Trần Vàng Sao
Tôi
bị bắt
(Nhớ lại những năm
tháng tôi bị bắt rồi được thả ra và
sống như tù) 10 kì
4.
Mỹ
đánh
thị xã Sơn Tây. Lần đầu tiên thị
xã Sơn
Tây bị ném bom. Hai
quả bom rớt ngay trung tâm thị xã, có
một quả
trúng nhà hát nhân
dân,
sân khấu lộ thiên bị sạt mất một góc.
Không
có ai chết hay bị thương.
Tình hình trở nên căng thẳng. Thị
xã thỉnh
thoảng đã có tiếng kẻng báo
động có máy bay Mỹ. Bất cứ một đoàn
bệnh
nhân nào mới đến K65 đều được
ban lãnh đạo cho biết tình hình
và đặc điểm
của thị xã Sơn Tây. Thị xã
Sơn Tây là nơi tập trung nhiều thành
phần phản
động. Do đó việc quan hệ
với người ở ngoài thị xã phải hết sức đề cao cảnh
giác, nhất là sau vụ
Mỹ tập kích nhà giam tù binh Mỹ. Ở
đây
có một nhà thờ Thiên chúa
giáo.
Một đêm Noel trước đây cán bộ miền Nam
được lệnh
là không ra đường và
đến nhà thờ để đảm bảo an ninh. Hơn nữa, bọn phản động
có
thể lợi dụng
việc có nhiều người đến nhà thờ và qua
lại
đông trên đường trong đêm
Noel để củng cố thế lực và tuyên truyền
xuyên tạc
chế độ ta.
Khoảng
1 hay 2 tuần sau, các khối bệnh nhân họp khẩn cấp
và bất
thường. Tất nhiên là tôi không
được dự. Sau bữa cơm chiều, mọi người
trong phòng vội vàng sắp xếp đồ đạc gọn
gàng. 8 giờ tối, ông tổ trưởng
báo cho tôi sắp xếp đồ đạc chuẩn bị
sáng mai 6 giờ sơ tán.
Nơi
sơ tán là thôn Cam Đà,
xã Cam Thượng, huyện Ba Vì, tỉnh Sơn
Tây. Tôi cùng với hai người
khác được sắp xếp ở nhà chị Hoàng Thị
Thuận. Một ông tên Lai, người Bình Định,
tổ trưởng tổ Đảng, có nhiệm vụ
canh giữ và theo dõi tôi. Và
một anh chàng người Vĩnh Linh tên Kiêm.
Anh này cũng là Đảng viên, người ốm
cao, trắng trẻo, khoảng gần 30
tuổi. Trông anh ta bao giờ cũng ngớ ngẩn, nói năng
lộn ngược, lộn xuôi
khó hiểu. Người ta bảo anh ta bị thần kinh, hậu quả của một
cơn sốt ác
tính. Tôi thì cho là anh ta
giả đò đau thần kinh để khỏi trở lại chiến
trường. Anh ta có ý định xin đi học bổ
túc văn hóa ở Từ Hồ. Anh Sinh,
một người trong làng dắt tôi đến nhà
chị Thuận. Tôi để đồ đạc giữa sân.
Một đứa bé gái khoảng sáu tuổi đang
đứng dưới mái hiên bước xuống sân
chào tôi.
‘‘Cháu
chào chú ạ.’’
‘‘Chào
cháu.’’
Anh
Sinh bước lên nhà nói to:
‘‘Chị
Thuận ơi, cho mấy bác ở nhờ một tí
nha!’’
Một
người đàn bà răng đen, dáng người khỏe
mạnh lớn hơn tôi độ 3 tuổi dưới bếp đi lên.
‘‘Chào
các bác. Mời các bác
vào nhà xơi nước.’’
Dân
ở đây coi chuyện cán bộ nhân
viên đến ở nhờ trong những ngày sơ
tán là chuyện bình thường,
và họ còn mừng nữa, vì như thế
là vùng của
họ an toàn, máy bay Mỹ không
ném bom. Có điều lần này họ thấy lạ
là
những người đến sơ tán đa số là người miền Nam.
Lâu
mới uống chè, ngon quá. Chỉ tiếc là
không có gừng. Anh Sinh
chào tôi về và nói,
nhà của anh ở sau lưng nhà chị Thuận, mời
tôi khi
nào rảnh sang uống nước chè. Một lát
sau ông Lai và anh chàng Kiệm đến.
Vừa thấy tôi thằng Kiệm la lên bài
bãi:
‘‘Không,
không, tôi không phải ở đây tề.
Mà… mà… ở bên
tê tề…
thôi,
thôi…’’ Nói rồi hắn
xách va li
đi ngay. Mọi người đều nghĩ là hắn nhầm
chỗ. Chỉ có tôi biết là hắn sợ ở với
tôi
có thể bị liên lụy những điều
không tốt.
Nhà
chị Thuận rộng, cao ráo, kiểu nhà rường, lợp
tranh, ba căn hai
chái. Căn giữa để bàn thờ và tiếp
khách. Bàn thờ sơ sài, một
bát nhan,
một bình sứ để cắm hoa, không có
đèn cơi trầu; phía sau là một
cái bàn
soạn đã tróc hết sơn. Tôi và
ông Lai ở căn dưới. Bốn mẹ con chị Thuận ở
căn trên và chái trên. Cũng
như hầu hết nhà ở đây, chung quanh nhà
chị
Thuận cũng có tường xây bằng gạch sống
và một cái cổng nhưng không bao
giờ đóng. Nhà có một cái
sân rộng lát gạch, một giếng nước rất trong.
Trước mặt nhà là một cái ao rộng như
một cái hồ, mùa mưa thả bèo
nuôi
lợn, mùa nắng trồng nếp. Chung quanh ao là những
hàng tre bao bọc.
Chị
Thuận
có chồng đi bộ đội vào chiến trường từ năm 1968.
Mấy năm
nay gia đình chị không nhận được tin tức
gì của anh
hết. Suốt ngày chị
ở ngoài đồng. Cơm nước do mấy đứa con ở nhà lo.
Chị
có 3 đứa con, tất
cả đều là gái. Đứa đầu tên
Xuân học lớp 7,
đứa thứ hai tên Thu học lớp
4, đứa út tên Lan học lớp 1. Hết buổi học, đĩ
Xuân
ra đồng giúp mẹ để
lấy thêm công điểm. Đĩ Thu đi học về là
quảy
triêng gióng đi hốt phân
trâu nộp cho hợp tác xã.
Xuân, Thu đứa
nào cũng đen nắng, chỉ có đĩ Lan
là trắng và mập tròn. Về
nhà chúng
nó làm việc không hở tay, đứa nấu
cơm, đứa vớt bèo cho lợn, giặt giũ, múc nước
vào
chum… Cũng như hầu hết
các gia đình quanh đây, nhà
chị Thuận ăn no,
nhưng không sướng. Bữa nào
cũng chỉ có rau muống hái ở ruộng phần trăm chấm
với nước
tương. Cá,
thì chỉ có cá vụn cũng kho với tương,
nhưng chỉ
thỉnh thoảng. Lâu lâu
tôi thấy chị Thuận chặt một hai cây tre đem ra chợ
Mía những ngày phiên
bán được bảy tám đồng. Những ngày
đó cả
nhà được ăn cá. Ở đây, nhà
nào
cũng có một hoặc hai ba cái chum tương để trước
sân. Cứ nhìn chum to
chum nhỏ, một chum hay hai ba chum thì cũng biết
nhà
đông hay ít người.
Tương làm bằng nếp và ngô. Tương bao
giờ cũng được
dự tính ăn cho đến
giáp vụ, ngoài tương, muối và ớt ra,
tôi
không thấy nhà chị Thuận có
thêm một thứ gì khác nữa,
không có
mì chính, không có đường,
nước mắm…
Mỡ thì phải đợi đến Tết. Còn đường thì
cũng phải
đợi đến tết, lễ Quốc
khánh 2-9, hợp tác xã mới
phân phối cho một
nhà một ít mật mía để nấu
chè. Trẻ con, trừ một vài nhà
có cán
bộ làm việc ở thị xã hoặc ở Hà
Nội, hầu hết ít khi được ăn kẹo. Chúng để dồn
lông
vịt hoặc những thứ
lặt vặt sắt đồng gì đó, thỉnh thoảng đổi cho mấy
bà đồng nát lấy một
hai que quệt mật mía ăn dẻo như kẹo. Bánh
mì, ngay
ở thị xã Sơn Tây dân
cũng không có huống hồ là ở
đây. Sáng
nào tôi cũng để phân nửa cái
bánh
mì cho mấy đứa nhỏ. Ông Lai thấy thế cũng
làm theo.
Chị Thuận nói, chú
không để mà ăn, cháu nó
đã có
cơm, khoai sắn rồi. Tôi cười, tôi uống
nước trà quen rồi chị ạ. Chị thấy không,
sáng sớm
mà tôi cũng một bát
chè xanh đậm cũng được. Chị Thuận nói,
tôi thấy
ít người trẻ mà uống
nước chè đặc như chú. Cũng quen thôi
chị ạ.
Tôi
thường
ngồi nói chuyện với chị Thuận. Ngoài những
lúc
làm việc mệt nhọc, khi có hơi thư thả,
tôi thấy chị
buồn buồn.
‘‘Mỗi
lần thấy mấy chú là tôi lại nhớ đến
nhà tôi. Nhà tôi đi bộ
đội, năm 1968 vào Nam, ở chiến trường Tây Ninh.
Một hai năm đầu nhà còn
nhận được thư. Mấy năm nay thì không có
tin tức gì hết. Tôi biết ở
chiến trường ác liệt lắm. Anh ấy chắc không
còn nữa. Chú biết không,
mỗi lần nghe trên xã có giấy
báo tử gửi về, những người có chồng đi B
như tôi, cô Thìn, người cứ như mất hồn,
không muốn làm, muốn ăn gì nữa.
Mấy chị em chỉ còn ôm nhau mà
khóc thôi.’’
Một
hôm ăn cơm tối xong, chị Thuận vội vã qua
nhà chị Thìn. Một giờ
sau chị về, chị nói với tôi:
“Có giấy báo tử gửi về trên
xã. Không biết
đến phiên ai đây chú ơi. Đêm
nay nhà nào cũng có người
khóc.”
Những
ngày đó không khí
trên Cam Đà nặng nề. Chị Thìn qua
nhà chị
Thuận, chị Thuận đến nhà chị Thìn, qua những
nhà khác có người đi Nam
ngồi với nhau thút thít, mắt đỏ hoe.
Năm
1976, cháu Xuân gửi thư từ Cam Đà
vào Huế báo cho tôi biết là
bố cháu đã hy sinh năm 1968 tại chiến trường
Tây Ninh mà đến năm 1976
gia đình mới nhận được giấy báo tử.
Những
ngày sơ tán ở Cam Đà tôi
được sống dễ chịu hơn. Từ cái không
khí như tù ngục, luôn luôn bị
một đám đông ba bốn trăm con người canh
giữ, rình mò, thù ghét,
khinh bỉ, tôi bỗng có được một không
gian rất
rộng và những con người chung quanh hiền từ, vui vẻ. Họ cười
nói với
tôi bình thường. Họ xem tôi cũng
là người như họ. Tôi được họ gọi bằng
anh, bằng chú, bằng em. Hàng ngày
tôi chỉ chạm mặt với cái đám
đông coi
tôi là thù địch ở nhà ăn. Ở
đó, tôi vẫn ngồi ăn một mình, hoặc
chung
bàn với các ông bí thư Đảng
ủy, bí thư chi bộ… ngay cả ông Lai ở
cùng
nhà với tôi cũng tránh không
ngồi ăn với tôi.
Bây
giờ ăn cơm xong tôi cứ thủng thỉnh đi về nơi ở. Có
khi dọc
đường nhiều nhà dân còn gọi
tôi vào uống nước nói chuyện.
Ông Lai có
nhiệm vụ canh chừng tôi. Trừ đi ăn cơm, đi mua
hàng, còn đi hớt tóc,
đến phòng đọc sách, ra đồng chơi, tôi
đều phải xin phép ông Lai. Ông
Lai, người thấp, to bề ngang, hai cằm bạnh ra, vai rộng và
gù lên, da
mặt có màu chì. Cặp mắt ông
ta bao giờ cũng lừ đừ nhìn tôi. Ít khi
ông
ta gọi tôi bằng anh, nói với tôi bao giờ
ông cũng nói trổng và từng
tiếng một rất to như ra lệnh. Ông ta thường tránh
ngồi chung nói chuyện
với tôi. Bất đắc dĩ lắm khi có bà con
hàng xóm của chị Thuận đến chơi,
buộc lòng ông phải ngồi với tôi. Nhưng
lúc đó ông ta cũng tránh
nói với
tôi, vì nói với tôi
ông phải gọi tôi bằng anh.
Sinh
hoạt hàng ngày của tôi không
còn bị bó hẹp quanh quẩn một mình
tôi nữa. Tôi cảm thấy mình được nhẹ
nhàng hơn. Tôi đi ra, tôi đi
vào
không có những con mắt trừng trợn, những
bãi nước miếng đánh bạch dưới
đất. Tôi cười, tôi nói được tiếng to.
Đám trẻ con thường đến sân nhà
chị Thuận đánh thẻ, nhảy dây. Tôi ngồi
xem chúng chơi đùa, cười nói.
Tôi lấy giấy báo xếp tàu bay,
tàu thủy cho chúng chơi, tôi vỗ tay
hát
hò với chúng. Tôi thường sang
nhà anh Đại, anh Sinh, nhất là nhà anh
Cận, uống nước nói chuyện. Anh Đại, trước đi bộ đội bị
thương, phục
viên về nhà làm ruộng. Anh Sinh
thì đã lớn tuổi, xã viên.
Anh Cận trẻ
hơn tôi một hai tuổi, đi bộ đội, kém sức khỏe được
giải ngũ, bây giờ là
cán bộ của một cơ quan nào đó ở thị
xã. Anh Cận có vợ và hai con, vợ
anh là xã viên, người xinh đẹp.
Nhà của họ ở xây lưng nhau, có cửa sau
đi băng hoặc đối diện với nhà chị Thuận. Tôi
chuyện trò với họ vui vẻ
và khuây khỏa. Mỗi lần uống nước tại
nhà anh Cận, thế nào rảnh tay, ông
cụ thân sinh của anh Cận cũng đến ngồi góp chuyện.
Hai cô em gái, một
cô là giáo viên cấp I, một
cô tên Thể đang học lớp 10, bỏ dở về làm
nông giúp gia đình, thỉnh thoảng
ghé lại ngồi nghe. Cô chị có khi
nói,
nhưng cô em thì không, chỉ ngồi im
và cười. Chuyện nói thường là chuyện
đời, chuyện vui, chuyện phong tục tập quán xoay quanh điếu
thuốc, chén
trà. Họ hay hỏi tôi ở Huế, về đời sống của người
dân ở Huế. Tôi kể hết
với họ những gì tôi đã sống
và thấy ở Huế, không giấu, không
thêm bớt.
Sống
với họ,
nói chuyện thành thật với họ, mới hiểu được tấm
lòng
của họ. Không phải họ không thích
nói chuyện
chính trị, nhưng như ông
cụ thân sinh anh Cận nói: các
bác đó
(chỉ những cán bộ miền Nam ở sơ
tán) hễ nói chuyện bao giờ cũng tỏ vẻ động
viên
chúng tôi, lên lớp
chúng tôi. Chúng tôi
không thích
thế. Ngồi với nhau nói chuyện nên hòa
đồng mới vui, có thế uống chén nước
hút điếu thuốc
mới ngon.
Ông
Lai
không bằng lòng ra mặt khi thấy những người chung
quanh
thân mật với tôi. Nhưng ông ta cũng chịu.
Tôi
vẫn sống bình thường,
không bao giờ tỏ ra là mình cố gắng
phấn đấu để lấy
lòng những người
như ông ta. Tôi không sợ gì
cả. Tôi
có tư cách của tôi và
tôi phải giữ
tư cách đó.
Dần
dần, rồi
cũng có những cán bộ bệnh nhân K65 đến
chơi với
tôi.
Trong số những người này, bác Nhã
là người
gần gũi với tôi nhất. Lúc sơ
tán về đây, bác ở nhà anh
Cận nên
tôi hay gặp bác, thành ra
thân quen.
Bác Nhã là người Nam Định, khoảng gần
60 tuổi. Năm
17, 18 tuổi vì gia
đình quá cực, bác đi phu mộ.
Trên tàu
từ Hải Phòng vào Nam bác
làm quen
với một cô gái cùng quê
và kết
làm vợ chồng ngay. Bác kể, lễ cưới là
mấy chai li-mô-nát, vài cây
kẹo, quây
quần vài thằng bạn cùng quê.
Vào
Nam, hai vợ chồng làm phu cạo mủ cao su cho đồn điền của một
thằng Tây.
Một năm sau, vợ bác ốm nặng và chết.
Kháng chiến
chống Pháp, bác đã
tham gia làm cơ sở cách mạng, sau đó
vì hay
thay đổi chỗ làm việc nên
bác mất liên lạc. Đến kháng chiến chống
Mỹ
bác hoạt động lại, rồi bị
lộ, cơ sở vỡ, bác thoát ly ra chiến khu.
Vì bị
bệnh vết thương cũ hồi
chín năm tái phát, lại tuổi
già, bác
được ra miền Bắc chữa bệnh. Đến
nay bác vẫn chưa vợ chưa con. Sau một thời gian chữa bệnh,
bác xin đi
phép về thăm quê. Bác kể, đã
mấy mươi năm
rồi, trở về quê tôi vẫn nhớ
đường và vào đúng nhà của
mình. Chị
tôi mừng đến tái mặt, không ngờ
tôi
còn sống. Nhưng sau đó, chị tôi bắt đầu
nghi ngờ về
tôi. Chị tôi hỏi xa
hỏi gần tôi về bà con, cô bác
xem có
phải tôi thật là thằng Hoàng Văn
Nhã không. Khi biết tôi thật
là thằng
Nhã rồi, chị tôi và bà con
lại
nghi tôi là Mỹ ngụy cài ra hoạt động
gián
điệp. Tôi đoán biết điều đó
và đưa giấy đi phép và các
thứ giấy tờ
khác làm chứng. Bà cũng
không
tin. Chị tôi lúc đó là
bí thư chi bộ
xã. Thế là bà nói Ủy ban
hành
chính xã điện ra K65 hỏi. Khi nhận được điện trả
lời của
K65 bà mới
tin.
Chiều
nào
cơm nước xong, bác Nhã cũng rủ tôi ra
đồng chơi.
Bác nói:
“Tôi thì sợ đéo
gì, thằng cha Nai
(Lai) nàm (làm) như anh là
tù không
bằng. Anh cứ đi chơi với tôi, không sợ
gì
hết”. Từ khi quen bác Nhã,
bữa ăn nào bác cũng gọi tôi
cùng đi.
Về
sau có 3 người mới chuyển đến thường hay đến gặp
tôi nói chuyện.
Đó là các anh Linh, Kim và
Hiến. Cả ba người đều là người Quảng Nam và
là Đảng viên. Loáng thoáng
tôi đã gặp họ ở nhà ăn. Họ tự động đến
ngồi
ăn cùng mâm với tôi cười nói
vui vẻ. Trong câu chuyện qua lại, họ cho
tôi biết tên những người bạn của tôi
trước học ở Huế sau vào Đà Nẵng
hoạt động cách mạng. Tôi có những người
bạn mà họ cũng quen, họ có
những người bạn mà tôi cũng quen, người Quảng
có, người Huế có. Chúng
tôi quen biết nhau là như thế. Rồi họ thỉnh thoảng
đến chỗ tôi ở nói
chuyện, mượn sách báo. Linh có
nói: tụi tôi đến chơi với anh, vì
thích
anh. Anh đừng nghi là tụi tôi được phân
công theo dõi và tìm hiểu
anh
để báo cáo.
Năm
1976, tôi hay gặp Hiến ở Huế, lúc đó
Hiến học đại học sư phạm
sử. Tốt nghiệp xong Hiến đi dạy đâu ở Quảng Nam. Từ
đó tôi không được
tin gì về Hiến. Một người bạn rất thân của Hiến
tên Phong có cho tôi
biết hình như Hiến mất tích ở Campuchia. Kim
thì học đại học mỹ thuật
Hà Nội. Sau ngày giải phóng, Kim
làm việc ở Đà Nẵng. Trong khi bước
giật lùi để ngắm bức tranh đang vẽ ở trên
sân thượng của một tòa nhà
cao tầng. Kim đã hụt chân rơi xuống đất chết.
Còn Linh, sau thời gian ở
K65, tôi không có dịp gặp lại.
Những
ngày này còn có một người
thường lui tới với tôi là ông Đặng
Kiếm Ba. Ông tên thật là Đặng Ưa, người
Phú Yên, trên bốn mươi tuổi.
Vì
mê nhân vật Đặng Kiếm Ba trong truyện Rừng thẳm
tuyết dày của
Trung Quốc nên ông lấy bí danh
đó. Tôi đã quen ông ta
lúc ở bệnh viện
E1 (Thạch Thất, Hà Tây). Hồi đó
ông là phó bí thư Đảng ủy
khối bệnh
nhân. Lúc K65 chưa sơ tán
còn ở thị xã Sơn Tây, ông ta
cũng tránh mặt
tôi. Về đây, ông lại hay đến gặp
tôi, nhờ tôi vẽ cho ông học tiếng Anh.
Ông cho tôi cuốn “English
Grammar” for Pedagogical Institutes
của Liên Xô mà ông ta mua
ngày
23.5.1959 ở Hải Phòng. Cuốn sách này
bây giờ
tôi vẫn còn giữ.
Ông
Ba hay đi Hà Nội, tôi nhờ ông mua
giúp mấy tờ báo Liên Xô,
Trung Quốc bằng tiếng Anh và tiếng Pháp.
Tôi nói với ông Ba:
“Tôi muốn
xem những tờ báo này để biết thêm tin
tức. Nhưng tôi rất ngại. Tôi sợ
họ nói tôi đọc báo địch. Nếu
có ai hỏi anh cứ nói là anh họ
tôi mượn”.
Một hôm tôi đi chơi đến 6, 7 giờ tối mới về thằng
cha Lai nghiêm mặt,
gù lưng đứng trên thềm nhà trợn mắt,
hai cái môi thâm tím rung
lên, mất
bình tĩnh, hỏi to, lắp bắp từng tiếng:
‘‘Anh…
anh… đi đâu… nãy
giờ… mới về?
Há…
há…’’
‘‘Anh
Ba rủ tôi đi chơi.’’
Ông
ta thuận chân bước xuống thềm, không nói
gì nữa. Ông Ba lúc đó
là ủy viên thường vụ Đảng ủy phụ trách
thanh niên khối bệnh nhân.
Tôi
bước
vào nhà, chị Thuận đang ngồi bên phản
đứng dậy ra
bàn giữa rót nước, nói:
‘‘Chú
Đính uống nước chè xanh. Cháu
nó mới nấu.’’
Tôi
dạ.
Việc
người ta
đối xử với tôi không giống như người
khác, những
người dân thường gần gũi với tôi dẫn dần
đã nhận
thấy.
Sau
khi về đây khoảng hơn hai tuần, một buổi sáng thứ
sáu, cô Mùi
và cô Chanh, y tá của K, đem thuốc đến
phát cho bệnh nhân. Như thường
lệ, tôi đến nhận thuốc, cô Mùi bảo:
‘‘Hôm
nay anh không có thuốc.’’
Tôi
cứ nghĩ hôm qua cô y sĩ khám bệnh
đã quên ghi phần thuốc của
tôi. Đến trưa, chiều cũng không thấy ai đến
phát thuốc. Sáng thứ 7, cô
Mùi, cô Chanh đến phát thuốc.
Cô Chanh đưa thuốc cho ông Lai, cô
Mùi
gấp cuốn sổ phát thuốc lại. Tôi hỏi:
‘‘Còn
thuốc tôi?’’
Cô
Mùi lật sổ ra, rà ngón tay
trên danh sách bệnh nhân.
‘‘Thuốc
của anh cắt rồi. Anh không có
thuốc.’’
Tôi
biết sau một thời gian điều trị, y bác sĩ cắt hẳn hoặc giảm
bớt
lượng thuốc cho bệnh nhân để theo dõi
tác dụng của thuốc, và sau đó
tùy
theo tình trạng sức khỏe của bệnh nhân
mà thay đổi cách điều trị. Thuốc
cắt hoặc giảm là thuốc chữa bệnh, còn
các loại thuốc bổ thì vẫn giữ.
Tôi bây giờ thì thuốc chữa dạ
dày và thuốc bổ đều cắt hết. Sáng thứ
5
tuần tới, cô Xiêm y sĩ đến khám bệnh.
Khám cho ông Lai xong cô cắp sổ
đi. Cô Xiêm xem như tôi biết
là kể từ nay tôi không được
khám bệnh và
phát thuốc nữa.
Máy
bay
Mỹ đã ném bom một số vùng chung quanh
xã
Cam Thượng. Thỉnh
thoảng thôn Cam Đài có kẻng
báo động.
Tôi và ông Lai giúp chị Thuận
đào
một cái hầm ếch đủ cho 5 ngưới núp dưới bụi tre
trên bờ ao. Đất mềm dễ
đào, nhưng cũng phải hai ngày mới xong. Chị Thuận
nói với tôi:
‘‘Mới
đầu tôi cứ tưởng là chú không
làm được
việc nặng.’’ Tôi ngả hai bàn
tay chỉ cho chị
Thuận thấy những dấu chai, nói:
‘‘Chi
chớ đào hầm thì tôi cũng quen rồi, chị
ạ.’’
Cứ
theo tiếng kẻng báo động mà biết máy
bay Mỹ ở gần hay ở xa và đã
xuống hầm hay chưa. Ít khi tôi xuống hầm.
Tôi cứ ngồi ngoài miệng hoặc
ra sân xem tên lửa rượt máy bay Mỹ hay
các trận không chiến. Ông Lai cứ
rình cơ hội và nặng lời với tôi:
‘‘Sao
không chịu xuống hầm. Xuống hầm đi, ngồi trên
đó để
làm gì? Không sợ dân họ
phê bình
à?’’
Tôi
không xuống.
‘‘Nó
đánh có điểm rồi.’’
Bây
giờ chiều chiều đi làm về, cơm nước xong, chị Thuận
và đĩ Xuân
ngồi đánh mũ rơm và con cúi.
Lúc này trẻ con trong thôn đi học đều
đội
mũ rơm và mang một vành rơm ở sau lưng.
Các lớp học đều có thành đất
cao một mét vây quanh và giao
thông hào dẫn ra ngoài. Tôi
vừa nói
chuyện với mẹ con chị Thuận, vừa tập đánh mũ rơm cho vui.
Chị Thuận
nói:
‘‘Chiến
tranh chưa hết, chúng tôi còn khổ. Chắc
mấy
chú, mấy bác ở
chiến trường đã quen với bom đạn rồi. Ở đây, hễ
nghe tiếng
máy bay là
chúng tôi quá hãi.
Ôi, nó
mà ném bom xuống đây chắc chết hết
thôi.’’
Đĩ
Xuân hỏi tôi:
‘‘Ở
chiến trường Mỹ nó ném bom dữ lắm phải
không, chú Đính?’’
‘‘Trong
đó, không khi nào là
không nghe tiếng bom đạn, không khi
nào vắng tiếng máy bay. Phút im lặng,
lúc không có tiếng bom, không
có
tiếng máy bay là lúc căng thẳng nhất,
là lúc cái chết có thể đến
với
mình chưa biết khi nào.’’
‘‘Sao
thế hở chú?’’
‘‘Lúc
đó sẽ có B52.’’
‘‘Hãi
quá chú nhỉ! Thế chú có sợ
không?’’
‘‘Sợ
chứ! Nhưng rồi cũng quen đi như mình quen với cái
chết
bên cạnh mình hàng
ngày.’’
‘‘Chú
nói cái gì thế?’’
‘‘Lúc
mới lên rừng, thấy có người chết, nhất
là những người vừa mới
ngồi nói chuyện với mình, mới đi mới đứng
đó, hay vừa mới gặp mình hôm
qua. Chú sợ và ớn. Nhưng rồi, chiến tranh
ngày càng ác liệt, ngày
nào
cũng có người chết, và lâu
thành ra quen đi.’’
‘‘Chắc
chú thù thằng Mỹ lắm, chú
Đính nhỉ?’’
Chị
Thuận cười:
‘‘Cái
con này, không thù sao chú
lại tham gia cách mạng.’’
Đĩ
Xuân:
‘‘Chúng
cháu ghét thằng Mỹ vì chúng
nó
ném bom giết nhiều người
quá.’’
Rồi
chị Thuận lại liên tưởng, chị nói:
‘‘Bố
chúng nó đi B từ năm 1968. Mấy năm nay
không
có tin tức gì cả. Chắc không
còn đâu,
chú Đính nhỉ?’’
‘‘Nói
thế chứ… Có lẽ anh ở chiến trường Nam bộ, đường
sá
xa xôi, thư từ khó khăn, mà thường lại
hay bị thất
lạc dọc đường.’’
Chị
Thuận nhìn tôi:
‘‘Có
mấy người đi bộ đội cũng một lần với anh ấy, người thì
đã
chết, người về được thì thương binh cụt chân, cụt
tay… Tôi chỉ mong nhà
tôi… miễn còn sống là
được…’’
Chị
Thuận bỏ cái nùi rơm đang đánh xuống,
đứng dậy đi vào nhà. Tôi
nghe có tiếng rót nước vào cốc. Những
lúc đó không bao giờ có
ông Lai.
Thỉnh
thoảng những cơn dạ dày lại hành tôi.
Nhiều lần tôi phải chọc
cổ mữa để cơn đau dịu bớt. Liên tiếp mấy ngày
tôi ăn cơm không được.
Một buổi sáng tôi ra ngoài
nhà ăn báo cháo. Phòng trực
của y bác sĩ
cũng ở trong nhà ăn. Thấy tôi báo
cháo, bà Quy, bác sĩ trưởng khoa hỏi:
‘‘Anh
đau à?’’
Bà
ta hỏi nhưng không cần tôi trả lời. Bà
quay sang cô Chanh, y tá, bảo:
‘‘Tôi
đã bảo mấy cô khi nào anh
này đau thì
cho anh ít giọt cồn Ben la đon.’’
Buổi
chiều đi ra đồng chơi với bác Nhã, bác
nói:
‘‘Anh
đau lắm hay sao mà ăn cháo. Tôi
trông anh
lúc này hơi xanh đấy.’’
Tôi
nói là mấy tuần nay tôi không
được phát thuốc và khám bệnh nữa.
‘‘Nàm
gì tồi thế!’’
Hôm
sau trên đường ra chợ Mía tôi gặp
cô Xiêm, cô y sĩ phụ trách
khu vực tôi. Cô Xiêm đi lại gần
tôi làm như tình cờ đi cùng
đường.
Không có ai đi cạnh tôi. Cô
nói nhỏ và rất nhanh:
‘‘Bà
Quy ra lệnh cho em không khám bệnh và
phát
thuốc cho anh đấy. Em đang vội, cho em đi trước.’’
Chắc
là
bác Nhã đã nói với
cô Xiêm về
chuyện tôi đau. Những ngày
này tôi đi nằm sớm. Cái bụng cứ đau
lâm
râm, đến hai ba giờ sáng lại
đau thật dữ dội. Tôi nằm co người lại, ép
cái chăn
bông vào bụng. Một
buổi tối, cô Xiêm đi vào, cô
để cái
đèn bão bên góc
nhà. Không
có ông
Lai. Cô bước lại giường tôi:
‘‘Anh
Đính sao mà đi ngủ sớm thế?’’
Cô
cúi xuống bên mùng:
‘‘Anh
đau lắm à?’’
Cô
vén mùng lên, ấn vào tay
tôi mấy viên thuốc.
‘‘Ka-vét
đấy. Anh uống cho đỡ đau. Thôi, em về.’’
Cách
một
hai hôm sau, buổi chiều, tôi đang ngồi đọc
báo
trên cái ghế dài giữa sân,
cô
Xiêm đến. Cô nhìn vào trong
nhà:
‘‘Bác
Lai có nhà không anh?
’’
‘‘Ông
ta đi đâu đó.’’
Cô
ngồi xuống ghế lật tờ báo để bên cạnh bỏ
vào một gói giấy nhỏ rồi gấp tờ báo
lại.
‘‘Em
xin của mấy ông bệnh nhân đó. Khi
nào có Bismuth em sẽ mang
lại cho. Anh đừng cho ai biết hết. Chết em đó.
Thôi em qua bên bác Nhã
cái đã.’’
Trước
kia mỗi
lần khám bệnh, tôi hay nói năm điều ba
chuyện với
cô
Xiêm cho vui. Nay thì cô ngại.
Cô Xiêm
có một khuôn mặt tròn, hai
má
đầy và một chiếc răng còi. Cô sinh ở
Thái
Lan nên có tên là
Xiêm. Bây
giờ mỗi lần gặp tôi như thế, cô lại dúi
cho
tôi vài viên Ka-vét,
vài
gói Bismuth, có khi cô nhờ
bác Nhã
đưa cho tôi.
Mùa
hè ở đây quá nóng.
Nhà nào cũng có tường gạch sống bao
quanh
nên kín gió. Buổi trưa không
nằm nổi trong nhà, tôi hay ra ngồi trên
bờ
tre ngoài ao để đọc sách. Lúc
này tôi đang đọc dỡ cuốn Các
học thuyết về giá trị thặng dư
(phần thứ hai) của Karl Marx. Từ ngày về đây nhờ ở
phân tán, ít ai nhòm
ngó, tôi thỉnh thoảng lại đọc sách
và ghi chép, nhưng chỉ ghi chép hoặc
tóm tắt những điều trong sách mà
không ghi những suy nghĩ của mình về
những điều đang đọc. Sách vở của tôi,
tôi để ngay ở đầu giường hoặc
trên bàn của chị Thuận ở giữa nhà.
Thỉnh thoảng tôi lên chỗ cô Minh,
người giữ tủ sách của K, mượn sách
báo. Cô bảo tôi, cần sách
gì mà tủ
sách ở đây không có,
cô sẽ về thư viện thị xã mượn giúp cho.
Ông
Lai,
người canh giữ tôi, hết sức khó chịu khi thấy
tôi
đọc sách, ngay cả lúc tôi cầm tờ Nhân
dân
trên tay. Mặt ông ta hầm hầm, nhưng không
nói
gì cả. Những lúc đó cái
lưng của ông
ta gù xuống.
Máy
bay Mỹ đánh những vùng chung quanh
ngày mỗi căng và dày hơn. 7
giờ sáng báo động xa, 9 giờ báo động
gần, 3 giờ chiều báo động, nửa đêm
báo động. Nghe tiếng kẻng thì nghe tiếng người
lao xao, chộn rộn, tiếng
gọi nhau… rồi im lặng… Không
khí như khô đi… rồi vỡ tan trong tiếng
máy
bay gầm rú và tiếng súng lớn
súng nhỏ lụp bụp trên trời dưới đất…
rồi
báo yên, sinh hoạt lại như thường. Học
trò đội mũ rơm, mang con cúi sau
lưng đi học, xã viên ra đồng, chợ Mía
vẫn đông. Nguyễn Hữu Ngô đến thăm
tôi trong những ngày này, buổi trưa
nắng nóng [1] .
Tôi
đang ngồi ăn cơm một mình. Nhà ăn đã
vắng bớt. Tôi ngó trật
lên, thằng Ngô mặt đỏ lù lù ở
đâu không biết đang đứng trước mặt tôi.
Hắn cười rồi kéo ghế ngồi bên cạnh tôi.
‘‘Răng
rứa mi?’’
Tôi
cười, ừ. Nhà ăn lại láo xáo. Những
người đã cầm bát đũa ra về
đứng lại. Mấy ông Đảng ủy, chi ủy, hội đồng bệnh
nhân nhìn nhau. Những
người đang ăn dừng đũa, ngừng nhai, nói nhỏ. Thằng cha Lai
với ông Hà,
Chủ tịch hội đồng bệnh nhân ghé sát đầu
nhau thì thầm bên thùng nước
uống.
‘‘Răng
mi biết tao ở đây?’’
‘‘Tao
sơ tán gần Chùa Tây Phương. Hắn đẩy
gọng
kính sát mũi. Rứa mà tao tưởng mi đi
K3
rồi.’’
‘‘Thà
rứa còn hơn.’’
Hắn
khoanh tay lên bàn nhìn tôi
cười, rồi nhìn chung quanh:
‘‘Họ
ngó mi với tao đó.’’
Tôi
và hết chén cơm đứng dậy:
‘‘Về
chỗ tao nói chuyện.’’
Thằng
Ngô dắt xe đạp đi theo tôi. Tôi
nói:
‘‘Ở
sơ tán có đỡ. Ở dưới thị xã bọn hắn cứ
chằm hăm tao.’’
Thằng
cha Lai gù vai lạch bạch sau lưng bọn tôi
cách mười thước.
Tôi
chế một bình trà, mang ghế ra sân chỗ
có bóng im ngồi nói
chuyện với thằng Ngô. 15 phút sau ông
Lai đi vòng ngã sau nhà anh Cận
về tới. Thằng Ngô nói:
‘‘Bà
Trai và ông Doãn Triều đã
cho bọn tao biết
chuyện của mi. Bọn
hắn làm dữ lắm phải không. Ông Triều
và
bà Trai nói là mi bị đấu
tố.’’
‘‘Cả
hàng trăm con người nhảy vào chửi mắng xỉ vả
tao.’’
‘‘Kinh.’’
Hắn làm thinh rồi tiếp, ‘‘nghe bọn hắn
đòi bắn mi.’’
‘‘Thiếu
một chút nữa là tao bị xé
xác.’’
‘‘Vì
răng tụi hắn không đưa mi đi K3?’’
‘‘Mi
ít biết. Tất cả những người ở đây đều coi tao
là kẻ
thù, là chó. Để tao ở đây
là một
cách hành hạ tao tốt nhất.’’
‘‘Khiếp!’’
Tôi
hỏi:
‘‘Thằng
Thanh, thằng Sở ra sao rồi?’’
‘‘Hai
đứa ở Hà Nội. Thỉnh thoảng có về nơi cơ quan sơ
tán.’’
‘‘Sau
vụ của tao, tao nghe mi còn đọc trên
đài giải
phóng buổi phát
thanh cho Huế, tao mừng. Tao cứ lo bọn hắn làm
khó dễ với
mi. Lúc hỏi
cung tao, bọn hắn có đưa bài “Cảnh
tượng” của
mi cho tao đọc và hỏi tao
có biết của ai không, bài thơ
nói gì?
Tao bảo tao không biết và nói
đó
là một bài thơ tả cảnh. Mi có nhớ tờ Hòn
Kẽm
mi cho tao mượn không? Bọn hắn bảo tao có
liên hệ
với bọn sinh viên Việt Nam phản động bên
Tây
Đức.’’
Thằng
cha Lai cứ lảng vảng vô ra trên thềm
nhà, ngoài sân, mắt
liếc, mặt hầm hầm. Kẻng báo động có
máy bay Mỹ. Tôi với thằng Ngô xuống
ngồi dưới hàng tre bên bờ ao. Tôi
nói với thằng Ngô:
‘‘Bọn
hắn nghi CIA cài tao vào để phá
hoại.’’
Chị
Thuận và mấy đứa nhỏ xuống hầm. Ông Lai ngồi
bên miệng hầm mắt
cứ đảo qua hai đứa tôi. Kẻng báo động khẩn cấp.
Có tiếng bom nổ xa.
Súng nhỏ súng lớn bắn loạn xạ trên
trời. Tôi kéo tay thằng Ngô đứng
dậy:
‘‘Lên
xem tên lửa rượt máy bay.’’
Anh
Đại, anh
Sinh và những người hàng xóm đều đứng
trên
sân ngẩng mặt ngó lên trời.
Trên
trời máy bay Mỹ chao đảo tránh tên lửa.
Tôi
hỏi thằng Ngô:
‘‘Mi
thấy không chiến lần nào
chưa?’’
‘‘Rồi.’’
‘‘Ban
đêm thấy đạn đan trên trời mới
thú.’’
Đĩ
Xuân,
con chị Thuận cũng chạy lên sân. Tên lửa
nổ lụp bụp
trên cao. Tôi hỏi đĩ Xuân:
‘‘Cháu
có phân biệt được tên lửa nổ với
máy bay
cháy không?’’
‘‘Khói
màu da cam là của tên lửa,
khói nâu
là máy bay cháy.’’
Kẻng
báo yên. Thằng Ngô về. Tôi đưa
nó một đoạn.
‘‘Rảnh,
tao tới mi chơi.’’
Hắn
lên pê-đan, đạp xe chậm chậm dưới hàng
bạch đàn. Hắn quay đầu
ngó lại, đưa tay khoát khoát.
Tôi nhìn theo cho đến khi hắn đi khuất.
Tôi
vừa bước chân lên thềm nhà,
ông Lai đang ngồi trong nhà đứng dậy hỏi liền:
‘‘Anh
đó là ai thế?’’
‘‘Bạn
tôi.’’
‘‘Anh
ta ở đâu?’’
‘‘Đài
giải phóng.’’
Một
lát
sau, ngó lui ngó tới tôi
không thấy anh ta ở
đâu nữa. Chiều
ngày hôm sau, bác Nhã cho
tôi biết:
“Tôi nghe mấy ông trong Đảng ủy
nói
rằng lâu nay chúng nó nằm im,
bây giờ
đã bắt liên lạc với nhau. Cái anh
bạn đến thăm anh đó, họ bảo là đồng bọn với anh
đó”. Tôi bảo họ: “Bạn
bè lâu ngày không gặp, người
ta đến thăm nhau
là chuyện thường. Có gì
đâu”.
Nửa
tháng
sau thằng Lê Ích Đề đến thăm tôi. Đề đến
vào
buổi chiều, hắn đem theo mấy bao Tam Đảo và một
gói
trà. Hắn nói:
‘‘Tao
ở Viện điều dưỡng gần đây. Người ta nghi tao bị phổi
nên
chuyển lên đó để điều trị. Vừa rồi có
mấy người ở đây chuyển lên chỗ
tao. Tao nghe được chuyện của mi. Bữa ni sơ tán về
đây, tao đến gặp mi
và hỏi cho ra chuyện.’’
Tôi
kể sơ cho hắn nghe mọi sự của tôi. Hắn ngồi nghe thỉnh thoảng
hơi mím môi. Hắn nói:
‘‘Bọn
hắn nói mi dữ lắm. Mi là một tên phản
động, một thằng gián
điệp, CIA. ‘Hết ai mà hắn dám
nói xấu cả Hồ Chủ Tịch’. Bọn hắn căm
thù
mi, coi mi là địch, là Mỹ ngụy. Hôm đem
mi ra đấu ở hội trường K65 có
thằng bảo nếu có súng hắn bắn mi ngay tại chỗ.
Bọn hắn cho Đảng khoan
hồng với mi như thế là quá lắm rồi. Bọn hắn
đã đề nghị đưa mi đi cải
tạo lao động. Có thằng còn nói những
thằng như mi không thể cải tạo
được, nhưng phải ‘bỏ tù cho nó biết
tay’. Tao nghe cũng ớn.’’
Thằng
Đề có tật nói là hay thít
tha. Hắn nói bao giờ cũng chậm rãi,
sau một câu, hắn mở miệng ra tưởng như cười. Lê
Ích Đề ở trong rừng
cũng như ra đây gặp nhiều khó khăn về
lý lịch. Và hình như vì
lý do đó
mà hắn phải ra Bắc. Tổ chức cho là trong gia
đình hắn có người liên hệ
với bọn Đại Việt. Thằng Đề hỏi sinh hoạt hàng
ngày của tôi bây giờ thế
nào, tôi nói:
‘‘Tao
coi như bị bắt và sống tù. Đi đâu cũng
phải xin phép. Ra khỏi
chỗ ở là có người đi theo. Ở đây tao
không có bạn bè. Sống như thế
này
tao nhớ tụi bây quá sức.’’
‘‘Mi
còn ở đây lâu mau
nữa?’’
‘‘Tao
cũng chịu, không biết.’’
Tôi
chỉ
một cái thùng đang nức dở và mấy
cái rổ,
rá, nia cũ có, mới có chưa nức
có,
nói:
‘‘Hàng
ngày tôi ngồi nức rổ rá cho vui. Tao
lấy thúng mủng trong
nhà ra nức lại hết. Có mấy ông
già người Quảng Ngãi mới đến thường đến
đây đan rổ rá. Họ đan, tao nức
giùm.’’
‘‘Mi
mà cũng biết nức đồ rứa à?’’
‘‘Ngó
họ làm mình tập thì biết. Đan
thì tao chịu. Tao không kiên
nhẫn vót nan. Nhưng nức và chạy chân
rết thì tao làm rất đẹp. Thôi
thì
những nhà chung quanh đây ai có rổ,
rá, nia hư tao đều nức lại cho hết.
Cũng vui. Cắn chặc cặp vành giữa hai hàm răng
rút mạnh sợi mây, nghe
kêu rắc rắc… thú vị và sung
sướng vô cùng. Có nhiều khi cũng tức
vì nửa
chứng đứt mây.’’
Thằng
Đề cười
hì hì. Tôi kể cho hắn nghe mới
đây
thôi, tôi đang
ngồi dựa cột đọc báo trên thềm nhà, hai
ba
ông bệnh nhân với mấy người
hàng xóm, người đứng người ngồi uống nước
chè
nói chuyện giữa sân, chị
Thuận sửa soạn gì đó trong nhà,
ông Lai
gù vai xuống hậm hực bước lên
thềm, không nhìn tôi nói lắp
bắp:
“Anh… anh nên học đan đát đi.
Tôi
nói
thật, những người như anh sau này không ai
dùng
đâu”. Tôi nghe tiếng
ông già người Quảng Ngãi đang ngồi đan
rá
ngoài sân: “Mệt quá,
ông Lai
ơi! Gì đâu không”.
Ông Lai hỷ mũi bước
nhanh vào nhà.
Thằng
Đề cầm gói thuốc xắc mân mê những sợi
thuốc nói:
‘‘Mi
hút thuốc nhiều quá. Tao cũng cố bớt dần. Thuốc
này mi kiếm đâu ra
đây?’’
‘‘Ừ,
bây giờ tao chỉ có thuốc với trà. Tao
thường ngồi hút thuốc
uống trà một mình, ngó trời đất
cây cối, xem bọn trẻ con chơi đùa, cãi
nhau. Thuốc đó tao nhờ bà chủ nhà mua
ngoài lò sấy. Mua dễ lắm, một xấp
có ba bốn hào. Tao chỉ hút được loại
2, loại 3, loại 1 quá nhẹ. Có khi
mấy ông xã viên hàng
xóm cho cả một bó.’’
‘‘Này,
thằng Đề uống một ngụm nước, hai môi chúm lại,
này
Đính, lúc hỏi cung mi, bọn hắn có
nói chi
tao không?’’
‘‘Có,
có. Bọn nó hỏi tao lúc lên
K65 gặp ai. Tao
bảo lên thăm ở chơi với mi và thằng Minh mấy
ngày.’’
Hắn
chím môi cười hỏi:
‘‘Này,
tụi Thừa Thiên hắn đối xử với mi ra
răng?’’
‘‘Ui
chào, tụi hắn cho tao làm nhục, bôi xấu
quê hương. ‘Cái đồ nó
sống làm chi cho dơ dớp’. Có đứa nhổ
nước miếng ngay trước mặt tao.
Chẳng có một thằng người Thừa Thiên nào
đến chơi với tao hết.’’
Thằng
Đề ngồi
nói chuyện với tôi một lúc nữa rồi về.
Hắn đi nhờ
xe đạp một người khác cũng đến đây thăm bạn.
Mãi
hơn hai năm sau tôi mới có dịp gặp hắn ở
Hà Đông. Thằng Đề là
một thằng rất lạ. Hình như hắn có cái
gì đó hơi rắc rối trong cuộc sống
riêng tư và trong gia đình
nên trong cách cư xử với những người
khác
nhiều khi hắn có vẻ khắc khổ. Sau này về Huế
có dạo tôi gặp hắn luôn,
rồi biệt đi có hàng tháng hắn mới
ló mặt gặp anh em. Hắn cứ vội vàng
nhưng xét ra cũng chẳng có việc gì đến
nổi hắn phải hấp tấp.
Hàng
tuần thường có người từ bệnh viện E2 ở Hà Nội, E1
ở Thạch Thất
chuyển đến, và những người ở đây chuyển đi nơi
khác. Những người thương
tôi cũng dần dần đi hết. Những người mới đến bao giờ cũng
được chi bộ
cho biết về tôi để cảnh giác và canh
chừng. Hôm nào có người mới đến
bao giờ ở nhà ăn cũng có người chỉ chỏ
tôi thì thầm: “đó, hắn
đó”,
“thằng nó đó”. Phần nhiều
những người mới đến đối xử với tôi ít căng
thẳng, vì họ là những người không dự
cuộc đấu tố tôi. Hơn nữa, do hoàn
cảnh sơ tán ít thấy nhau, nên cũng đỡ
cho tôi.
Hôm
đó, Lịnh, Kim và Hiếu đến chơi. Lịnh
nói:
‘‘Hôm
kia mít tinh bọn tôi không thấy anh.
Sáng nay
họp chi bộ tôi
có hỏi mấy ông: Vì sao không
để anh
Đính dự mít tinh? Mấy ông trả lời:
“Lệnh của Cục bảo vệ Đảng của Ban thống nhất Trung ương
không cho anh
Đính tham dự bất cứ một cuộc họp nào”.
Có
ông nói: “Mít tinh kỷ niệm
Quốc khánh (?), thằng Đính không xứng
đáng
để tham dự”. Tôi không đồng
ý: “ở trong tù bọn địch bắt
chúng ta phải
chào cờ ba que của chúng.
Chúng ta phải để cho anh Đính tham dự
mít tinh để
chào cờ. Mà anh Đính
đâu phải địch. Chúng ta không
nên quá
hẹp hòi và phải cao thượng. Các
đồng chí làm như thế khó mà
cảm hóa
được người khác”. Có một ông
đã
nói: “Đối với thằng Đính cho
nó sống được
như thế này là may cho nó lắm
rồi”.
Tôi
nói:
‘‘Nói
thật, lúc này mà tôi phải
ngồi giữa
đám đông những người ở trong K này,
cũng cực cho
tôi…’’
Kim
hỏi:
‘‘Tôi
nghe nói có một người tên Tấu hay Tấn
gì
đó cùng quê với anh
nói rằng lúc còn ở thị xã
Sơn Tây,
anh đã đến phòng của anh ta chơi,
trong lúc nói chuyện anh đã kể cho một
số người
nghe nội dung một cuốn
phim Mỹ. Anh ta bảo lúc đó và những
người
khác không để ý gì về chuyện
đó. Nhưng sau khi biết về con người anh, anh ta mới thấy anh
là một tên
nguy hiểm. Anh ta đã báo cáo cho
lãnh đạo
khối bệnh nhân biết nội dung
cuốn phim mà anh kể là phản động, đồi trụy.
Và anh
bị kết án là đã tìm
cách đầu độc thanh niên bằng phim ảnh của Mỹ ngụy.
Các chi đoàn đã họp
để vạch trần những tư tưởng phản động chống Đảng của anh và
phát động
trong toàn các chi đoàn một đợt căm
thù tội
ác của Mỹ ngụy và cảnh giác
những âm mưu thâm độc của
chúng.’’
Tôi
mở miệng như cười, rồi thở ra một hơi:
‘‘Tôi
biết anh ta, tên của anh hơi khó nhớ, Tấn, Tấu
gì đó. Anh ta
người cao, ốm, đen, tóc quăn, ít nói,
hoặc nói không ra tiếng. Dạo sau
này gặp tôi, hắn giả vờ không thấy, rồi
lãng đi. Hắn sợ liên lụy. Trước
tôi thỉnh thoảng có nói chuyện với hắn.
Có một lần đến chơi ở phòng
hắn, tôi có kể cho hắn và một
cô bé tên Phương người Quảng
Ngãi, cụt
cánh tay phải với một hai người nữa nội dung một cuốn phim
mà tôi đã
xem ở Huế. Đó là phim La Strada của một
đạo diễn người Ý,
Federico Fellini. Ờ, thì ngồi với nhau nói chuyện
chơi, tôi luôn miệng
cũng kể cho vui. Nhiều khi còn kể chuyện ma nữa
chớ.’’
Nói
xong tôi cười ra tiếng, Lịnh nói:
‘‘Người
ta cho là anh đã bị nhiễm nặng tư tưởng tư sản
phản động,
khó mà gột rửa được.’’
Rồi
Kim hỏi:
‘‘Chắc
anh muốn đi khỏi đây cho đỡ căng thẳng?’’
‘‘Đâu
cũng thế thôi. Mà tôi đâu
có muốn
cái gì được.’’
Tất
nhiên tôi không thể nói hết
suy nghĩ của mình với những người
bạn này. Cũng phải bán tín
bán nghi chớ. Lâu ngày quá,
tôi cũng quen đi
cái không khí của những người chung
quanh đối xử với tôi như thế.
Một
hôm ăn cơm xong tôi ngồi trước sân uống
nước cho mát. Một ông
nào đó tôi không quen mặt,
đến kéo ghế ngồi cạnh tôi. Tôi
đoán ông ta
là cán bộ của Cục đón tiếp
cán bộ B. Ông ta nói ngay liền:
‘‘Tôi
tiếc cho anh quá. Nếu anh không phạm những sai lầm
nghiêm
trọng vừa qua thì anh đã được đi tham quan ở nước
ngoài rồi. Anh Nguyễn
Viết Trác cũng đang chuẩn bị đi Hungary
đó.’’
Ông
ta
còn nói thêm một lúc nữa.
Tôi ngồi
yên uống nước không nói gì
hết. Rồi ông
ta đứng dậy chào tôi đi.
Tôi
thường hay bị hành hạ bằng những cuộc nói chuyện
chán ngắt,
nhưng vẫn không đứng dậy đi được, phải ngồi im nghe.
Và, những lúc đó,
tôi chỉ thấy chung quanh mình, bàn ghế,
bình chén, đất đá cây cối.
Những lúc đó, tôi cứ nhìn
chăm chăm một viên sỏi, một cục đất, một rễ
cây ở xa, ở ngoài xa, ở ngoài
tôi và người tôi đối mặt.
Một
đêm tháng 12.1972, Mỹ đánh B52
Hà Nội. Tôi đang nằm liền vùng
dậy chạy ra sân. Lửa chớp sáng rực một
dãy dài phía trên
nóc nhà chị
Thuận. Tiếng nổ xa từng trận không dứt, rầm rầm.
‘‘B52
rồi!’’
Những
nhà
chung quanh người ta gọi nhau thức dậy. Tôi hỏi anh Đại
và
anh Sinh, những người hàng xóm của chị Thuận:
‘‘Hướng
đó có phải là Hà Nội
không?’’
‘‘Đúng
là Hà Nội.’’
Lửa
trên trời phía trên Hà Nội cứ
chớp liên tục, đỏ ối.
Tôi
cảm thấy mình như tức thở và trong người
xôn xao.
Mỹ
đánh
B52 Hà Nội 12 ngày đêm, hiệp định
Paris, tôi
vẫn ở Cam Đà.
Những ngày mùa hè nóng
rát da ở
đây như vẫn còn lại trong trí nhớ của
tôi đầy đủ những cảm giác mệt mỏi buồn
chán
và xúc động. Tôi thường nằm
trên đám lá tre khô
trên bờ ao
sát cánh đồng. Buổi trưa nhiều khi gió
rất nhiều. Tôi nhìn mấy cây chuối mọc
cheo leo
bên bờ nhớ lại những
ngày còn nhỏ của tôi ở Vỹ Dạ.
Bây giờ chắc mẹ
tôi vẫn còn đi bán cháo ở
ngoài chợ hay trên Đập Đá, dưới
hàng
hiên Morin ngoài đường Lê Lợi.
Chiều nào cũng thế đi học ở trường Thế Dạ về, tôi
nấu cơm
rồi in đầy
một đọi, xé miếng lá chuối đậy lại, một tay bưng
cơm, một
tay cầm cây
đèn bóng đem ra chợ cho mẹ tôi. Năm lớp
nhì,
lớp nhất, bốn năm ở Bồ Đề,
ba năm ở Quốc Học, công việc đó đối với
tôi
hàng ngày vẫn cứ đều đặn.
Cho đến năm 1962, tôi đậu tú tài
và đi dạy
học ở trường bán công Truồi,
thỉnh thoảng lúc nào rảnh tôi mới bới
cơm và
mang đèn ra chợ cho mẹ
tôi. Vào nhà tôi ăn cơm một
mình, lấy
sách vở ra học bài, rồi đóng cửa
lại leo lên ngựa nằm ngủ. Khoảng 10 giờ là sớm
nhất,
thường khi là 11,
12 giờ, có khi 2, 3 giờ sáng, có tiếng
chó
sủa ngoài xóm, rồi có tiếng
hò, rồi một ánh lửa lúc
sáng lúc
tối, lúc mất lúc còn lấp
loáng qua
hàng chè tàu, mẹ tôi về.
Tiếng hát
vẫn kéo dài mệt mỏi, áo não
cho đến
khi mẹ tôi đặt gánh xuống đất, kéo vạt
áo
lên lau mặt. Những đêm mùa
đông mưa to mới thê thảm. Có khi đến 2
giờ
sáng mẹ tôi mới về. Lửa
trong lò vẫn đỏ chập chờn. Cháo còn,
lòng
còn. Mẹ tôi bảo: con với mấy
đứa ăn hết cháo đi. Còn lòng với thịt
thì
cái ni xắc ăn hết, còn cái ni
luộc lại cho mạ, không thôi siu. Mạ tôi
đi nằm.
Tôi kêu thằng Bé, thằng
Vinh, anh Tân, những người bạn nghèo khổ
hàng
xóm tới ăn cháo. Cháo lúc
đó bao giờ cũng ngon. Bốn năm giờ sáng mẹ
tôi dậy
đi lấy lòng. Tôi múc
nước đổ vào khương đặt lên bếp, nhen
thêm một bếp
bắc ấm nước sôi, chế
trà. Có mùa mẹ tôi đi
bán sớm,
có mùa đi bán chiều, mà
cũng còn
tùy
cháo lòng cháo gà hay
cháo vịt nữa.
Những buổi trưa ngồi lặt rau sống,
những buổi chiều buổi tối ngồi một mình, mẹ tôi
hay
hát, khi thì hò mái
nhì mái đẩy, khi thì ru em, những
câu
hát buồn đau đớn. Mẹ tôi hát
và
khóc một mình. Những câu hát
đó cứ
luẩn quẩn mãi trong trí tưởng tôi
suốt cả đời.
Đêm
khuya dựa gốc cây bòng
Nước
chua gió xuống động lòng em đau
Như
lúc này đây tôi đang nằm ở
dưới hàng tre ở cái xứ sở xa lạ này,
những câu hát đó vò
xé ruột gan tôi. Những câu
hát đó lại chập chờn
trong ánh lửa thấp thoáng, và mẹ
tôi như một bóng ma, trên vai một
gánh
cháo mệt mỏi thất thểu giữa đêm khuya mưa
gió, rồi thắp một nạm hương
ra sân khấn vài trời đất, khấn vái ba
tôi phù hộ cho tôi còn sống.
Sau
này tôi mới biết, vì không
chịu nổi cái cảnh trống vắng, cô quạnh của
cảnh nhà mà nhìn đâu cũng
thấy như tôi có ở đó, mẹ tôi
đi bán thỉnh
thoảng ngủ luôn ngoài chợ Vỹ Dạ.
Lần
khảo tra
tôi ở Hà Nội, thằng cha Lai hỏi vặn tôi:
“Anh
khai man
lý lịch, anh nói mẹ anh bán
cháo ở chợ Vỹ
Dạ là nói láo. Chúng
tôi biết
là mẹ anh mở một tiệm ăn rất lớn ở Huế”.
Tôi
nói: “Lúc tôi đi, mẹ
tôi
bán cháo ngoài chợ. Lâu nay
tôi
không liên lạc được với gia đình,
tôi
không biết gì hết”. Những cái
ông
này bao giờ cũng muốn cho người ta
nghèo khổ mãi để cho lý lịch được
trong sạch.
Có nghèo khổ mới căm thù
đế quốc, tư bản, mới trung thành mãi
mãi với họ,
với cách mạng.
Tôi
cứ sống âm thầm một mình thế này, hết
đọc sách, đọc báo lại
quanh quẩn qua các nhà hàng
xóm uống nước nói chuyện, ngồi xem mấy đứa
trẻ chơi đùa. Tôi kiếm giấy báo cũ xếp
tàu bay, tàu thủy cho chúng
chơi. Nhiều khi muốn lên chùa Tây Phương
xem cho biết, nhưng phải báo
cáo, xin xỏ mấy ông lãnh đạo,
tôi cũng chán nên thôi.
Cô Xiêm thỉnh
thoảng lén cho tôi Ka-vet, Bismuth.
Một
buổi chiều tôi sang nhà anh Cận chơi. Cụ
thân sinh anh Cận và
anh đang ngồi uống nước trên bức phản kê
sát thềm nhà, thấy tôi ông cụ
gọi:
‘‘Chú
Đính vào uống
chè.’’
Tôi
dạ. Chuyện qua lại một lát. Ông cụ hỏi:
‘‘Chắc
mấy bác, mấy chú sắp trở vN