuẩn Tết rồi chứ?’’
Tôi
gật đầu nói rồi.
Tôi
cũng chẳng còn bụng dạ nào để nghĩ đến Tết với
nhứt nữa. Đây là
một cái Tết chán ngắt, mệt mỏi và buồn
thảm nhất trong đời tôi. Hai
mươi bảy, hai mươi tám Tết rồi. Trưa, chiều ra
ngoài 11A ăn cơm. Tôi
nằm dài, mưa lạnh, tối câm.
Những
ngày Tết trong phòng ăn chỉ có một
mình tôi. Những bữa ăn tẻ
ngắt và lạnh. Ông gác cổng
và một vài người khác đem cơm về ăn ở
phòng
riêng, cô phục vụ hỏi tôi:
“Tết
chắc anh nhớ nhà lắm?’’
Tôi
cười.
“Anh
không có bà còn bạn
bè ở Hà Nội à?’’
“Không
chị ạ.’’
Chiều
ba mươi,
tôi mang gói chè Hồng Đào ra
phòng
trực uống nước với ông gác cổng. Tôi
nói:
“Tôi
thấy Hồng Đào dễ uống hơn Thanh Hương.’’
Tôi
định mở gói chè, ông xua tay:
“Hồng
Đào, Thanh Hương hay Thanh Tâm gì
thì cũng
một vị, thế thôi, thua Thái Nguyên hết.
Tôi
có chè Thái Nguyên
đây.’’
Chúng
tôi uống trà. Ông ta nói:
“Anh
thấy không, thua Thái Nguyên hết.
Chè này là của một người bạn
tôi tự sao lấy và gửi cho tôi đấy. Hồi
anh lấy ít ấm về uống cho vui.’’
“Tôi
không có ấm chén và nước
sôi.
Thôi, để tôi ra đây uống với
Bác cũng
được.’’
Đêm
giao
thừa, tôi nằm hút thuốc, trăn qua trở lại.
Tôi
không nhớ là đêm đó
tôi có nghe
tiếng pháo hay không nữa.
Suốt
mấy ngày Tết, tôi không thấy một đứa trẻ
con.
Khoảng
chiều
này mồng 5 mồng 6 hay mồng 7, mồng 8 gì
đó,
ông Thanh đến gặp tôi ở nhà
khách.
“Anh
chuẩn
bị sáng mai đi. Sáng mai, bảy giờ, anh mang đồ
đạc ra
ngoài văn phòng và lấy giấy
tờ.’’
Tôi
cũng chẳng hỏi đi đâu nữa.
Sáng
mai,
tôi xách va li và đồ đạc ra
ngoài Cục.
Ông Thanh đưa giấy tờ cho tôi và bảo:
“Tạm
thời, chúng tôi đưa anh trở lại K65. Anh đến
đó phải luôn luôn
tỏ ra là một kẻ biết phục thiện, biết ăn năn hối cải. Thời
gian ở K65
là thời gian thử thách cho anh đó. Anh
chị em K65 đều biết rõ về anh,
nên đó là một môi trường cải
tạo tốt đối với anh. Còn sau này anh sẽ ra
sao, điều đó hoàn toàn do anh
và ý kiến của tập thể K65. Còn những
việc
khác, các anh ở K65 sẽ hướng dẫn.
Chúng tôi sẽ gặp anh sau.’’
3.
Tôi
trở
lại K65 tức là trở lại cái thế giới ở
đó tôi
không được coi
là con người. Gần giờ ăn trưa, tôi đến K65.
Tôi để
đồ đạc bên đường.
Tôi cảm ơn anh tài xế. Anh ta cười và
hút
với tôi một điều thuốc, rồi
đưa xe vào sân khu nhà A. Tôi
cứ đứng
bên đường, chưa biết mình đi đâu
bây giờ. Người ta đã thấy tôi. Người
trong
các phòng nháo nhác
ngó ra
đường. Những cửa sổ trên lầu nhà A, dọc
hành lang
lầu nhà B đầu người,
thân người ló ra, hai bên hai
phía, tôi
ở giữa. Nhiều người đã ra đứng
ngoài hành lang, ngoài sân,
nghiêng
vai, ghé vào tai nhau. Sau này
cô
Mộng, một người bạn tuổi suýt soát với
tôi, kể cho
tôi biết: lúc anh
mới lên, người ta xì xầm rất dữ, có
người nhăn mặt,
có người nhổ nước
miếng:
‘‘Thằng
Đính!’’
‘‘Sao
lại đưa hắn về đây?’’
‘‘Tưởng
đã đưa hắn đi cải tạo rồi chứ.’’
‘‘Hắn!’’
Ông
Hà, người Quảng Ngãi khoảng trên 60
tuổi và ông bí thư chi bộ
dãy nhà B1, cũng người Quảng Ngãi,
tôi không nhớ tên, ra gặp tôi.
Ông
Hà nói:
‘‘Anh
về lại tổ 3 ở phòng cũ.’’
Hai
ông đi trước tôi theo sau. Tôi để bao
sách vở và một vài thứ
lặt vặt trước cửa phòng trực, rồi xách va li đi
vào. Ông Hà chỉ cho cái
giường sát ngay cửa ra vào:
‘‘Anh
nằm đây!’’
Ông
Hà quay sang ông bí thư chi bộ:
‘‘Thôi
đi ăn cơm đã.’’
Rồi
ông nói với tôi:
‘‘Ăn
cơm xong chúng tôi sẽ làm việc với
anh.’’
Mọi
người trong phòng cầm đũa chén đi ăn cơm. Họ coi
như không có
tôi. Ông già Tuyến ở phòng
trong ra sau cùng. Ông nói với
tôi:
‘‘Đi
ăn cơm mầy… mầy thiệt…’’
Tôi
đã được cho biết là cơm trưa của tôi
đã báo rồi.
Nhà
ăn ồn ào. Tôi bước vào. Tiếng
nói, tiếng cười bớt dần rồi im
hẳn, chỉ còn tiếng bát đũa va nhau và
tiếng chân ghế sắt kéo trên nền
xi măng. Mọi người đều nhìn tôi. Người đứng dậy,
người ngểnh cổ, người
chỉ liếc qua rồi cứ cúi đầu ăn. Tôi ngó
quanh, rồi tìm một bàn chưa có
người, kéo ghế ngồi đợi. Mấy bà, mấy cô
phục vụ đứng ở cuối nhà bếp chỉ
chỏ tôi nói thì thầm. Tôi
loáng thoáng nghe một vài tiếng
nói nhỏ chung
quanh. Những người đến sau tìm một bàn trống
khác ngồi đợi. Tiếng ồn
chung quanh bắt đầu, nhưng không xáo động như
thường ngày. Một người
cầm bát đũa đến bàn tôi, ông
bí thư chi bộ khu B. Một người nữa đến,
ông bí thư Đảng ủy. Còn thiếu một người
nữa.
‘‘A,
anh Phước, lại đây.’’
Ông
Phước, người Bình Định, đau gan, đang đứng giữa
phòng. Ông bí thư Đảng ủy vẫy tay:
‘‘Lại
đây, lại đây anh Phước.’’
Tôi
ăn rất
ngon. Suốt bữa ăn các ông đó
có nói
chuyện qua lại. Tôi
ngồi lại sau cùng. Ăn xong tôi đi rửa
chén đũa. Một
người đang rửa ở
vòi nước thấy tôi bước đến, bỏ qua vòi
khác
ngay. Mặc kệ, tôi cúi xuống
rửa. Đến thùng nước uống, cô Mộng đang hứng nước
vào bát. Cô vừa rút
bát ra, tôi đưa bát vào. Đợi
bát
tôi đầy nước cô Mộng tắt rô bi
nê. Một
vài người thấy tôi đứng uống nước, lảng ra đi chỗ
khác hoặc sang thùng
nước bên cạnh. Chị Hoài, người cùng
quê Quảng
Điền với tôi, đến lấy
nước uống. Chị vừa hứng nước, vừa nhìn tôi cười.
Rồi chị
và cô Mộng cứ
đứng bên thùng nước cho đến khi tôi uống
xong mới
về.
Bắt
đầu từ đây, ở cái K65 này,
tôi sống những ngày kinh khủng nhất
trong đời mình. Không ai ăn thịt ăn cá
chi tôi hết, nhưng quá dễ sợ.
Tôi
vừa bước vào phòng, ông Hà
vào bảo tôi:
‘‘Anh
sang phòng Đảng ủy làm
việc.’’
Nói
xong ông ta bỏ đi ngay. Tôi cất bát đũa,
đốt một điếu thuốc rồi
đi. Vòng trong hành lang, tôi gặp thằng
Nguyễn Viết Trác vừa mới đi ăn
cơm về. Hắn nhăn mặt, khấp khểnh bước, giả đò lên
cơn suyễn, nhìn tôi,
rồi cúi đầu lê chân bước vào
phòng [1]
. Hình như khi nhìn tôi hắn
có lắc lắc
cái đầu thì phải. Tôi sang
nhà A, và
phòng ông bí thư Đảng ủy khối bệnh
nhân [2]
. Bên cái bàn đá
mài kê
sát cửa sổ ngó ra ngoài sân
ba bốn ông
đủ bộ
sậu trong ban lãnh đạo Đảng và hội đồng bệnh
nhân
đã ngồi sẵn đó. Họ
đang uống trà và cười nói.
Còn một
cái ghế, ông Hà kéo ngồi.
Tôi
không
có chỗ, tôi ngồi lên giường. Trời tạnh,
giữa trưa
có hơi nắng, nhưng
còn lạnh. Một ông trong họ đứng dậy chế nước
vào
ấm. Hình như cử chỉ đó
thường là để chuẩn bị và ổn định đầu
óc của những
người chủ trì một
buổi họp. Ông Hà, Chủ tịch Hội đồng bệnh
nhân
nói:
‘‘Báo
cáo các đồng chí, anh Đính
đã đến.’’
Quay
sang tôi ông tiếp:
‘‘Hôm
nay chúng tôi mời anh đến đây để Đảng ủy
và
hội đồng bệnh nhân làm việc.’’
Rồi
ông giới thiệu từng người một, mặc dầu ông ta biết
là tôi đã
biết và quen mặt những người này từ
lâu. Chỉ có ông Phước đau gan người
Bình Định, làm bí thư chi bộ khu B1
thay ông bí thư người Quảng Ngãi
sắp chuyển đi nơi khác.
Ông
bí thư Đảng ủy, người Quảng Nam, khoảng trên 40
tuổi, mặt tròn, trắng, nói:
‘‘Ban
Thống nhất Trung ương và Cục đón tiếp
cán bộ B tạm thời đưa
anh về đây và giao nhiệm vụ cho chúng
tôi giáo dục và theo dõi
anh. Đối
với anh lúc này, ý kiến của tập thể
K65 là hết sức quan trọng. Anh được
hưởng mọi tiêu chuẩn như mọi người, nhưng ngoài
nội quy và y lệnh anh
còn phải thực hành những điều sau
đây.’’
Ông
ta nhìn vào cuốn sổ và nói
tiếp:
‘‘Anh
nên nhớ là giờ đây anh không
phải như anh
trước kia nữa. Anh
phải nhớ những điều này. Ngoài việc đi ăn cơm, vệ
sinh
cá nhân trong
phạm vi của K65 ra, đi đâu anh phải báo
cáo với anh
Hà, hoặc với tổ
trưởng. Anh không được ra ngoài thị xã
mà
không xin phép. Ngay ở trong
K có tổ chức chiếu bóng vào ban
đêm, anh
phải xin phép các anh đó mới
được đi. Anh không được nói chuyện với bất cứ một
người
nào, kể cả cán
bộ bệnh nhân hoặc với những người ở cùng
phòng.
Nói rõ ra là anh không
được gợi ý gặp hay nói chuyện với bất cứ một
người
nào. Những người
khác thì có quyền nói với
anh, mà
nếu có hỏi, có nói với anh
thì anh
mới trả lời, còn không thì
thôi. Anh phải tỏ
ra có lễ độ với mọi người.
Không phải như trước đâu, nói
gì anh cũng
phải thưa dạ.’’
Ông
ta hớp một hớp nước rồi tiếp:
‘‘Anh
không được tham dự bất cứ một cuộc họp hoặc sinh hoạt
nào
trong K. Nếu có một cuộc họp nào đó
mà anh được cho phép dự, như sinh
hoạt tổ chẳng hạn, anh chỉ được ngồi nghe, và cấm
không được phát
biểu.’’
Ông
ta
dừng lại hút thuốc. Ông phó
bí thư Đảng ủy,
Chủ tịch hội đồng bệnh nhân nói:
‘‘Tuyệt
đối, tôi nhắc lại, tuyệt đối anh không được
góp
ý, phê bình bất cứ ai ở K65
này về bất cứ
một việc gì.’’
Ông
bí thư Đảng ủy tiếp:
‘‘Anh
phải nhớ kỹ điều đó.’’
Ông
ta nhìn tôi, rồi nói giọng to hơn.
‘‘Tuyệt
đối anh không được nhờ bất cứ ai trong anh chị em
cán bộ ở
K65 làm một việc gì. Không được, tuyệt
đối không được. Còn nếu ai trong
anh chị em nhờ anh làm một việc gì, anh phải
báo cáo cho chúng tôi
biết; chúng tôi có đồng ý
anh mới được làm. Còn điều này nữa,
tuyệt đối
anh không được gặp gỡ bất cứ một người nào,
dù là bạn bè hay bà con ở
nơi khác đến. Anh nghe chưa?’’
Một
người khác góp ý:
‘‘Anh
ăn nói với mọi người phải từ tốn, lễ phép. Tốt
hơn hết,
có ai nói với anh anh mới được
nói.’’
Ông
Chủ tịch hội đồng bệnh nhân nói:
‘‘Anh
Đính ạ, anh là một người có trọng tội.
Anh phải
biết ăn năn
hối cải. Những ngày anh ở đây là bước
đầu
chúng tôi đánh giá con người
anh. Và việc đánh giá của
chúng tôi
sẽ có quan hệ đến tương lai của anh
sau này. Và sau này, anh sẽ ra sao, đi
đâu,
làm gì là do các anh ở
trên
quyết định. Tạm thời trước mắt anh ở đây đã. Thế
thôi các đồng chí
nha.’’
Ông
bí thư Đảng ủy nói:
‘‘Anh
có ý kiến gì
không?’’
‘‘Không.’’
‘‘Thế
thôi các đồng chí. Thôi anh
về đi.’’
Tôi
ở căn
phòng cũ, trước ở phòng trong, nay ở
phòng
ngoài. Dãy nhà
B này có hình chữ U, phòng
tôi ở tầng
trệt sát phòng đấu góc khay.
Giường của tôi kê ngay cửa ra vào
thông với
cửa hành lang ngó sang dãy
nhà trệt bốn năm phòng cách một khoảng
sân
rộng. Một cái bàn xi măng đá
rửa màu xám kê sẵn sát
giường. Cái
bàn này bây giờ với tôi chỉ
để vali,
tách chén, bát đũa. Lúc
này
tôi còn đọc, viết gì được nữa. Nhưng
tôi
mà
đụng vào giấy bút, sách vở
thì chỉ
gây thêm cực khổ cho tôi. Người
chung quanh thường dòm ngó tôi, từng cử
chỉ, từng
lời nói, từng bước
đi. Đó không phải là nỗi khổ
tâm của
tôi mà là một sự kinh khủng của
tôi: Không viết được, không đọc được. Dần
dà
về sau, tôi sang phòng đọc
sách báo của K ngồi đọc, rồi mượn báo
về
phòng, lúc này tôi chỉ mượn
báo mà không mượn sách. Ngồi
ở phòng
đọc sách tôi thấy mình thư thả,
không bị ai dòm ngó. Nằm trong
phòng người
qua kẻ lại với những bộ mặt
khinh khỉnh liếc trừng, tôi quá mệt. Tất cả
báo
chí tôi mượn về đều để
trần ra giữa bàn, trên giường. Và người
ta cũng
biết đó đều là sách báo
của Đảng và tôi mượn của K. Nhưng thường
xuyên họ
vẫn lò mò kiểm tra.
Tôi chỉ đọc mà không ghi
chép. Tôi
tránh việc cầm cây bút trên
tay và
trước mặt là một quyển vở hay một xấp giấy trắng. Suốt thời
gian
này
tôi không bao giờ khóa va li.
Không
khí ở K65 quá căng thẳng với tôi.
Tôi không đi chơi đâu được,
không nói chuyện với ai. Căn phòng
tôi ở cũng vẫn là những người cũ
hình như có một hai người mới đến. Tất cả đều
là Đảng viên. Trong số
này có một anh chàng người Quảng
Ngãi trên 40 tuổi, luôn luôn
ăn diện,
áo quần khi nào cũng thẳng nếp và đắt
tiền [3]
. Anh ta đang có ý định lấy vợ và ở
luôn miền Bắc. Trước anh ta rất vui
vẻ với tôi, nhưng bây giờ anh ta căm
ghét tôi ra mặt, thậm chí anh ta
còn nhổ nước bọt trước mặt tôi.
Không
khi
nào tôi đang đi mà có ai gọi
tôi cả.
Tôi có đó cũng như
không. Người ta gọi tôi là
“tên
Đính”, “thằng
Đính”. “Ê
Đính, lại đây
nói cái này”. Cũng
có người gọi
tôi bằng anh, nhưng lúc đó chỉ
có tôi
và người đó. Và người đó
trước khi
nói với tôi một điều gì đều
ngó
trước ngó sau, và bao giờ cũng chỉ một
câu ngắn,
đôi ba tiếng, rồi bỏ
đi ngay, để nếu có ai thấy cũng chỉ xem như tình
cờ người
này đi ngang
qua mặt tôi [4] .
Tôi
vẫn giữ cách sinh hoạt bình thường
hàng ngày của tôi. Buổi
sáng, buổi trưa xách phích xuống
nhà bếp lấy nước… Cũng may đó
là những
việc hằng ngày trước kia của tôi, không
thì bây giờ người ta sẽ bảo tôi
là cố phấn đấu để chuộc tội. Có điều
là tôi không thức khuya được.
Trước kia, tôi có sắm một cây
đèn dầu hỏa. Sau chín mười giờ khi mọi
người tắt điện đi ngủ, tôi thắp đèn dầu thức, đọc
sách và viết.
Ở
gác trên có một anh thanh
niên người Quảng Ngãi lớn hơn tôi một
hai tuổi, kỹ sư nông nghiệp thì phải, bị bệnh thần
kinh. Anh ta hát rất
hay, và thường ngồi trước hành lang
đánh đàn hát to một mình.
Một hôm
đến giờ ăn cơm, tôi gặp anh ta cầm đũa bát từ
trên gác đi xuống. Anh ta
nói, vừa nói vừa cười hi hi:
‘‘Sớm
quá, sớm quá, ông anh ơi! Ông
làm sớm quá!’’
Anh
ta cười hi hi. Anh ta không dự cuộc đấu tố tôi tại
hội trường
K65. Tôi chắc là anh ta không bị
phê bình, dù anh ta là Đảng
viên, vì
người ta cho là anh ta bị thần kinh.
Lúc
này tôi cũng chỉ có một
mình. Tôi
quanh quẩn với cái bóng của
tôi, khi tôi theo nó, khi nó
theo tôi;
ban đêm trên vách, ban ngày
trên
đường. Ở đây không ai đối xử với tôi như
một con
người. Thà tôi bị đưa
đi cải tạo lao động hoặc ở tù còn hơn. Dẫu sao ở
đó những người chung
quanh cùng một hoàn cảnh, dù
có ganh
ghét nhau, đâm chém nhau cũng
còn
xem nhau là con người. Còn ở đây, người
ta đối xử
với tôi một cách tệ
hại. Người ta kinh tởm tôi, khinh bỉ tôi.
Tôi như một
tên hủi, một con
chó ghẻ dại hôi hám mà
hàng
ngày người ta buộc phải chung đụng không
thể tránh được. Vào một lối hẹp, hay ở một chỗ
đông
người, tất cả đều
tránh không để cho quần áo họ vướng
vào quần
áo tôi, không để cho người
họ đụng vào người tôi. Đến nhà ăn,
những con mắt cứ
ngó trừng tôi.
Không ai chịu ngồi ăn với tôi. Nhiều lần, nhiều lần
tôi nghĩ chắc trong
người tôi có mùi cứt. Một
bàn bốn phần ăn,
mới chỉ có hai hoặc ba, còn
thiếu một, hễ tôi kéo ghế ngồi vào
là họ cầm
bát đũa đứng dậy hầm hầm
giận dữ bỏ đi. Cho nên túng thế nhiều khi mấy
ông
Đảng ủy, chi ủy buộc
lòng phải ngồi với tôi. Nhưng bữa đó,
họ ăn rất mau
và bao giờ cũng ra
khỏi bàn trước tôi. Có lần,
tôi thấy một
bàn ăn còn thiếu một người,
tôi ngồi vào, lập tức ông Phước, Đảng ủy
viên,
người Bình Định, đứng
dậy kéo theo một anh chàng thanh niên
ngồi cạnh đi
qua bàn khác ngay.
Mặt ông ta có vẻ tức giận. Chàng thanh
niên
đó là con của ông ta, mới
ra Bắc, đến thăm ông ta. Ông ta không
muốn cho con
mình ngồi ăn cùng
bàn với một kẻ như tôi. Rất nhiều lần ngồi đợi
lâu
không có ai thèm đến
ngồi, tôi nói với mấy bà, mấy
cô nhà
bếp chia cơm cho tôi ăn. Những
người này đã biết tình cảnh của
tôi,
nên thường thấy thế họ đến và nói:
‘‘Để
em chia cơm cho anh ăn.’’
Còn
những người khác đến sau, gặp suất ăn cuối cùng
không ngần ngại
bưng những phần ăn còn lại sang bàn trống
khác ngồi ăn. Còn tôi thì
tôi
ăn được, bao giờ cũng rất ngon và ăn nhiều.
Cô
Mộng kể cho tôi nghe, nhiều lần đi lấy nước, có
người cầm cái
gáo đứng sau lưng tôi dứ dứ vào đầu
tôi như muốn đánh. “Khi anh đi rồi
em mới nói với họ là các anh
làm cái gì thế. Muốn giết người ta
thì cứ
giết đi. Họ trợn em: Cô binh à? Em nói
lại: Không binh gì hết. Các anh
làm rứa tôi ngó không được.
Các chi bộ ở đây hồi đó họp đều đề nghị
tống cổ anh đi nơi khác cho khuất mắt. Nhưng mấy
ông trên bảo cứ để anh
ở đây là tốt nhất, để cho ở đây
giáo dục và cải tạo anh. Mà em thấy,
có
giáo dục cải tạo gì đâu, họ chỉ
hành hạ anh”.
Dần
dần, nói thật, tôi cũng thấy quen đi
cái không khí như thế. Một
ngày, hai ngày, một tuần, hai tuần, một
tháng hai ba tháng, một hai
năm, không quen đi, không thấy như thường cũng
không được.
Hơn
một tháng tôi không đi ra khỏi chỗ
tôi nằm, loanh quanh luẩn
quẩn ăn rồi nằm, rồi ngồi, chỉ có tôi với
cái bóng của mình. Rồi tôi
phải đi hớt tóc, mua một vài thứ lặt vặt
ngoài thị xã. Tôi xin họ, họ
cho đi. Và mỗi lần như thế, bao giờ cũng có người
lẽo đẽo xa gần bên
tôi. Và rồi buổi chiều, cũng buồn, tôi
xin đi chơi. Tôi lang thang khắp
thị xã Sơn Tây, đi vòng quanh hồ, ngồi
bên hồ hút thuốc, một mình
không
có ai nói chuyện, không có
ai chơi. Rồi ghé vào mậu dịch ăn uống, ngồi
ngoài lan can trên hồ uống một cốc cà
phê ngó cây cối lao xao trên
cù
lao trước mặt. Rồi lững thững đi về, chế nước uống, rồi nằm, nghĩ vẫn
vơ. Những lúc đó đầu óc tôi
lùng bùng.
Những
lúc đó tôi muốn viết.
Nhiều
buổi chiều ăn cơm xong, tôi ngồi một mình trong
phòng ngó qua
cửa hành lang. Dãy nhà trệt
bên kia che mất không thấy trời. Cô Mộng
hay một chị nào đó đi qua liếc trước sau
dúi vào góc bàn khuất sau
bức
tường một gói giấy, rồi ra cửa hành lang xuống
dãy nhà trệt. Tôi biết
đó là một vài gói thuốc
hút, một cân đường hay một gói
trà….
Tôi
chán, tôi mệt mỏi. Tôi không
còn muốn
gì nữa. Tôi không còn cố
gắng nghĩ xem rồi người ta sẽ làm gì
tôi. Tôi
không cần đề phòng gì
hết. Tôi bị hành hạ và đọa
đày. Họ muốn
làm nhục tôi, muốn cho tôi hiểu
rằng họ đã đối xử với tôi không phải như
đối xử với
một con người. Và
tôi phải hiểu rằng họ có quyền làm như
thế. Họ
không coi tôi làm một
tên tù, họ coi tôi là một con
vật, một con
chó, một con chó sống giữa
một đám người không có chó
để làm bạn
và không sủa được [5] .
Tôi
bị tách khỏi sinh hoạt của con người, được con người cực
chẳng
đã phải cho ăn, cho uống, cho ngủ, nhưng không
được quanh quẩn đến gần
con người và nói tiếng người với họ.
Tôi là một tên địch. Tất cả những
người trước vốn quen tôi hay nói chuyện, lui tới
với tôi bây giờ đều
tránh mặt tôi. Họ sợ liên lụy, họ sợ bị
mất lập trường. Tôi sống lặng
lẽ một thân, một mình. Rồi tôi cứ sống
lang thang bằng trí nhớ của
mình. Tôi ngồi im với tôi.
Dãy nhà trước mặt bên kia
hành lang đã che
mất trời và cây cối ở xa. Suốt một hai giờ, ba bốn
giờ, khi nằm khi
ngồi, khi uống nước, khi hút thuốc, không
có việc chi làm, không có ai
nói chuyện. Người đi ra đi vào. Kệ họ. Hết sức
thì họ giết mình là
cùng. Cái thằng người Quảng Ngãi
lúc đi qua chỗ tôi là nhổ nước miếng
xun xoe mặc quần áo tốt, cột thêm cái
radio bên hông để kiếm vợ, đang
đứng giữa phòng xức nước hoa, soi mặt vào
cái gương nhỏ. Ông già Giác
ngồi xếp bàn trên giường ở trong góc
hút thuốc. Tôi uống với ông một ly
nước trà bồm ướp hương bưởi, rồi ra ngồi lại một
mình. Ông Tuyến đi qua
nói, không đi chơi hả mầy, Đính, kệ
cha, đi cho đầu óc nó khỏe ra, ông
cười, tôi dạ. Ông quay lại, mầy đau bao tử,
hút thuốc ít đi. Căn phòng
cứ vắng dần. Trời im và vẫn còn lạnh.
Tôi không biết làm gì hết
và cũng
chẳng có việc gì để làm. Tôi
nhai hai viên Ka-vét, rồi ngồi dựa đầu
vào
giường. Lúc này là lúc vắng
và im lặng nhất. Chưa biết bao giờ mới hết
chiến tranh. Ông già Giác cũng đi chơi
rồi. Ở dãy nhà trước mặt có
tiếng cười nói của con gái và con trai
giỡn nhau. Tôi cứ hút thuốc ngó
lơ đãng ra phía trước, đầu óc trống
không. Có hơn 5 giờ chiều. Và
tôi
bỗng lặng người đi. Trên bức tường của hành lang
có mấy chữ viết bằng
gạch vụn, vụng về chữ lên chữ xuống, chữ to chữ nhỏ
nghiêng ngả đậm lạt
không đều:
Chú
Đính ơi
Chú
Đính
Tôi
xúc động, tôi xúc động vô
cùng.
Tôi biết người viết rồi. Đó là
một thằng bé bảy tám tuổi con của người y sĩ
quê ở
Thừa Thiên, nhà ở
cách phòng tôi bảy tám
mét bằng một
khoảng sân rộng. Thằng bé không
được bình thường. Học đến lớp ba, sau một trận đau nặng,
nó mất trí và
trở nên tàng tàng. Thằng bé
là bạn
duy nhất của tôi lúc này. Nó
thường
đến với tôi và chẳng có ai để
ý, nói
năng rầy rà hay phê bình gì
về
việc nó quan hệ với tôi hết.
Chú
Đính ơi
Chú
Đính
Tôi
là thằng Đính, tên Đính,
là
nó, là hắn. Có ai gọi tôi
bằng anh,
bằng chú đâu. Chỉ có nó, một
thằng bé
bị thần kinh gọi tôi bằng chú.
Thằng bé đến, có khi leo lên giường
ngồi bỏ hai
chân đu qua đu lại,
không nói gì hết. Có khi
nó ngồi
xuống thềm nhà bày ra các thứ gạch
đá,
lá cây chơi một mình. Rồi nó
nhìn
tôi cười, nói những câu không
có đầu
không có đuôi. Nhiều khi nghe ba mẹ gọi,
nó
cũng không về. Tôi phải dắt
nó về. Biết ý, tôi chỉ đưa
nó đến cửa, rồi
quay lại. Sau này tôi thấy
dưới cửa sổ nhà nó cũng có mấy chữ
viết bằng gạch:
Chú
Đính ơi
Chú
Đính
©
2005 talawas
[1]Chỗ hắn ở
cách chỗ tôi một bức tường ngay góc
khay của tòa nhà.
[2]Sau
này rất lâu, tôi mới biết là
cái ông bí thư Đảng ủy này
lúc về Từ Hồ
học bổ túc văn hóa bị phát hiện
là mang khai lý lịch và bị tước Đảng
tịch.
[3]Chắc
là anh ta phải ra ngoài thị xã nhờ
người quen
là áo quần. Thời buổi này
mà mặc quần
áo là cũng là một kỳ công.
[4]Ba
bốn tháng sau tôi được phân
công đi mua
hàng tiêu chuẩn hàng tháng
thuốc lá, sữa, đường… của tổ. Chỉ có
lúc
đó tôi mới tiếp xúc và
nói qua
nói lại tự nhiên với mọi người. “Anh
còn
thiếu tôi năm hào”,
“bác còn
thừa một đồng”, “căng tin bảo tháng
này
không có chè loại một”,
“thuốc
hút chưa có đủ, nên căng tin tạm ứng
mỗi người năm
bao”…
[5]Cho
đến sau này năm 1988, có người trên
báo
Công An Bình Trị Thiên, khi
phê
bình bài thơ “Người đàn
ông 43 tuổi
nói về mình” của tôi vẫn
còn gọi
tôi là một con chó, con tô,
con mực gì
đó