Trần Vàng Sao
Tôi
bị bắt
(Nhớ lại những năm
tháng tôi bị bắt rồi được thả ra và
sống như tù) 10 kì
II. Ở
K100 thị xã Phú Thọ
Về
lại thị xã,
khoảng một tháng sau, ngày 28.3.1973,
tôi được
chuyển lên K100 ở thị xã Phú Thọ.
Một
buổi chiều, ăn cơm xong, ông Hà, Chủ tịch Hội đồng
bệnh nhân, chận tôi ở cổng nói:
‘‘Anh
chuẩn bị đồ đạc sáng mai chuyển lên
K100.’’
Sáng
hôm sau, tôi và khoảng 20 người nữa được
chuyển lên K100. K100
là nơi dành cho những người bệnh và
sức khỏe đã ổn định ở chờ đi học
chính trị hay văn hóa, nghiệp vụ để
vào lại chiến trường hay ra công
tác A.
Đối
với tôi,
việc di chuyển chỗ ở bao giờ cũng thú vị, nhất là
ngồi
trên xe nhìn những cảnh vật lạ lùng hai
bên
đường.
Suốt
dọc đường nhiều khi tôi muốn nói một
vài câu với những người
bên cạnh cho vui, nhưng tôi ngại là họ
sẽ giả lơ, nên thôi. Thỉnh
thoảng một vài người trong khi nói chuyện với
người khác quay sang tôi
nói một câu, tôi chỉ nghe, hoặc chỉ
nói lại một vài tiếng.
Xe
chạy thẳng từ thị
xã Sơn Tây dọc theo sông Hồng ngược
lên
Phú
Thọ. Ra khỏi thị xã 5 cây số là bắt đầu
những
khoảng không gian rất
rộng đầy cây và đồi, cây xanh từng
vùng, từng
vạt nhấp nhô, cao thấp
theo xe lên xuống trên đường đi. Buổi
sáng trời rất
mát, gió thơm mùi
lá cây rất lạ, mùi tràm
mùi
chè, mùi bạch đàn và
mùi lúa.
Trên
xe chỉ có một người biết rõ những nơi xe đi qua
là cô Trai, y
sĩ đi theo để săn sóc bệnh nhân và
luôn dịp đi phép thăm quê chồng.
Và
cô là người duy nhất trong chuyến đi
này tôi hỏi chuyện. Cô Trai rất
vui, mỗi lần nói là cười thành tiếng.
Cô có nước da trắng mịn, hai má
cứ hồng hồng, mũi hơi thấp một chút. Cô
có một đứa con trai còn nhỏ,
chồng đi bộ đội. Đúng ra là cô phải đến
K100 để bàn giao bệnh nhân,
nhưng vì trái đường, nên giữa chừng
cô xin xuống xe. Tôi hỏi cô:
‘‘Gần
đến nhà chưa, cô
Trai ?’’
‘‘Dạ,
còn 5 cây số nữa cơ ạ. Em phải đi bộ
đây.’’
Đời
sống của những người làm việc ở các bệnh viện
và các K điều
dưỡng của cán bộ miền Nam làm tôi
xúc động và chua xót. Tôi
có cảm
tưởng không có một người nào trong họ
là giàu hết. Họ chỉ hơn nhau theo
bậc lương vài ba đồng. Sự cách biệt lớn nhất giữa
họ quyền lực chính
trị, người này là Đảng viên, người kia
là đoàn viên, quần chúng.
Lương
của họ đa số từ 36 đồng đến 50 đồng một tháng; 56 đồng, 64
đồng một
tháng là hiếm, chỉ có những người
đã lớn tuổi đã tham gia kháng chiến
chống Pháp mới có số lương này.
Tôi không thấy ai trong họ ăn mặt sang
hết, hầu hết là kaki màu bộ đội, vải
chéo đen, vải quyến trắng… Những
bữa ăn của họ không phải là đạm bạc mà
là tồi tệ, như nhau hết, vài
miếng đậu phụ ram, mấy đũa rau muống chấm với một thứ nước đen sẫm gọi
là magi; thỉnh thoảng loáng thoáng một
vài miếng mỡ bằng nửa lóng tay.
Họ sống, vẫn sống, vẫn vui vẫn cười, vẫn cố gắng phấn đấu từng
ngày
từng giờ từng phút, trong từng cử chỉ, từng lời ăn tiếng
nói, từng bước
đi, từng cái mỉm cười, liếc mắt… để được
là cảm tình, đối tượng của
đoàn, của Đảng, để vào đoàn,
vào Đảng để trở thành như những người
trước kia đã khuyên răn dạy bảo họ, để rồi họ lại
sẽ khuyên răn dạy bảo
những người chưa được như họ.
K100
trước kia
là trụ sở của Ủy ban hành chính tỉnh
Phú
Thọ nằm
riêng trên một ngọn đồi cao nhất và đẹp
nhất thị
xã. Từ đây có thể nhìn
bao quát cả thị xã. Tôi và
khoảng mười mấy
người ở K65 mới đến, trừ số
nữ, được xếp ở trong cái hội trường rộng thênh
thang ngay
chính giữa
trên gác của tòa nhà một
tầng. Khi
chúng tôi đến, các phòng
trống không
có người ở, chỉ có 32 chiếc giường cá
nhân
kê sát nhau xếp thành 3 lối.
Tôi chọn cái giường sát tường
có lối đi
thông cả cửa trước cửa sau.
Cạnh giường tôi sát cửa sau là giường
anh
Hoàng Huy Bính, người Thọ
Xuân, Thanh Hóa. Một ngày sau,
tôi đến gặp
ông bí thư chi bộ gác tôi ở,
nói: tối nay có chiếu phim ngoài thị
xã,
anh cho tôi đi xem cho vui.
Ông ta nói: anh cứ đi, lên đây
không
phải như ở K65, anh muốn đi đâu
thì đi, như anh em khác.
Phú
Thọ
là một thị xã buồn và yên
tĩnh, một thị
xã có nhiều khoảng
rộng trống không, và đồi và
cây, màu
xanh phủ lên màu đất đỏ của những
con đường dốc. Lúc mới đến, xe đi đường sau dọc
sông Hồng
vào thị xã,
tôi hơi sững như cảm giác lúc mới
vào thị
xã Sơn Tây. Không thấy phố
xá, chỉ loáng thoáng một
vài mái
tranh rải rác hai bên đường. Đường thì
đất đỏ, dốc, nước chảy xói thành rảnh như những
khe diếc.
Ở đây nhà
dân, nhà của hợp tác xã hầu
hết là
tranh tre lá nứa. Nhà ngói
là trụ sở
của Đảng, chính quyền, là cửa hàng mậu
dịch, đồn
công an. Ở lâu ngày
tôi không thấy có chi giàu
sang với
cái thị xã này hết.
Những
ngày ở đây tôi thường lang thang khắp
thị xã, buổi sáng ở
ngoài chợ, cửa hàng mậu dịch, trên
các con đường yên tĩnh; buổi chiều
ngoài sân bay dã chiến bỏ hoang,
trên các đồi bạch đàn phía
sau thị xã,
ngoài sân ga. Tôi ít khi đi
một mình, thường khi nào cũng có
thêm một
hai người thân quen. Lúc này
tôi được tự do đi ra ngoài mà
không xin
phép, nói chuyện được với những người quen
mà không sợ họ tránh né.
Nhiều khi tôi ngồi hàng giờ một mình
trên sân bay, trên những khối bạch
đàn, trên khoảng trống gần sân ga, hay
dưới gốc cây cạnh thư viện thị
xã bên bờ sông Hồng cho đến tối mới về.
Nơi
tôi ở là một rừng long não. Long
não ở đây to cao như cổ thụ.
Mỗi lần đứng trên gác nhìn ra, thoảng
một cơn gió, lá long não rụng như
mưa, lách tách rồi lào rào,
lào rào, vang lên vang lên
rồi tỏa lan ra;
lá rụng đặc một vùng từ trên
cây xuống, cả một khoảng không trước mặt
tôi trùm hết lá. Nhiều khi
tôi có cảm tưởng như lá không
phải rụng
xuống mà từ dưới đất, trên các ngọn
cây bay tung lên, bay lên từng lớp
tung cao khỏi ngọn cây, ngọn lên, ngọn xuống, ngọn
qua ngọn lại, chao
đảo rồi xoáy tròn lăn tăn lan rộng ra. Ở
phía xa dưới những trũng thấp,
nơi những khoảng trống, lá long não bay
loãng ra từng chiếc một, rung
lên, liệng qua liệng lại. Dưới mặt đất lá chạy
cuốn như sóng xao, rồi
tấp vào gốc cây, dồn đống giữa đường, rải đầy
sân những màu vàng úa,
màu nâu sẫm, màu vàng đậm
lẫn với màu xanh ngọc, dòn tan. Một
vùng
không gian mùa lá bay. Tôi
cảm thấy mình nhẹ tênh trong mùi long
não.
Những lúc đó mà đang đi giữa đường, cả
người mình, chung quanh trước
mặt sau lưng, lá trùm kín hết.
Ngày
21.05.1975, ở Huế, tôi có ghi:
Gần 10
giờ đêm.
Khi
không tôi
nhớ lá cây trong mùa hè ở
Phú Thọ.
Lá không rũ
xuống, lá không động đậy, lá bạc chợt
ra. Nắng
sáng trắng khô chốc,
không có gió. Lá
có màu
héo. Buổi trưa tôi cố ngủ một tí. Căn
phòng
to
và rộng, cả giường và chân người, va
ly. Lá,
lá long não. Tôi muốn mệt.
Tôi cứ nhìn lá hoài. Mơ hồ
tôi tưởng
như lá cây động đậy. Lá chết hết
rồi. Gió cho thật nhiều cho lá động đậy. Tới
chiều
thì trời có gió. Lúc
đó nắng đã vàng và
lá trở lại như
thường. Những buổi trưa ở Phú Thọ yên
tĩnh thật. Tàu lên dốc ngược Yên
Bái,
máy móc nặng nề và hồng hộc.
Người trong tàu quần áo lộn xộn, mặt
mày thừ ra.
Tàu chạy không mau
được nên không có gió
ùa vào.
Cho
đến lúc này tôi cũng không
viết được gì, ngoài việc ghi chép
khi đọc sách. Đó là điều khổ
tâm nhất của tôi. Tôi bị giày
vò trong
trạng thái đó.
Cho
đến năm 1974, trong quyển lịch ghi chép tôi chỉ
viết được mấy dòng:
Ngày
12.4.1974
Ở
Phú Thọ
Buổi
trưa trời nắng như rất xa rất xa nắng tới.
Ngày
28.7.1974
Mùa
hè ở Phú Thọ thật là tuyệt vời.
Những
buổi trưa đứng
bóng, nắng rất to, lá cây như trong
suốt trong
ánh sáng trắng của mặt trời.
Buổi
chiều hãy đến
một nơi rất rộng cho có thật nhiều gió để
nhìn
núi ở xa, nơi đó yên tĩnh là
vô
cùng, yên tĩnh là một cõi.
Cuộc
sống của tôi ở K100 dễ thở hơn, tuy thế hàng
ngày tôi vẫn bị
nhòm ngó rất kỹ. Ở K100, người ta cho
tôi dự các cuộc họp, các buổi
mít
tinh. Tôi được đi nội trong thị xã mà
không cần xin phép. Nhưng tôi vẫn
không được yên. Ngoài ông Thụ,
bí thư chi bộ ra, một số Đảng viên ở
trong phòng có nhiệm vụ theo dõi
tôi. Không bao giờ tôi khóa va
li.
Sách vở tôi để cả lên giường. Một
hôm, vào buổi chiều lúc đó
mọi người
đã đi chơi hết, trong phòng chỉ còn
có tôi và anh Sâm. Anh
Sâm, Đảng
viên, người Phong Điền, da đen sậm có lẽ
vì bệnh gan. Anh nói:
‘‘Anh
Đính, tôi nói cho anh biết, mỗi lần anh
đi dự mít tinh hay
họp hành, đều có người đến lục va li của anh
đó. Chỗ anh em tôi nói cho
anh biết để coi chừng.’’
Anh
Sâm chỉ nói chừng đó rồi lảng sang
chuyện khác.
Tôi
cũng vẫn
phải sống trong dè chừng như thế. Riêng ở
phòng
tôi ở
hầu hết là những người ở K65 lên, nhưng dần dần họ
cũng đi
bớt, số
người mới khác lại đến. Phần đông đều xa lạ với
tôi.
Tất nhiên trong
nội bộ Đảng họ cũng đã báo cho nhau biết về
trường hợp
của tôi, nhưng
ít ai để ý, xem chừng gì tôi
cho mệt. Nhưng
tôi phải biết phận mình. Ai
đến chơi, nói chuyện với tôi thì
tôi
nói. Tôi không tự tìm đến
những
người khác để làm quen. Ở sát giường
tôi
là anh Hoàng Huy Bính, trước ở
Sơn Tây tôi đã quen và
nói chuyện với
anh nhiều lần. Anh Bính quê ở
thôn Thành Công, xã
Xuân Phong, huyện
Thọ Xuân, Thanh Hóa. Anh là một
trong số rất ít những người thân với tôi
ở K100. Anh
học trung cấp thủy
lợi, rồi tình nguyện vào chiến trường, sau
đó bị
bệnh, cơ thể suy nhược
và được cho ra Bắc chữa bệnh. Anh Bình người
đã
gầy mà còn thấp nữa,
mắt cận thị nặng. Anh có một cuộc đời rất chua
xót
và cay đắng. Anh là
nạn nhân của nạn tảo hôn. Sau 1954 vợ chồng anh
có
quyền ly dị, nhưng
anh nói: “Tôi bảo nhà
tôi, đó
là số phận của tôi và nhà
tôi,
bây giờ
con cái đã lớn rồi, mình phải hy sinh
cho con
cái”. Có người nói anh
dại. Mỗi lần đi phép, bao giờ anh cũng mua quần
áo cho
các con, cho mẹ,
cho vợ. Có lần anh mua một cái áo vệ
sinh
và bảo: “Cái này để cho vợ
tôi đi làm đồng vào mùa
đông
đây”.
‘‘Anh
biết
không,’’ anh Bính
nói,
‘‘con gái đầu của tôi
đã lớn,
nhưng cho đến nay nó chẳng biết phở là
gì,
quá tội đi. Mà nó có bao
giờ
lên đến huyện đâu. Chuyến này về
phép,
tôi phải đưa chúng nó lên
huyện,
cho chúng biết phở.’’
Tôi
và anh Bính xuống khu học bổ túc văn
hóa của cán bộ B kiếm một
cái bàn học trò hư đem về sửa lại, đặt
song song với giường của anh và
của tôi làm bàn chung. Tôi
nói chuyện với anh Bính không
dè dặt. Cuối
năm 1976, anh Bính đến Huế, tìm ra nhà
tôi. Gặp anh, tôi mừng hết sức.
Anh nói, anh ở Sài Gòn mới ra. Anh
bây giờ thích đi đây đi đó.
Sau
chuyến đi phép về thăm nhà này, anh sẽ
đi Campuchia. Từ đó, tôi không
biết tin tức gì về anh hết.
Anh
Bính cũng như những người có quê hoặc
có cha mẹ, anh em, bà con
ở miền Bắc thường hay đi phép. Thời gian đi phép
của họ có khi 1 tháng,
2 tháng. Thành ra phòng có
32 giường, số người ở cao nhất là 10, 15
người, nhưng trong phòng bao giờ cũng trống, nhiều khi chỉ
có năm bảy
người.
Một
hôm, có một ông ở đâu dưới
Hà Nội lên làm việc với ban
lãnh đạo
K100 đến gặp tôi. Lúc đó tôi
đang đọc báo vào buổi trưa. Ông ta
người
miền Nam tôi không nhớ ở đâu, khoảng
trên 55 tuổi. Ông ta không tự giới
thiệu, ông ta làm như tôi có
bổn phận phải biết ông ta là ai. Ông ta
nói bâng quơ gì đó, rồi
nói:
‘‘Bây
giờ đã có hiệp định Paris rồi, chúng
tôi xem anh như thuộc
lực lượng thứ ba, như anh em sinh ở miền Nam có tham gia
phong trào đấu
tranh. Anh đừng lo gì hết.’’
Sau
đó ông hỏi:
‘‘Lâu
nay có ai ở Cục hoặc ở Ban (Thống nhất) đến gặp anh
không?’’
‘‘Không,
không có ai hết.’’
‘‘Sao
thế nhỉ?’’
Ông
ta chỉ nói như thế, rồi đứng dậy đi ra ngoài
phòng.
Một
lần khác, ông bí thư Đảng ủy đến bảo
tôi:
‘‘Tối
nay 7 giờ anh đến phòng tôi có người ở
dưới Ban Thống nhất
cần gặp anh. Anh đừng lo gì cả. Ông ấy muốn gặp
anh nói chuyện bình
thường thôi.’’
Đúng
giờ tôi sang phòng ông bí thư
Đảng ủy. Ông ta rót nước, rồi ra
ngoài để cái ông cần gặp tôi
đó với tôi nói chuyện. Ông ta
tự giới
thiệu ông là người của Bộ Nội vụ. Ông ta
nói giọng Thừa Thiên:
‘‘Hôm
nay tôi gặp anh để báo cho anh biết là
chúng
tôi không xem anh là
CIA.’’
Tôi
cứ ngồi nghe
ông ta nói và hoàn
toàn không
có thái độ gì cả.
Ông
ta nói:
‘‘Hình
như lâu nay anh không đi đâu cả. Thỉnh
thoảng anh
nên về Hà Nội chơi cho thoải mái đầu
óc.’’
‘‘Tôi
đi đâu các anh cũng cho người theo dõi,
như thế đi
có thú vị gì
đâu?’’
‘‘Không,
về Hà Nội anh đến nhà tôi ở cho tiện.
Nhà
tôi ở số… phố Nam Đồng.’’
‘‘Về
Hà Nội mà đến ở nhà anh thì
bạn bè
tôi chẳng có ai dám gặp tôi
nữa.’’
Ông
ta cười:
‘‘Nhưng
anh nên đi chơi. Tôi có nói
mấy anh ở Cục là nên để cho anh
đi phép về Hà Nội.’’ Rồi
ông ta hỏi tôi về sinh hoạt phí.
Tôi nói:
‘‘Tôi
được xếp 50 đồng.’’
‘‘50
đồng à? Người ta xếp cho anh 50 đồng là xem như
xóa bỏ quá
trình tham gia cách mạng của anh đó.
Được, được,’’ ông ta gật gật đầu,
‘‘tôi sẽ đề nghị xếp lại mức sinh hoạt
phí cho anh. Xếp như thế không
được đâu.’’
Tối
hôm sau,
ông ta đến phòng tôi nói
chuyện với một
vài người quen, rồi lại chỗ giường tôi.
‘‘Lần
nào đến đây, tôi cũng thấy anh ngồi một
mình
hút thuốc, đọc sách.’’
Ông
ta nói một vài câu cho có
lệ, rồi nói:
‘‘Anh
cứ sống và sinh hoạt bình thường như anh em
khác.’’
‘‘Nhưng
các anh lại không coi tôi như một người
bình thường.’’
Ông
ta
làm thinh. Đằng nào đối với họ tôi cũng
là
địch. Không cách
này thì cách khác họ cũng
tìm
cách triệt hạ tôi, không để cho
tôi tồn
tại ở đời này như một người bình thường ngang
bằng họ.
Khoảng
tháng 6 tháng 7.1973, Nguyễn Hữu Ngô,
Hồ Tính Tình lên K100
thăm tôi. Sau này mỗi lần nhắc lại chuyện
này, thằng Ngô cứ cười to ha
ha: “Cái thằng Đính! Lúc
đó, hắn đang đứng nơi lan can thấy tao, thằng
Tình và thằng Một lù lù
dưới thang gác đi lên, mặt hắn sững ra, hắn
khựng đi một lúc, như một thằng mất hồn. Chắc lúc
đó mi không ngờ bọn
tao có thể lên Phú Thọ gặp mi. Hắn hỏi:
“Đi mô rứa bây?”. Tao
nói: “Đi
gặp mi chớ đi mô”. Hồi đó, tao với thằng
Tình đang tìm cách gặp hắn,
bày mưu tính kế cho hắn về Hà Nội,
không thôi cứ bị giam trên cái
K100
ở Phú Thọ có ngày hắn điên
mất, lại gặp lúc thằng Một ở chiến trường ra
nhận xe. Sẵn có xe bọn tao rủ nhau lên
Phú Thọ. Bọn tao đưa giấy giới
thiệu của Đài Giải phóng cho bọn lãnh
đạo K đề nghị gặp Đính. Bọn này
bảo: “Ở đây cũng có một số anh em học
sinh sinh viên ở trong Nam ra,
các anh có thể gặp những người đó.
“Bọn hắn nhất định không cho bọn tao
gặp thằng Đính, lý do là gặp anh
Đính lúc này không tiện, vả
lại không
có ý kiến của Ban Thống Nhất và Cục
đón tiếp, bọn hắn không thể giải
quyết được. Tao nói là chúng
tôi cần gặp anh Đính để hỏi về phong
trào
đấu tranh của học sinh sinh viên Huế để viết bài
cho buổi phát thanh
dành cho Huế. Rứa là tay bí thư Đảng
ủy nói với một tay nào đó ngồi
bên
cạnh: “Thôi, trưa nay… đừng nghỉ trưa
nữa”. Và bọn tao ngồi nói chuyện
với thằng Đính dưới sự giám sát của ba
bốn ông cấp ủy ngồi uống nước
chơi”.
Thấy
mặt thằng Ngô, thằng Tình tôi mừng hết
sức và xúc động vô
cùng. Chúng tôi ngồi nói
chuyện với nhau bình thường tại phòng
tôi ở.
Hai lão bí thư Đảng ủy và
bí thư chi bộ ngồi bên cạnh, cứ uống nước,
hút thuốc ngó ngiêng, ngó
ngửa. Thằng Tình, thằng Ngô cho tôi biết
về
tin tức bạn bè anh em ở trong rừng và ở Huế.
Thằng Một thì cười cười:
’’anh em ở trong vui lắm, còn sống cũng
nhiều mà chết cũng nhiều”.
Thằng Ngô, thằng Tình làm ra vẻ đi
liên hệ công tác hỏi tôi về
phong
trào đấu tranh của học sinh sinh viên Huế hồi
trước. Hai đứa soạn
cassette, máy móc chi đó đặt giữa
bàn cho có lệ. Ông bí thư
Đảng ủy
ngồi cạnh tôi cảm thấy lấn cấn và chướng
nên giả vờ có việc gì đó đi
ra
ngoài. Còn lại ông Thụ, bí
thư chi bộ ở cùng phòng với tôi, nhưng
sau
rồi cũng quay về giường của mình lấy cớ là
có khách. Thằng Tình:
‘‘Mi
phải về Hà Nội một chuyến. Tao thấy cái
không khí ở đây quá
mệt. Tao sợ mi điên mất. Ông Tường ra rồi, hiện
đang ở Hà Nội, mi biết
không?’’
‘‘Tao
có biết gì đâu?’’
Thằng
Ngô:
‘‘Tụi
tao
cứ tưởng là thế nào ông Tường cũng
báo cho
mi biết là ông
đã ra Bắc. Mi xin phép về Hà Nội gặp
anh em
nói chuyện cho vui. Mà rồi…
cũng phải tìm cách thoát khỏi
đây.
Hình như ông Doãn Triều và
bà Trai
đang vận động cho mi về Hà Nội.’’
Thằng
Tình:
‘‘Tao
có nghe nói, nhưng Ban Thống nhất không
đồng ý.’’
Tôi
nói:
‘‘Bây
giờ tao có xin đi phép họ cũng không
cho. Để thủng
thẳng đã. Bọn mi thấy đó.’’
Lúc
đưa tụi hắn về, tôi nói:
‘‘Nếu
tao
không về được, lâu lâu bọn bây
lên
đây với tao một chút.’’
Độ
gần một
tháng sau tôi xin đi phép về
Hà Nội
và được họ đồng ý.
Tôi xin đi 3 ngày nên chỉ ở
Hà Nội có
2 đêm 1 ngày. Thằng Ngô nói:
’’mi
cứ ở đây chơi vài ngày nữa rồi
lên.
Không được, tao phải đi đúng phép.
Đằng nào thì mi cũng bị rồi. Sợ cái
gì?’’ Tôi mượn một
ít sách
báo rồi
lên Phú Thọ. Thằng Tình chở
tôi ra ga mua
vé (hình như hồi đó các
tuyến
đường phía Bắc, vé bán ở bến Kim
Liên
thì phải). Thấy hàng người xếp
hàng mua vé, thằng Tình ớn:
‘‘Khiếp
quá! Làm sao mi mua cho
được?’’
‘‘Mi
đừng lo. Hết vé Phú Thọ, tao mua Đông
Anh, Việt Trì. Đông Anh,
Việt Trì không có thì mua
Yên Bái, Lào Cai. Thôi mi về
đi.’’
Thằng
Tình
vét túi còn mấy đồng đưa
thêm cho tôi:
“Lỡ phải mua vé
Yên Bái, Lào Cai”.
Lúc đó
vé tàu nhanh Hà Nội-Phú Thọ
là 2
đồng 2. Chen
lấn lách qua lách lại một hồi, toát mồ
hôi
hột, tôi mua được vé.
‘‘Còn
vé Đông Anh. Không sao, lên
tàu mua
tiếp, phạt 2 hào.’’
‘‘Mi
cố
gắng tìm cách thỉnh thoảng về Hà Nội
cho
giãn gân giãn cốt ra, nghe
mi.’’
Tôi
quên nói là lúc ở chiến
trường ra Bắc, anh Tường (Hoàng Phủ
Ngọc Tường) có cho tôi một cái radio
bán dẫn hai băng bằng bàn tay. Kể
từ khi bị đấu, không cách gì
tôi có thể nghe đài BBC hay
đài VOA được.
Trước kia nghe những đài này tôi cũng
phải nghe lén. Vì đó là nội
quy,
cấm tất cả mọi người nghe đài địch. Thời gian này
tôi mà mở đài, dù
là
đài tiếng nói Việt Nam hay đài Giải
phóng, tôi cũng sẽ bị theo dõi, để
ý. Những người chung quanh sẽ coi chừng tôi lợi
dụng mở đài ta để nghe
đài địch. Để được yên ổn, tôi cất
luôn cái radio vào vali, cho
nó nằm
yên ở đó. Đến Phú Thọ một thời gian,
thấy không khí chung quanh có bớt
căng thẳng, hơn nữa căn phòng tôi ở quá
rộng, giường nằm cách xa nhau,
lại thường vắng người, tôi bắt đầu nghe đài.
Đài BBC thì không thể nghe
được rồi, vì lúc 18g30 trong phòng
còn đông người. Nếu muốn nghe tôi
phải đến một chỗ vắng ngoài khuôn viên
của K100. Nhưng buổi chiều đi
chơi mà đem theo đài người ta sẽ nghi
tôi nghe đài địch. Vì chính
bản
thân họ muốn nghe BBC hay VOA cũng phải làm như
thế. Tôi chỉ có thể
nghe đài VOA. Tôi nhớ lúc đó
đài VOA có buổi phát thanh đến 22 giờ
mới
hết. Tôi đi nằm và áp sát
đài vào tai mà nghe, những cũng
không được
thường xuyên. Mỗi lần nghe phải tỉnh ngủ và
ngón tay trỏ luôn luôn đặt
trên cái volume.
Từ
tháng 1.1972 đến khoảng tháng 7 tháng
8.1973 tôi mới được đi xa
một mình như thế. Gặp bạn bè tôi vui,
sống và nói năng chẳng cần che
giấu và giữ gìn gì cả. Trở về
Phú Thọ tôi sống làm một người
làm thinh
như trước, sống hiền, không gây gỗ cãi
cọ với ai. Lâu ngày ở Phú Thọ
cũng chẳng ai cần để ý đến tôi cho mệt. Tất
nhiên là có một số người
trong cấp ủy được phân công theo dõi
tôi. Ở K100 này tôi không
còn bị
đối xử một cách khinh bỉ, ghê tởm ra mặt như ở K65
Sơn Tây. Còn những
người đã từng đấu tố tôi ở K65 vẫn nhìn
tôi một cách nặng nề, không ưa,
nhưng do cái không khí chung quanh
nên họ đối xử với tôi không căng
thẳng, trắng trợn như trước. Nhiều người vẫn đến nói chuyện
chơi với
tôi, mời tôi uống nước mà hầu hết
là những người mới đến. Ở nhà ăn bây
giờ tôi được coi như bình thường. Mọi người đều
ngồi ăn với tôi, và tôi
ngồi với họ mà không dè dặt. Trong bữa
ăn hay những lúc ngồi nói
chuyện, những chuyện gì có dính
dáng đến thời sự và chính trị
tôi không
đề cập đến. Mà thật ra ở những nơi này người ta
không bao giờ nói
chuyện chính trị, bởi vì tất cả mọi người đều
cùng một chính kiến, một
lý tưởng như nhau. Họ chỉ có học chính
trị.
Ngoài
Lê Thị Thu, Nguyễn Thị Mộng, Hoàng Huy
Bính và một vài người
nữa là thân mật với tôi, còn
những người khác họ vẫn giao tiếp bình
thường với tôi, nhưng vẫn luôn luôn
có thái độ dè dặt và thận
trọng,
không tỏ ra xem tôi là bạn.
Tôi
không
cố gắng sống cho vừa lòng những người chung quanh.
Tôi
sống thành thật với mình. Tôi
không dối
trá họ, không tỏ ra mình là
một
người biết ăn năn hối cải trước sự khoan hồng và độ lượng
của
Đảng bằng
hành động cử chỉ hay thái độ sợ sệt,
cúi đầu.
Tôi sinh hoạt bình thường
như từ trước đến nay. Ăn, ngủ, đọc sách, đi chơi theo giờ
giấc.
Chỉ
tiếc một điều là tôi không
làm được thơ,
không ghi lại được những suy
nghĩ của mình về mình, về cuộc đời, về cuộc sống
chung
quanh. Ngày nào
tôi cũng đọc sách. Đến K100 vài
ngày,
tôi rủ anh Bính ra thư viện thị
xã Phú Thọ. Lúc đó thư viện
đang kiểm
kê và đóng gói
sách để chuyển về
thư viện tỉnh ở Việt Trì. Chỉ có phòng
đọc
báo và phòng đọc của thiếu
nhi do cô Mai phụ trách mở cửa. Thấy anh
Bính
và tôi ngày nào cũng
siêng năng chăm chỉ đến đọc sách báo
và ghi
chép, cô Mai bảo: “Thư viện
không cho mượn sách về nhà, nếu
các anh cần
có thể mang về đọc, khi nào
trả cũng được”. Lúc này tôi
đang đọc cuốn 3,
tập 3 bộ Tư bản
của Karl Marx. Bà Hồng, phụ trách thư viện, rất
tử tế với chúng tôi. Có
nhiều cuốn chúng tôi cần đọc, nhưng đã
đóng gói, bà cũng lấy ra cho
chúng tôi mượn. Bà dẫn chúng
tôi vào kho sách để chúng
tôi chọn.
Mùa
đông
ở Phú Thọ rất khó chịu, khô
và rét.
Trời cứ mù mù như có
sương và đường đi vẫn có bụi. Buổi
sáng buổi chiều
đứng bên này sông
Hồng không nhìn rõ bên kia
sông được,
cây cối và nhà cửa lờ mờ. Những
đêm mưa nghe tiếng còi tàu thức dậy, cả
phòng tôi ở bao giờ cũng trống
vắng. Anh đèn lù mù ngoài
hành lang.
Tàu lên dốc đi Yên Bái, tiếng
máy
thở hộc, nặng nề mệt mỏi như tiếng thở của con lợn bị cắt tiết cố
vùng
vẫy. Tiếng còi đứt nửa chừng, con tàu khuất sau
dãy núi. Rồi tiếng máy
lại hộc hộc, con tàu ra khỏi dãy núi
đang uốn cong
mình cố trèo lên
dốc, tiếng máy nhỏ dần, cứ khi to khi nhỏ, cho đến khi
còn nghe như một
mũi kim trong trí óc tôi.
Mùa lạnh tôi
hay thức giấc vì cơn dạ dày.
Nhiều đêm ngủ không được tôi nằm đợi nghe
tiếng
máy thở hộc lên dốc,
sắp lòn qua cầu dưới chân dốc, tàu
kéo
còi…
Ngủ
quên
thì thôi, thức thì nhớ mà
đợi. Tàu
vào ga Phú Thọ rồi… tàu
sắp chạy… tàu qua dưới cầu…
tàu leo
dốc… tiếng máy hộc xa, tiếng máy
hộc gần… rồi xa… tiếng còi the
thé…
tàu khuất núi rồi.
Tôi
không đi đâu hết, không về Hà
Nội, loanh quanh luẩn quẩn ở cái
thị xã này, mệt mỏi chán nản,
không buồn không vui, nhiều lúc quanh
quẩn với một vài người hiểu mình, thương
mình, nhiều lúc buổi sáng buổi
trưa buổi chiều, nửa đêm một mình mình.
Có lúc buổi chiều tôi ngồi một
mình ngoài sân bay bỏ hoang cho đến bảy
tám giờ tối. Có lúc tôi lang
thang trong các đồi bạch đàn vào buổi
sáng sớm, rồi ngồi dưới một gốc
cây trên triền dốc ngó qua bên
kia sông Hồng. Có lúc nửa đêm
ngủ không
được, tôi dậy nấu nước pha trà uống một
mình ngoài hành lang. Tôi
cảm
thấy mình không muốn gì cả.
Tôi như cứ chập chờn vừa thức vừa ngủ trong
cuộc đời này. Tôi không khuây
khỏa được.
Tết
này
(Giáp Dần 1974) chắc cũng nên về Hà Nội
lang thang
với bọn
thằng Ngô ít ngày cho vui.
Nói thế
thôi, rồi tôi cũng chẳng nghĩ tới
chuyện đó nữa. Còn một tháng nữa mới
Tết, những
người quê ở Quảng Bình,
Thanh Hóa, Nghệ An, Lào Cai, Hà Bắc,
Lạng Sơn, Cao
Bằng… đều đã đi
phép. Khoảng 15 tháng Chạp, căn phòng
tôi ở
đã trống vắng. Người nào đi
cũng nói với tôi: “Gói đồ đạc
cho anh
đó, anh Đính nghe”. Trước khi về
quê ăn tết, anh Bính bảo tôi:
“Tôi biết
Tết này anh ở đây một mình rồi.
Tôi cố lên sớm với anh cho vui”. Những
ngày
giáp tết, thị xã Phú Thọ
cũng như ngày thường, tôi không thấy
có chi
sửa soạn, dọn dẹp hết. Chỉ
ở cửa hàng mậu dịch, người ta đông đảo chen lấn
mua
tiêu chuẩn hàng
tết, nhưng toàn là cán bộ
công nhân
viên. Sáng 30 tết tôi mua 1 lạng
cà
phê ở một quán nước dưới dốc bên kia cầu
để uống mấy
ngày tết. Tôi chặt
một cành trúc đào thật lớn
và kiếm một
cái thùng thiếc hư đổ cát
vào
cắm lên để sát tường ngay giữa phòng.
Cành
đào này có đến 15 tháng
Giêng âm lịch mới nở bông, và
nở đều rất đẹp.
Trưa 30, trong phòng chỉ
còn một mình tôi. Tôi kiếm
dây cột chặt
các cửa sau, cửa giữa và cửa
hông lại, chỉ chừa một cửa ra vào. Tôi
dồn vali,
chăn màn của những
người đi phép vào một góc. Đến bữa ăn
trưa
nhà ăn chỉ có độ mươi người
ăn. Những người không đi phép cũng đã
đi chơi quanh
quẩn ngoài thị xã.
Buổi chiều tôi cũng không buồn đi đâu.
Trời lạnh lắm.
Căn phòng rộng
thênh thang này bây giờ chỉ
còn tôi với
ông già Tuần, người Quảng Ngãi,
mà ông ta cũng đã vào thăm
bà con ở
trại thương binh gần đó. Khi đi ông
bảo tôi, có thể về, có thể
không, khi
nào về ông kêu cửa.
Tối
đến tôi
tính ra thị xã chơi, nhưng rồi thôi.
Tôi bỏ
cà phê vào
một miếng vải, cột túm lại, chế một cốc thật đậm, rồi pha
vào một ít
rượu chanh ngồi uống một mình. Cà phê
trộn gạo rang
hay một thứ bột gì
đó, cũng đỡ, có còn hơn
không. Tôi
uống từng ngụm, đăng đắng, chát
chát, cay nồng, hơi chua. Gió thổi qua những lỗ
trống của
dãy cửa kính
vỡ phía sau nghe hù hù, có
khi lặng đi một
lúc rồi cành lá bên
ngoài
lao xao, một cơn hú vào phòng rung
cánh cửa
lách cách lục cục. Ngoài
hành lang phía trước đèn
sáng. Ở đó,
giữa ban công của tòa nhà, người
ta bày một bàn thờ, có cờ Đảng, cờ tổ
quốc
và chân dung chủ tịch Hồ Chí
Minh. Tôi ra ngoài đứng ở phía
không
có ánh sáng nhìn ra xa.
Gió cứ
lào
rào trên những hàng long
não. Thấp
thoáng ở xa nữa dưới chân dốc một
vài ánh đèn dầu. Trước mặt
tôi, tối đen, chỉ
có gió và lá cây
rụng.
Không nghe một tiếng pháo. Khác với
những
ngày thường, chung quanh đây,
dưới kia, lúc này bao giờ cũng ồn ào,
tiếng radio,
tiếng cười đùa la
hét của những người đánh bài, tiếng
gọi
nhau… Bây giờ thì im vắng,
loáng thoáng có tiếng radio rất nhỏ.
Tôi
vào phòng đóng cửa lại, ngồi
lên giường nhấp rượu nghe gió hút qua
phòng.
Tôi chẳng thấy ngon lành
gì cả. Một chút cay cay nồng xé ở mũi,
nóng
ở cổ, ấm trong bụng. Tôi cứ
uống từng chút, từng chút, rồi pha một ấm
trà.
Ngoài hành lang thỉnh
thoảng có người đi qua đi lại. Tôi tắt bớt
đèn, rồi
đi nằm. Thôi ngủ
cho rồi. Không biết bao lâu nữa, có
tiếng gõ
cửa và gọi tên tôi. Tôi
dậy mở cửa.
‘‘Anh
ngủ rồi à?’’
‘‘Không,
tôi nằm chơi.’’
‘‘Gần
giao thừa rồi. Anh ra uống trà, nghe chúc
Tết.’’
Đó
là ông bí thư Đảng ủy. Ông ta
không đi phép. Cực chẳng đã
tôi ra
ngoài. Hết chương trình chúc Tết của
Đài tiếng nói Việt Nam tôi
vào nằm
ngủ. Tôi cứ chập chờn mơ mơ màng màng.
Tiếng cửa lạch cạch, tôi mở mắt
nhìn quanh phòng. Tựa hồ như có tiếng
mở dây thép ở cửa ra vào
không
phải. Gió. Tôi nhắm mắt lại.
Sáng
mồng 1 Tết tôi ra thị xã, đi hết các
ngả đường, ra ga, ra chợ.
Không thấy Tết gì hết, không thấy
cái gì mới hết. Cờ treo trước các cơ
quan. Mọi người vẫn như thường. Không thấy trẻ con đi chơi
Tết. Cửa
hàng công nghệ phẩm mở cửa, ít người
tới. Cửa hàng ăn uống ngoài ga
vắng khách. Buổi trưa ở nhà ăn chỉ lèo
tèo ba bốn người. Chiều mồng 1,
sân vận động Phú Thọ tổ chức đá
bóng. Hết chuyện chơi. 9 giờ tối, ông
già Tuần về. Ông cho tôi 1
đùi thịt vịt nướng.
‘‘Đêm
giao thừa tôi định ra, nhưng mấy đứa cháu
không cho. Tết gì
mà ở cái thị xã này chẳng
thấy Tết gì cả. Ai đời mồng 1 Tết mà lại
đá
banh. Tức cười.’’
Ông
Tuần lấy cái bi đông Mỹ rót cho
tôi một chén rượu. Tôi uống một hơi:
‘‘Ngon
thiệt. Tiếc là tôi không sành
uống rượu.’’
‘‘Quốc
lủi
đó. Dân họ cất lấy. Anh làm
thêm một
chén nữa. Mồng 3 tôi mới về Hà Nội. Anh
không
đi đâu cho vui?’’
‘‘Tôi
không có bà con ở ngoài
này.’’
‘‘Kệ,
tới nhà một thằng bạn nào đó cũng
được.’’
Sáng
mồng 2 tết, ông già Tuần lại vào chỗ
mấy đứa cháu. Tôi còn một
mình. Đang loay hoay lục soạn mấy cuốn sách,
thì anh Bính xách ba lô
chạy ào vào.
‘‘A,
anh Bính, sao lên sớm thế?’’
‘‘Tôi
biết anh ở đây một mình buồn. Tôi
đã hứa
là lên sớm với anh cho vui.
‘‘Tôi
nghĩ sớm lắm là mùng 5, mùng 6 anh mới
ra.’’
Anh
Bính ngó chung quanh:
‘‘Chưa
ai về hết à?’’
‘‘Còn
lâu.’’
Tôi
chỉ những chồng bánh chưng để trên bàn:
‘‘Có
phần của anh, phần của những người khác đó. Ăn
chi hết.’’
Anh
Bính lục ba lô lấy mấy thứ của ngon vật lạ ở
quê ra:
‘‘Tôi
đem cả bánh chưng ra nữa
đây.’’
Tôi
chế trà. Anh Bính lau mặt rồi hỏi:
‘‘Tết
ở đây thế nào, có vui
không?’’
‘‘Buồn
và vắng hơn ngày thường.’’
‘‘Ở
trong tôi cũng thế. Trẻ con chẳng có gì
mới cho ra Tết hết cả.’’
Có
hơn nửa năm sau, ngày 18.4.1974 tôi mới về lại
Hà Nội. Lần này
tôi xin đi một tuần, nhưng ở Hà Nội đến 14
ngày. Đến Hà Nội tôi tìm gặp
thằng Ngô và thằng Tình ở 58
Quán Sứ. Thằng Ngô bao giờ cũng cái
giọng:
‘‘Tao
tưởng mi bị đi cải tạo ở K3 rồi. Răng lâu rứa
mi?’’
Tôi
hỏi thằng Thanh (tức Tình) đâu không
thấy, hắn nói đi mô đó.
Bữa ni hắn có bồ rồi nghe mi. Đứa mô rứa?
Con… con nớ đó. Mi gặp rồi
chớ. Có, loáng thoáng…
hình như có đi thanh niên xung phong,
bây giờ
đang viết văn phải không?
Tôi
với thằng Ngô ra ngoài uống nước chè.
‘‘Mi
có quen thằng Thái Ngọc San
không?’’
Thằng
Ngô hỏi tôi.
‘‘Không,
hồi ở trong Nam tao có đọc thơ hắn đăng trên Văn, Văn học hay
đâu đó. Tao chưa gặp hắn bao
giờ.’’
‘‘Hắn
ra
đây rồi. Thằng San vui lắm. Mai đi gặp hắn nói
chuyện cho
vui. Hắn ở K5B. Cả thằng Võ Quê cũng ra
rồi.’’
Sáng
hôm
sau thằng Ngô chở tôi về K5B ở Quảng Bá.
K5B
là nơi dành
cho cán bộ trung cấp ở miền Nam chữa bệnh và an
dưỡng.
Thằng San cao
dềnh, khác với trí tưởng tượng của tôi
hình
dung qua thơ và cái tên
Thái Ngọc San của hắn, một anh chàng nhỏ
thó, vừa
phải. Thằng San lúc
đó mặc quần áo bệnh viện. Hắn, thằng
Ngô và
tôi ngồi trên ghế đá cạnh
bụi trúc bên hồ Quảng Bá nói
chuyện.
Tôi có cảm tình và
thân ngay với
thằng San từ đó. Đến giờ khám bệnh bọn
tôi về
và hẹn dịp khác gặp lại.
Tôi
ở Hà Nội chơi với bọn thằng Ngô, Tình,
đến chơi nhà chị Ngọc
Trai, anh Doãn Triều, đến với mấy đứa nhỏ ở trường Chu văn
An… Gần hết
phép tôi sang K10 ở Gia Lâm, nghe
nói có nhiều anh em ở Huế mới ra ở
bên đó. Tôi gặp thằng Nguyễn Đắc
Xuân ở đây. Hắn đau gan thì phải,
trông hắn xanh và ốm. Hắn mới được kết nạp Đảng
và đang còn thời kỳ dự
bị. Tôi hỏi thăm bạn bè, hắn nói:
‘‘Thằng
Điềm ký giấy sinh hoạt Đảng cho tao
đó.’’
Trước
đó ngày 30.7.1973, thằng Điềm có viết
cho tôi:
“Vừa
rồi anh Tường ra Hà Nội, Đính có gặp
không?... Tháng 4.1973,
đổ về trước mình đi đồng bằng, có về Ưu Điềm.
Ngày Hiệp định có hiệu
lực là ngày mình ở đó,
nhưng lại là ngày choảng nhau. Từ đó
đến nay
mình về rừng làm báo Cứu Lấy
Quê Hương.’’
…
“Mình vẫn ở trong rừng. Chuyện phục hồi của
mình vẫn chưa giải
quyết được. Chỉ vì mình đi ở nhiều cơ quan, đi
công tác luôn. Mình
không buồn rầu lắm vì mọi người chung quanh cũng
hiểu mình”.
Hết
phép,
tôi định lên Phú Thọ, thì
ông
Hoàng Lanh, Phó bí thư
thành ủy Huế ra công tác ghé
lại K10.
Ông Lanh nói tôi ở lại để làm
việc với ông. Tôi bảo tôi phải đi
đúng
phép, không được trễ hạn. Nếu
ông muốn tôi ở lại làm việc với
ông, ông
phải báo cho Ban Thống Nhất và
Cục đón tiếp cán bộ B biết. Ông Lanh
nói:
“Cậu đừng lo, tôi sẽ điện báo
cho các anh biết là cậu phải ở lại Hà
Nội để
làm việc với Thường Vụ
Thành ủy Huế”. Ý ông Lanh
lúc
đó là muốn tôi vào Quảng Trị
làm
công tác
giáo dục. Ông nói: “Cậu cứ
yên
tâm về K100. Có gì tôi sẽ
báo. Hiện
nay
Quảng Trị đang cần những người như cậu”.
Về
Phú Thọ, Lê Thị Thu một lần đi chơi với
tôi có nói: Lần nào anh
về Hà Nội cũng có đứa đi theo. Anh có
biết đứa nào không? Cái thằng
mê
con Đào Quảng Ngãi đó. Anh đừng tin
mà nói chuyện với hắn chi hết đó. A
thằng Tân, phải thằng Tân. Hắn đâu
có phải là Đảng viên. Thu:
không
Đảng viên mới phấn đấu. Phấn đấu thì vô
trong rừng mà phấn đấu. Ưng vô
Đảng mà lại sợ chết. Tôi sực nhớ ra thằng
Tân ở cùng một phòng với ông
bí thư Đảng ủy. Vậy là hắn bị dụ. Hắn
là một thằng khoảng gần 30 tuổi,
ốm yếu cả về cơ thể lẫn tinh thần. Giọng nói hắn cụt
và nghe những
tiếng cuối cùng hay bị mắc trong cổ. Cười, thì
hắn cười rộng miệng. Tôi
nghi là hắn hoàn toàn bị động về việc
theo dõi tôi. Khoảng năm 1978,
1979 tình cờ tôi gặp hắn ở Ty thương binh
xã hội. Hắn đã có vợ người
Hà
Nội. Hắn vẫn ăn mặc tươm tất, đầu chải ướt và vẫn
không vào Đảng được.
Ngày
20.5.1974,
tôi nhận được thư của Nguyễn Đình Nghĩa đề
ngày
14.05.1974 ở Lệ Kỳ, Quảng Bình. Nghĩa báo tin cho
tôi biết người anh
bạn con dì của tôi là Lê Văn
Sắc vẫn
còn sống. Tôi mừng vô cùng.
Lâu
nay bạn bè chúng tôi vẫn nghĩ
là Lê
Văn Sắc đã chết ở Phú Vang lúc
rút
ra khỏi thành phố trong đợt tổng tấn công đầu
xuân
Mậu Thân 1968. Có
người bảo là đã thấy Lê Văn Sắc
ôm khẩu AK
chết gục đầu trên giường
ruộng. Thật ra lúc đó anh bị bắt và bị
giam ở
Phú Quốc. Sau hiệp định
Paris, anh được trao trả và bây giờ đang an dưỡng
ở T72,
Sầm Sơn –
Thanh Hóa. Lê Văn Sắc, Nguyễn Đình
Nghĩa và
tôi cùng thoát ly lên chiến
khu 1 lần, 6-1965. Cuối năm 1966 trên đường đi công
tác, Lê Văn Sắc lọt
vào ổ phục kích của địch ở Châu Chữ
– Nam
Hòa, bị bắt và bị giam ở lao
Thừa Phú. Đầu năm 1968, giải phóng nhà
lao, ra
tù chưa được một tháng,
anh lại bị bắt. Nghĩa cùng bị bắt trong đợt này
lúc trên đường rút lên
xanh. Cả hai đều được trao trả cùng một lúc.
Sau
khi trình bày với ông trưởng
phòng và bí thư chi bộ, tôi
đến
gặp ông bí thư Đảng ủy trình dơn xin đi
phép vào Sầm Sơn thăm người
anh. Ông Bí thư Đảng ủy phê trong đơn:
“Đồng ý. Đề nghị K100 cấp giấy
phép cho anh Đính”. Ông
Hý, trưởng K100, người Bình Định, nhìn
tôi:
‘‘Anh
đi gì mà đến nửa
tháng?’’
‘‘Tôi
phải về Hà Nội hỏi thăm tin tức về anh tôi
và đường đi đến T72.’’
‘‘Thôi
được. Anh đi 10 ngày là đủ
rồi.’’
Sáng
22.5.1974,
tôi về đến Hà Nội. Đây là lần
thứ hai trong
năm
1974 tôi về Hà Nội. Tôi loanh quanh ở
Hà Nội
hỏi thêm tin tức về Lê Văn
Sắc và Nguyễn Đình Nghĩa cho đích
xác.
Ngày 27.5.1974 tôi về Sầm Sơn.
T72 là nơi đón tiếp những người được trao trả từ
Phú Quốc. Sau thời
gian bồi dưỡng sức khỏe, học tập chính trị, những người
này sẽ được
phân loại để sắp xếp công tác.
Nhà cửa ở
đây làm theo kiểu lán trại
dã
chiến, tranh tre lá nứa. Chung quanh không
có
cây cối, nhưng vì sát bờ
biển nên rất thoáng mát. Cuộc gặp gỡ
không
ngờ giữa anh em bạn bè chúng
tôi quá xúc động. Có thằng
mình
không ngờ lại gặp được ở đây. Thằng
Nghĩa, anh em trong xóm gọi là Chó Chữ
(lúc
nhỏ tên Chó, con bác Chữ)
bị Mỹ bắn què chân, bây giờ phải đi
cà niễng,
ôm vật tôi trên sạp tre,
chảy nước mắt. Ông anh bạn con dì tôi,
mới
trên dưới 35 tuổi mà tóc bạc
trắng, má tóp, răng hư, người gầy như que củi.
Những cuộc
tra tấn và
những ngày biệt giam ở Phú Quốc đã
làm cho
con người anh ta như thế.
Thằng Nguyễn Đình Nghĩa có khá hơn,
còn
sức, nhưng cũng đã đừ ra rồi.
Rồi cùng với những anh chị em mới quen biết khác,
chúng tôi quây quần
nói chuyện, chuyện cũ, chuyện mới, lúc buồn
có
người khóc, lúc vui chùi
nước mắt cười to tiếng. Ba bốn cô gái ngồi
đó,
cô nào cũng ốm tóp, xanh
xao, đôi mắt cũng chưa hết vẻ thất thần. Mấy cô
nói:
“Có ở tù như bọn
em đây mới hiểu được nhau. Nói thật, bọn con
gái
chúng em chẳng có đứa
nào còn tốt lành hết. Như em
thì cũng bị
mấy chục thằng. Thân tàn ma
dại hết rồi. Đứa nào bây giờ cũng bịnh. Bọn con
gái
phục vụ ở đây không
dám đi chung nhà tiêu với tụi em. Bọn
hắn sợ
lây. Nói vô duyên chớ, sau
này ai mà thèm lấy bọn em”.
“Thôi tù lấy tù cho
rồi”. “Chưa
chắc”.
Anh
Sắc cho tôi biết là người em ruột của anh
tên là Lê Văn Tư cũng
đã chết. “Ra khỏi nhà lao, tao về
nhà kéo thằng Tư đi theo. Trên đường
rút lên núi, lúc lội qua
sông ở Hà Trữ – Vinh Thái,
thằng Tư bị trực
thăng bắn chết, tìm không ra
xác”.
Tôi
ở Sầm Sơn được năm, sáu ngày. Đáng lẽ
tôi ở thêm vài ngày nữa,
nhưng một đợt học tập, kiểm điểm ở đây sắp bắt đầu. Trong
thời gian học
tập, mọi người phải hạn chế việc tiếp khách và
không được ra khỏi trại.
Anh Sắc bảo tôi: Khoảng 1 tháng nữa, học tập xong,
anh sẽ ra Hà Nội.
Từ
đó, 1 vài tháng tôi lại về
Hà Nội. Chị Trai và anh Doãn Triều
cho tôi biết là Ban Thống Nhất không
đồng ý cho tôi về Trại sáng
tác B
ở Hà Nội. Anh Triều nói: “Chỉ
có cách về Trại sáng tác B
mới cứu được
mầy. Mầy còn ở các K điều dưỡng thì
có ngày khô xương”. Chị Trai
nói:
“Mình sợ cậu sẽ điên mất”.
Khoảng
tháng 6, 7, Thái Ngọc San lên
Phú Thọ gặp tôi. Một buổi
sáng, khoảng 5 giờ, lúc đó trong
phòng mới có 1 vài người dậy,
tôi đang
ngồi uống nước với anh Bính, thằng San lù
lù bước vào. Mi mò cách
răng
mà lên đến đây? Tao lên Hương
Canh, nhưng đến Hương Canh nghĩ lui nghĩ
tới tao ngồi luôn trên tàu, đi thẳng
lên đây. Thằng San ở chơi với tôi
gần một tuần.
Tôi
ở Phú
Thọ thêm một mùa xuân, một
mùa hè, một
mùa thu và một mùa
đông nữa. Trong trí nhớ của tôi, chỉ
còn
những hình ảnh về mùa hè và
mùa đông ở đây là
rõ ràng.
Tôi nhớ lẫn lộn bầu trời, cây cối giữa
mùa
thu và mùa đông. Còn
mùa xuân
thì hầu như tôi không nhớ gì
hết. Tôi
ghi
trong cuốn sổ lịch.
Ngày
14.10.1974
Buổi
sáng mùa đông đầu tiên ở
Phú Thọ, gió dư của cơn bảo số 8
đang rớt ngoài vịnh Bắc Bộ. Lạnh trong con mắt, nơi vết
loét cũ của dạ
dày tôi rồi. Những buổi sáng
mùa đông ở Vỹ Dạ, trời lạnh và
cây cối khô
ráo; những hàng sầu đông rất buồn.
Ngoài
a-trô-pin ra tôi không còn một
thứ thuốc dạ dày nào khác.
Trong
tình cảnh
của tôi lúc này tôi chẳng
viết gì
được. Kinh khủng
nhất là tôi không nghĩ tới chuyện
làm thơ.
Tại sao lúc đó tôi không
nghĩ cách viết lén lút, rồi nhờ bạn
bè cất
giấu. Tôi mệt mỏi. Tôi không
làm thơ, tôi không viết nhật
ký, tôi
chỉ ghi chép lúc đọc sách.
Tôi cứ
sợ nếu sau này tôi có cơ hội viết
thì biết
đâu tôi đã rã rời rồi.
Óc
não tôi đã lỏng ra. Những tư tưởng, suy
nghĩ của
tôi không biến được
thành chữ nghĩa. Tôi bị dồn nén,
tôi quẫn
trí, tôi quanh quẩn với mình.
Dạ dày tôi cứ rỉ máu, những cơn đau
lên ngực,
thốn thấu não. Lửa bốc
trong đầu tôi. Tôi rã rời. Tôi
điên rồi.
Nhiều khi tôi muốn hét lên một
tiếng thật to rồi hộc ra một đống máu. Quá tức,
tôi
là một thằng tù
không bị giam trong ngục và những người chung
quanh
không bao giờ thả
tôi ra.
©
2005 talawas