Trần Vàng Sao
Tôi
bị bắt
(Nhớ lại những năm
tháng tôi bị bắt rồi được thả ra và
sống như tù) 10 kì
III.
Về Hà Nội
Sáng
17.01.1975, ông Thụ, bí thư chi bộ gác
tôi ở
bảo tôi xuống văn
phòng lãnh đạo K để làm việc.
Không biết
có chuyện gì đây? Tôi
nói với
anh Bính: Chắc tôi sắp chuyển đi đâu
đây. Anh
Bính nói: tôi mong mọi
việc đều tốt lành cho anh.
Tôi
xuống
văn phòng. Ông Hý, trưởng K100
và ông
bí thư Đảng ủy khối bệnh nhân đã ngồi
đó.
Ông Hý nói:
‘‘Có
lệnh chuyển anh về Cục.’’
Ông
đưa cho tôi 1 tờ giấy. Đó là
công văn số 104CB/CĐ ngày
15.1.1975 của Cục đón tiếp cán bộ B do
ông Phan Văn Thuận, Cục phó, ký
điều tôi về Cục, không nói để
làm gì.
Ông
Hý nói:
‘‘Anh
chuẩn bị đồ đạc khi nào có xe về Hà
Nội
chúng tôi báo. Về đó anh sẽ
biết lý
do.’’
Tôi
đoán là anh Triều và chị Trai vận động
cho tôi về Hà Nội đây.
Hai
ngày sau, người ta báo cho tôi hiện nay
K không có xe về Hà
Nội, do đó tôi phải đi tự túc, tiền
tàu xe Cục sẽ thanh toán. Tôi biết
ngày hôm trước có một chuyến xe đưa mấy
ông lãnh đạo ở đây về Hà Nội
họp nhưng họ không muốn cho tôi đi cùng
với họ. Nhân cô Thu và cô
Đào
về Hà Nội, tôi nhờ hai người mang vác
đồ đạc giùm. Trước khi đi tôi
tặng anh Bính cuốn Tự do của Roger
Garaudy. Đưa tôi ra ga, anh
Bính nói: “Mong anh đi một nơi
nào khác không phải là một K
điều dưỡng.
Bọn mình sẽ gặp nhau, tôi sẽ vào Nam
lại”.
Ngày
21.1.1975 tôi về đến Hà Nội, vất vả nhất
là bọn tôi phải ôm đồ
đạc từ ga Hàng Cỏ đến chợ Đồng Xuân để
lên tàu điện về trường Chu Văn
An (?) rồi từ đó đi bộ qua 11A Hoàng Hoa
Thám.
11A
Hoàng
Hoa Thám – Cục đón tiếp cán
bộ B, cái
cổng mở toác hoác,
đường qua cổng không có bực cấp mà chỉ
là
một cái dốc chuồi xuống. Tôi
quá ớn và quá chán
cái chỗ
này rồi. Tôi vào gặp ông Phan
Văn Thuận, Cục
phó.
‘‘Anh
mới về à? Mấy bữa ni tôi chờ anh. Thôi
thế là tốt rồi.’’
Ông
Thuận cho tôi biết là Tiểu ban văn nghệ miền Nam
thuộc Hội liên
hiệp văn học nghệ thuật Việt Nam xin tôi về Trại
sáng tác B và các anh
trên đã đồng ý. Ông Thuận
bảo:
‘‘Tôi
sẽ báo cho anh Doãn Triều và chị Ngọc
Trai biết. Anh cứ ở lại
đây. Cứ thong thả. Anh muốn đi đâu cũng được. Giấy
tờ chuyển anh về đã
xong hết. Đây, anh cầm lấy.’’
Tôi
ra chỗ hội trường là nơi tạm nghỉ báo cho Thu
và Đào biết. Đào nói:
‘‘Bọn
em mừng cho anh.’’
Tôi
cười,
chắc là tôi còn nhiều gian nan nữa.
Đào bảo
Thu ở lại giúp tôi sắp xếp lại đồ đạc một
chút,
Đào có việc phải đi.
Trưa
đó cả chị Trai và anh Doãn Triều đến.
‘‘Cảm
ơn anh Triều và chị Trai vô
cùng.’’
Chị
Trai nói:
‘‘Điều
quan trọng là cậu phải về với bọn mình
cái
đã. Sau đó thì thế nào hẵng
hay.’’
Anh
Triều:
‘‘Chỉ
có cách đưa mầy về đây mới cứu được
mầy. Mầy ở đây nghỉ. Sáng
mai tao lấy ô tô đưa mầy về. Mầy sẽ để đồ đạc ở
nhà bà Trai. Mọi việc
sẽ sắp xếp sau.’’
Tôi
nói:
‘‘Ngày
mai tôi sẽ mang đồ đạc đến nhà chị Trai.
Tôi sẽ nhờ
bọn thằng Ngô.’’
Chiều
hôm đó, tôi đến 56 Quán Sứ
gặp thằng Ngô. Sáng hôm sau hằn
với thằng Tình xuống 11A Hoàng Hoa
Thám, chở đồ đạc của tôi về nhà chị
Trai ở 6 Lý Thường Kiệt. Thấy tôi, thằng
Ngô cười:
‘‘Răng
rứa mi? Tụi hắn buông tha giả dớm mi rồi à?
Thoát
được, ở gần với bọn tao là vui rồi. Dù sao
thì
cũng đỡ khổ.’’
Thằng
Tình nói:
‘‘Theo
bà Trai thì mi coi như công
tác A, nhưng vẫn hưởng chế độ B.’’
Thằng
Ngô:
‘‘Tức
là Ban Thống nhất với cái Cục đón tiếp
vẫn quản lý mi.’’
Tôi
cười:
‘‘Tao
đã được thả ra đâu. Đời nào tụi
nó chịu buông tha tao.’’
Buổi
trưa hôm đó, thằng Ngô, thằng
Tình và tôi ăn cơm ở nhà chị
Trai. Tôi nói với chị Trai trong lúc
chờ đợi sắp xếp việc làm, tôi ở
chơi với bọn thằng Tình. Mới đầu anh Triều và chị
Trai định đưa tôi ở
một căn phòng nào đó của một
đoàn văn công, nhưng đoàn
này đi diễn xa
chưa về. Sau đó, chị Trai bảo tôi tạm thời ngủ tại
phòng làm việc của
Tiểu ban văn nghệ miền Nam ở 51 Trần Hưng Đạo. Nhưng ở đó
việc đi lại
hơi vất vả, đi chơi khuya về kêu cửa rất khó,
mà bạn bè đến gặp cũng
quá phiền. Cuối cùng anh Triều và chị
Trai đưa tôi về ở nhờ nhà anh
Châu Đình Du trong khu tập thể bên
ngoài phòng triển lãm Vân
Hồ. Ngày
27.01.1975 tôi về nhà anh Du. Anh Châu
Đình Du, người Huế là một nhà
điêu khắc nổi tiếng ở Hà Nội. Vợ anh là
người Hà Nội. Vợ chồng anh có
hai đứa con gái còn bé và
một đứa con trai đang ăn bột. Nhà anh chật.
Anh cho tôi mượn cái ghế bố kê ở lối ra
vào cạnh cái bàn tiếp khách
nhỏ
làm chỗ ngủ. Anh chị Du đi làm suốt
ngày. Cả hai vợ chồng đối đãi với
tôi rất tốt. Nói là ở trại
sáng tác B, nhưng thật ra tôi cũng
chẳng
biết mặt mũi cái Trại sáng tác
này như thế nào. Tôi biết anh Triều
và
bà Trai tạo điều kiện cho tôi về Hà
Nội, thoát khỏi cái cảnh tù
túng
lâu nay của tôi. Công việc của
tôi được giao là tìm đọc những
bài viết
về văn học và triết học ở miền Nam trên
sách báo miền Bắc và ghi lại
những nhận xét của mình.
Ông
Bảo Định Giang, Ủy viên thường trực Đảng đoàn Văn
nghệ, bảo tôi:
‘‘Chúng
tôi đã tìm cách đưa anh về
đây. Anh
còn ở các K viện miền
Nam là anh còn bị hành hạ, cho đến khi
nào
anh phẳng như tờ giấy… thế
này.’’
Ông
đưa bàn tay xa xa trên mặt bàn.
‘‘Chị
Trai và anh Triều sẽ sắp xếp công việc của anh.
Nếu
có ai hỏi
anh về đây làm gì, anh cứ bảo
là hỏi
chúng tôi. Chúng tôi
là người chịu
trách nhiệm về công việc của
anh.’’
Chị
Trai nói:
‘‘Nếu
họ biết công việc của cậu, họ sẽ phản đối và
gây khó khăn cho cậu.”
Tôi
ăn cơm
ở nhà ăn tập thể của Hội nhà văn, 49 Trần Hưng
Đạo. Mọi
tiêu chuẩn, chế độ ăn uống do Cục đón tiếp
cán bộ B
chịu. Tôi vẫn hưởng
chế độ B, một tháng 21 đồng tiêu vặt.
Hàng
ngày thỉnh thoảng tôi đến
tiểu ban văn nghệ miền Nam nói chuyện, mượn sách.
Không vào thư viện,
gặp lúc bọn thằng Ngô rảnh tôi đi chơi
với
chúng. Lâu lâu tôi về
Hà
Đông gặp thằng Lê Ích Đề (lúc
này
Lê Ích Đề đã ra công
tác A, làm
việc
ở Ty giáo dục Hà Tây). Nơi
tôi hay đến
ngoài bọn thằng Tình, thằng Ngô
là nhà bà Trai và
nhà anh Triều.
Nhà anh Doãn Triều ở phố Bà Triệu gần
nhà anh Châu Đình Du, tối tối
tôi hay sang
uống nước nói chuyện. Tôi
với thằng Ngô cũng hay ghé nhà Nguyễn
Xuân
Thâm ở Bà Triệu. Khi nào có
hào, mấy đứa ra Cổ Tân hay các
quán dọc
đường uống bia hơi. Chen lấn bở
hơi tai mới mua được mấy ly, đã thèm.
Lúc
này thằng Thái Ngọc San đi
tham quan ở Hungary hay đi chữa bệnh ở Quế Lâm thì
phải.
Tôi
về Hà Nội gặp lúc các cơ quan
làm việc thông tầm. Sáng nào
tôi
cũng dậy sớm đi bộ từ khu triển lãm Văn Hồ đến 51 Trần Hưng
Đạo ăn cơm.
Nhiều buổi sáng ăn không nổi, nhưng tôi
không có cà mèn để bới
nên buổi
trưa đành chịu đói. Buổi chiều, có
lúc đi chơi về trễ, nhà ăn đóng cửa,
thấy cơm để trong tủ mà chịu. Vì làm
việc thông tầm, nên mỗi khi đến
thư viện, tôi mua một ổ mì nhỏ bán tự
do, bốn hào, hoặc hai ba cái bánh
rán, mỗi cái 2 hào để ăn trưa. Khi hết
tiền thì nhịn.
Về
Hà Nội
tôi thoát được tình cảnh bị
nhòm ngó
của những người
chung quanh. Ngoài những lúc đi chơi với bạn
bè,
tôi vẫn giữ thói quen
đọc sách. Chỉ có về đêm tôi
phải đi ngủ sớm
để tránh gây phiền hà cho
vợ chồng anh Châu Đình Du. Đó
là điều cực
khổ của tôi. Và, tôi viết,
tôi làm thơ. Tôi muốn đọc lại những
gì
tôi viết, nhưng tôi không còn
một cái gì hết, thơ tôi đã
bị tịch thu.
Tôi chỉ còn lại một bài duy
nhất, bài “Chiến tranh nhân
dân và đồng
chí” chép trên tờ giấy
croquis.
Sau những ngày bị khảo tra ở K65, tình cờ
tôi nhặt
được tờ giấy đã bị
vò nhàu này trong góc
phòng dưới
giường thằng Nguyễn Viết Trác. Lúc
nhìn thấy bài thơ này tôi
xúc động,
như thể lâu nay mình đánh mất
mình
bây giờ tìm thấy mình. Tôi
viết, tay
tôi chưa cứng. Tôi viết, lâu
quá,
lâu quá, máu óc, tinh thần
tôi
không ra chữ được. Tôi phải bình tĩnh.
Tay tôi chưa cứng, nhưng óc não
và miệng
lưỡi lâu nay bị nén lại, tôi
chưa lấy được đà. Tôi ghi ở đầu 1 cuốn sổ tay:
Có
một lúc lâu tôi không nhớ
mình
ra
ngoài đường gặp ai tôi cũng ngó
cứ
vác mặt đứng như người lạ
không
biết đi đâu không biết đi đâu.
Ở
Hà Nội những ngày này tôi
mang cái tâm trạng đó.
Không
có điều chi buồn
không
có điều chi vui
không
mệt mỏi
không
chán
không
no
không
bình thường
không
quá độ
không
biết mình đang đi đang ngồi đang nói đang thở
tôi
không là gì hết.
(26.2.1975)
Tôi
muốn được yên ổn. Những cơn dạ dày thỉnh thoảng
lại hành hạ tôi
toát mồ hôi. Tôi uống Atropine, trước 1
ống, bây giờ phải 2 ống mỗi khi
đau. Loáng thoáng một hai lần tôi thấy
một người tên Sung trên 40 tuổi
thường đội mũ cát dạ màu đen ở 51 Trần Hưng Đạo.
Có lần thấy tôi ở
trong đi ra, hắn đứng phía ngoài đường một
bên cửa hông ra vào ngó chăm
hăm tôi. Tôi nhìn hắn như hắn
là ai. Anh Triều nói: “Thằng Sung hỏi
tao: hiện nay mày làm gì? Hắn
nói với giọng dọa dẫm. Tôi báo cho
các
anh biết, Cục 78 vẫn theo dõi thằng Đính
đó. Tao bảo hắn, việc của các
anh các anh cứ làm’’.
Tôi nói với anh Triều và chị Trai:
“Tôi chẳng sợ
gì cả. Đằng nào thì tôi cũng
bị đối xử như một con vật rồi. Tôi phải
sống để gặp mẹ tôi”.
Từ
những ngày đầu tháng 3, sau khi quân
giải phóng đánh chiếm Buôn
Mê Thuột, ngày nào ở Tiểu ban Văn nghệ
miền Nam cũng đông người. Các
văn nghệ sĩ tấp nập đến đây để xin vào Nam, trong
số này có những người
mới ở chiến trường ra chữa bệnh hoặc an dưỡng. Mặt mày ai
cũng hớn hở.
Người nào cũng nói tiếng to và cười
luôn miệng, chuyện nói là xoay
quanh của cải, vật chất ở các đô thị miền Nam,
vùng hiện bị địch tạm
chiếm.
Những
ngày tháng 3 này chúng
tôi thường gặp nhau ở nhà chị Trai,
nhà anh Triều, ở quán cà phê
hầm Trần Hưng Đạo. Sau ngày 26.3.1975,
ngày Huế được giải phóng, chúng
tôi gặp nhau hầu như hàng ngày.
Lúc này
San, Quê đang tập trung ở K10 chuẩn bị vào Huế,
nhưng thường xuyên có
mặt ở Hà Nội.
Những
ngày này Hà Nội ồn ào. Ở 51
Trần Hưng Đạo, người ta xúm bên
cái radio bán dẫn, chúi đầu, chổng
tai, la hét, nghiến răng, vỗ tay,
hoan hô, chửi đổng. Người ta sướng, người ta nhảy, người ta
cười. Có
được một miền Nam Mỹ ngụy để lại là miền Bắc có
thêm của cải vật chất.
Các văn nghệ sĩ háo hức muốn vào Nam
ngay để viết, vẽ, làm thơ, làm
nhạc. Miền Nam sẽ có nhiều đề tài, miền Nam sẽ
là chất men để sáng tạo.
Lúc
đó tôi ghi: ngày 23.3.1975, BBC
nói:
“Huế gần như trống không, không chợ
búa”.
Huế,
im và câm.
Thành
phố: nhà, tường và ngói, những phết
sơn bất động
đường
cứ dài, mất và đứt ở đầu xa
người
chạy trốn vội vã;
người
ở lại: những con mắt sau khe cửa – những cái
tròng giả
im
lặng, câm chờ
những
cái đầu quay lại
những
con mắt quay lại, không có nước mắt
thù
ghét
căm
giận
tủi hờn
nhục
nhã
hy vọng
chết
tù
ngục
không
khóc
không
cười
không
la hét
Cách
mạng
Chiến
thắng.
Ngày
28.3.1975, trong buổi phát thanh 21 giờ 30, đài
tiếng nói Việt
Nam đưa tin: 3000 người ở Thừa Thiên theo nhau lên
tàu chạy trốn, tàu
chìm, chết hết. Tin loan theo các hãng
thông tấn phương Tây. Cô phát
thanh viên khi đọc tin này, giọng tàn
nhẫn. Cô cố nhấn mạnh con số 3000
nhằm tố cáo tội ác của Mỹ ngụy, nhưng lạnh
quá, tàn nhẫn quá. Nghe tin
này, một nhà thơ nổi tiếng lâu nay buột
miệng: “Đồ ngu”.
Thời
gian
này, cán bộ miền Nam ở các viện điều
dưỡng lục tục
tập
trung về K15, K10 chuẩn bị vào Nam. Khoảng đầu
tháng 4,
Thái Ngọc San,
Võ Quê vào Huế. San gửi thư ra cho
tôi
báo là có về nhà
tôi và
đã gặp
mẹ tôi. San nói là tôi phải
tìm
cách mà vào, trong này
(Huế) không
có
vấn đề gì nghiêm trọng đối với trường hợp của
tôi.
Đúng lúc đó, một số
cán bộ văn nghệ của Thừa Thiên Huế ra Bắc chữa
bệnh
và dưỡng sức hiện ở
trại sáng tác B đang làm thủ tục
vào Nam.
Nhân đó, anh Doãn Triều thảo
một công văn [1]
gửi Ban Thống nhất trung ương và Cục đón tiếp
cán bộ B xin cho tôi đi
cùng với những người này. Tôi cầm
công văn lên Cục đón tiếp cán
bộ B
gặp ông Phan Văn Thuận, Cục phó và
ông Hai [2]
. Hai ông đồng ý. Đầu tháng 4.1975,
tôi cùng một lần với những anh em
quen biết là Nguyễn Quang Hà, Tô Nhuận
Vỹ, Nguyễn Đệ được chuyển về K15
ở thị xã Hà Đông để bồi dưỡng
và chờ ngày vào Huế. Đến K15
vài ngày,
tôi sang Ty Giáo dục Hà Tây
bảo thằng Lê Ích Đề lên Cục xin
vào Nam
ngay. Cục đón tiếp đồng ý và hắn về
K15 ở cùng phòng với tôi.
Những
ngày chờ đợi ở K15 thỉnh thoảng tôi về
Hà Nội kiếm
thêm một
ít sách để vào Huế tặng bạn
bè. Ngày
đi chưa biết, nhưng có thể đi bằng
máy bay. Nếu đi máy bay mỗi người
ngoài ba
lô, túi sách tay, có thể
mang theo thêm 20 kg nữa. Ngoài những thứ cần
dùng
lúc đi đường tôi bỏ
vào ba lô, còn toàn bộ
là
sách. Tôi đựng sách trong một
cái bao lớn
và
lấy một cái ba lô cũ cắt hết quai và
túi
ngoài bỏ sách vào, thắt miệng
lại, nặng, nhưng vẫn là túi xách.
Ngày
6.4.1975, ông Bảo Định Giang, Ủy viên thường trực
Đảng đoàn
văn nghệ gửi công văn cho Cục đón tiếp
cán bộ B và K15 đề nghị “sắp xếp
cho tôi, Tô Nhuận Vỹ, Quang Hà, Nguyễn
Đệ được vào Huế gấp trong đợt
đầu tiên vào ngày 18.4.1975”
để kịp triển khai công tác. Anh Triều
và
chị Trai sợ có những trắc trở bất lợi cho tôi nếu
ở K15 dài ngày. Nhưng
rồi đợt đó chúng tôi không đi
được.
Khoảng
sau ngày 20.4, tôi về Cục đón tiếp nhận
sinh hoạt phí. Tôi gặp ông Hai.
‘‘Anh
cho tôi nhận quyết định sinh hoạt phí để
lãnh tiền.’’
Ông
Hai nhìn tôi ngậm ngự một lát,
kéo hộc bàn rồi đóng lại,
nói:
‘‘Chiều,
chiều hai giờ cậu lại đây.’’
‘‘Người
nào cũng nhận tiền lâu rồi mà
tôi vẫn chưa có.’’
Ông
Hai:
‘‘Ờ,
ờ, thì chiều, chiều…’’
Chiều
tôi đến. Ông Hai nói:
‘‘Quyết
định sinh hoạt phí của mi có lâu rồi,
vẫn là quyết định cũ,
50 đồng. Với mức lương này khi vào Huế sẽ
không có lợi cho mi cả về mặt
chính trị và về việc xếp lương cho mi sau
này. Ông Bảo Định Giang có
gửi công văn đề nghị xếp cho mi 68 đồng trước khi
vào Nam. Nhưng Ban
thống nhất không đồng ý. Mấy lần tao định đưa
quyết định cho mi, nhưng
nghĩ cũng tội mi. Tao nghĩ thôi mi cứ vô Huế đi,
không cần quyết định
nữa, sau răng đó hãy hay. Nhưng không
có quyết định thì mi không
có
tiền đi đường. Thôi, tao cứ đưa cho mi, ít ra mi
cũng có được vài chục.
Ông
Hai đưa cho tôi bản sao Quyết định số 1097/QĐ của Ủy ban
thống
nhất do Phó chủ nhiệm Phan Triêm ký
ngày 31.12.1974 (Bản sao do Cục phó
Võ Công Nghị ký ngày
1.1.1975). Vẫn là Quyết định cũ, xếp tôi 50 đồng
sinh hoạt phí.
Sáng
28.4.1975, đoàn đi Nam được thông báo:
10 giờ sáng 30.4.1975,
đoàn sẽ lên đường tại sân bay Gia
Lâm. Máy bay sẽ hạ cánh tại
sân bay
Phú Bài, Huế. Sau đó, các
đoàn Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình
Định… sẽ đi
đến địa phương của mình bằng ô-tô. Để
tránh bị tắc đường ở cầu Long
Biên, 3 giờ sáng ngày 30.4,
đoàn sẽ xuất phát.
Ngày
29.4.1975, 17 giờ 20, còn 10 phút nữa
là hết giờ làm việc, một
ông bước nhanh vào phòng tôi
ở, qua khỏi cửa dừng lại, ngó quanh. Đó
là
ông trưởng đoàn của đoàn Thừa
Thiên. Thấy tôi, ông ta bước
thêm ít bước
nữa. Ông ta chỉ tay vào mặt tôi:
‘‘Ngày
mai anh ở lại, anh không đi nữa. Có lệnh
đình chỉ
chuyến đi Nam của anh.’’
Tôi
hỏi ngay:
‘‘Vì
sao?’’
‘‘Tôi
không biết, đó là lệnh trên.
Tên anh
đã bị gạch trong danh sách của
đoàn.’’
Hết
giờ làm việc rồi. Tôi có chạy đi
kêu cứu ở Hà Nội cũng không
kịp. Mấy thằng Vỹ, Hà, Đệ nhìn tôi chỉ
“ủa” một tiếng. Tôi lên văn
phòng. Văn phòng K đóng cửa. Văn
phòng Đảng ủy cũng đóng cửa. Tôi xuống
nhà ăn, chỉ có mấy người phục vụ đang dọn dẹp.
Tôi quay lại văn phòng,
cũng không có ai. Tôi hỏi một người
làm việc trong K tình cờ đi qua. Cô
ta bảo: Các ông về nhà hết.
Vô ích, chẳng được gì đâu.
Tôi trở về
phòng. Thằng Phương, phóng viên quay
phim mới tập trung để di chuyển
sau, nói:
‘‘Tôi
biết trước rồi là ông Đính
không được đi. Trưa nay, đến văn
phòng Đảng ủy có việc, tình cờ
tôi nghe mấy ông nói với nhau
rồi.’’
Mấy
thằng Vỹ,
thằng Hà, thằng Đệ, đứa nào cũng: “tại
sao
thế?”, “vì
sao nhỉ”, “sao lại có chuyện
này?”… chẳng có đứa
nào bận tâm
thêm nữa,
đứa nào cũng lo sắp xếp đồ đạc để sáng mai đi
sớm.
Ba
giờ
sáng ngày 30.4.1975, tôi đưa mấy đứa ra
xe. Xe
chạy, có đứa nói với: “Ở lại mạnh khỏe
nghe!”.
Tổ
cha bây.
Khoảng
8 giờ
sáng ngày 30.4, một vài người mang
vác ba
lô, đồ đạc vào phòng. Người chỉ dẫn,
nhân
viên của K15, bảo tôi:
‘‘Anh
mang đồ đạc đi nơi khác, để chỗ này cho người
khác nằm.’’
‘‘Đi
nơi khác là đi chỗ
nào?’’ Tôi sấn lại trước mặt
anh ta.
‘‘Tôi
không biết.’’
Tôi
không nói thêm với hắn nữa.
Tôi lên văn
phòng. Ông Thiệt, trưởng K đang đứng trước cửa ra
vào. Tôi hỏi liền:
‘‘Tại
sao các anh lại không cho tôi
đi?’’
Ông
ta nói:
‘‘Tôi
không biết, đó là lệnh
trên.’’
‘‘Thế
bây giờ tôi ăn ở ở
đâu?’’
‘‘Chúng
tôi xem như anh đã vào Nam. Anh
không
có tên ở K15 nữa. Chúng tôi
không
có trách nhiệm gì về anh
hết.’’
Tôi
tức tối:
‘‘Ông
nói cái gì lạ
thế?’’
Ông
ta khiểng cái chân gỗ quay vào
phòng:
‘‘Anh
lên Ban thống nhất mà hỏi.’’
Tôi
về
phòng thì thấy ba lô đồ đạc của
tôi đã
dồn đống trong góc dưới sàn nhà. Một
thằng cha
nào đó ló mặt vào:
‘‘Anh
Đính lên phòng làm
việc.’’
Hắn
đưa tôi đến văn phòng Đảng ủy. Một ông
mặt to, người béo ngồi
sẵn sàng ở đó. Tôi biết rồi,
ông ta là ủy viên thường vụ Đảng ủy phụ
trách tổ chức. Ông ta nói giọng Quảng
Nam.
‘‘Anh
ngồi xuống đó. Tôi báo cho anh biết
hiện nay anh
không được ở đây nữa. Chúng
tôi coi anh như
đã vào Nam.’’
Tôi
nói to:
‘‘Tôi
không nói với anh. Tôi không
cần phải gặp anh.
Anh không có quyền gọi tôi đến
đây.’’
Ông
đứng dậy:
‘‘Tại
sao tôi lại không có quyền.
Tôi là
trưởng ban tổ chức, anh nên nhớ như
vậy.’’
Tôi
cười:
‘‘Anh
là trưởng ban tổ chức của Đảng, mắc mớ gì đến
tôi.’’
Tôi
bỏ đi ra ngoài. Ông ta nói giọng giận
dữ:
‘‘Tôi
biết anh là ai rồi?’’
Tôi
quay lại, đứng trước bàn, chỉ tay vào mặt
ông ta:
‘‘Tôi
là ai, anh nói nghe nào? anh dọa
tôi hả?’’
Ông
ta hừ hừ. Tôi bỏ đi ra. Về phòng, tôi
mang đồ đạc gửi cho Hoàng
Thị Thọ ở một dãy nhà gần đó. Thọ ở
Huế vừa mới ra, chuẩn bị đi học một
lớp gì đó. Tôi về Hà Nội.
Chị Trai, anh Triều thấy tôi thì chưng hửng.
Anh Triều nói:
‘‘Mấy
thằng cha ở K15 chơi mầy đó. Tụi nó
ghét mầy.’’
Chị
Trai lắc đầu:
‘‘Tụi
thằng Vỹ, thằng Hà, thằng Đệ quá tệ, chẳng
có phản ứng gì cả.
Nếu mầy ở K10 mà bị như thế, thằng San, thằng Quê
cũng bỏ ba lô xuống
không đi, đấu tranh cho kỳ được.’’
2
giờ chiều tôi xuống Cục đón tiếp, nhưng
không gặp ông Thuận. Tôi
ghé qua thằng Ngô. Thằng Tình
và thằng Ngô thấy tôi cũng
ngã ngửa ra.
‘‘Tưởng
bở, cứ tưởng bở!’’
‘‘Nguyễn
Đính đi Nam, đánh dấu than một cái! A
ha!’’
Thằng
Ngô lắc đầu:
‘‘Tụi
hắn chơi quá hiểm mi hí. Kêu trời
không thấu.’’
Chiều,
tôi đến nhà ông Thuận. Ông
Thuận nói:
‘‘Đây
là do mấy cha ở K15 tự tiện không cho mi đi. Tao
có
biết gì đâu. Nếu biết sớm thì
có thể can
thiệp được.’’
‘‘Gần
hết giờ làm việc họ mới báo cho tôi
biết.’’
Ông
Thuận chắc lưỡi:
‘‘Tao
sẽ tìm cách đưa mi về Huế.’’
Ngày
9 hay 10.5.1975 tôi về K15 với giấy giới thiệu của Hội
Liên hiệp văn học nghệ thuật Việt Nam:
Ban
thường vụ Hội liên hiệp văn học nghệ thuật Việt Nam xin giới
thiệu đồng chí Nguyễn Đính là
cán bộ trại sáng tác B đến K15 hỏi
ngày
và phương tiện đi lại. Nếu K15 không giải quyết
được phương tiện xin
cho biết lý do và trả lời bằng công
văn. Yêu cầu các đồng chí
giúp đỡ
đồng chí Đính làm tròn
nhiệm vụ.
Hà
Nội, ngày 8.5.1975
TL
Ban TV Hội LHVHNT VN
Nguyễn
Xuân Bàng
Ông
Thiệt, trưởng K15, nói:
‘‘Tôi
đã nói với anh rồi. Chúng
tôi không
có trách nhiệm gì với anh nữa. Anh
lên Ban
thống nhất mà hỏi.’’
Hai
ngày sau, tôi đi với chị Trai về K15. Chị Trai
vào gặp ông Thiệt. Chị kể:
‘‘Mình
báo cho ông ta biết rằng, chính
ông và
ban lãnh đạo K15 đã
tự tiện không cho cậu đi. Cục đón tiếp
và Ban Thống
nhất không biết gì
về chuyện này. Mình nói,
không cho đi,
các anh cũng không nói lý do
tại
sao. Đã không cho đi, các anh lại
không cho
người ta ăn ở. Thế bây giờ
anh Đính sẽ sống như thế nào? Mình
làm một
trận thật dữ. Nếu các anh
cho thằng Đính là phản động, các anh
cứ bắn chết
nó đi. Các anh đừng
hành hạ người ta như thế”.
Tôi
về Hà Nội để đồ đạc ở nhà chị Trai, sống lang
thang với thằng
Ngô. Thỉnh thoảng tôi đến nhà chị Trai,
anh Triều, tạt qua nhà Nguyễn
Xuân Thâm ăn cơm, ngủ.
Kệ
cha mệ nội, có ra sao thì ra. Tôi cũng
chẳng ngọ ngoạy gì được.
Tôi thường ăn cơm với thằng Ngô, những bữa cơm tồi
tàn, dộng vào cho
đầy bụng, rồi ra khỏi nhà ăn, vác mặt
ngó cây cối Hà Nội lá xanh
màu
ngọc. Những bữa cơm tập thể, những bữa cơm làm tê
liệt sức phản kháng,
chống đối. Thần kinh, sinh lý đều mỏi mệt, lỏng ra hết cả,
tê ra hết
cả. Ăn cho có ăn, nói là đã
ăn. Đến nhà ăn, không nhìn ai,
không hỏi
ai, chìa phiếu lấy phần, cái muỗng trong
túi, cúi mặt ăn, nuốt, nghỉ
một lát, ngó mặt vào khoảng
không, xọc xọc cái muỗng vào
cái tô men,
rau, đậu phụ, su hào, bắp cải, magi, ngậm miệng lại nuốt
những thứ còn
lại trong miệng, rồi cúi đầu, xúc, ăn. Rồi một
bữa, đã ăn rồi. Ra vòi
nước, rửa muỗng bỏ vào túi áo,
túi xách. Về phòng nằm một
chút, đi làm.
Sáng, trưa, chiều lại như thế.
Ăn
cơm với thằng
Ngô cũng kẹt. Hắn có tiêu chuẩn.
Tôi
thì chẳng còn
mấy đồng, lại không có tem gạo. Nhiều bữa
tôi lang
thang ngoài phố,
buổi sáng ăn một bát mì nước hai
hào, no.
Thằng Ngô nói: mi liệu thế
nào, chứ sống thế này thì ăn ở ra sao
đây.
Tôi làm thinh. Thằng Ngô
thường đưa tôi đến nhà bà
Thúy Hà ở
khu tập thể của Công ty quốc doanh
phát hành phim nói chuyện chơi.
Có lần
bà Hà lục túi xách của
thằng Ngô
thấy có một ổ bánh mì, bà
lắc đầu:
‘‘Cái
ông Ngô, ông Đính
này, cứ bánh
mì thế này thì sống sao nổi.
Trưa nay hai ông ở lại đây ăn cơm. Tôi
mới mua gạo
đấy.’’ Bà mở nắp cái
thùng thiếc để trên đầu giường:
‘‘Đấy,
gạo đấy. Các ông thấy chưa? Trưa nay tôi
đãi
hai ông ăn cơm, không độn đâu
nha!’’
Bà
Hà nói chuyện rất vui, giọng bao giờ cũng dữ dằn,
nóng nảy đầy vẻ chống đối.
Bà
nói:
‘‘Mấy
thằng ở bên Tây về bao giờ cũng giở cái
giọng dạy
đời, động
viên lên lớp bọn này. À,
các anh
các chị phải biết hãnh diện mình
là
những người Việt Nam được sống ngay trên đất nước
mình
vào thời đại
này… Đủ thứ chuyện. Nói gì
chúng
nó cũng không chịu nghe, chịu hiểu.
Chỉ khi về nhà bọn mình thấy những bữa ăn như thế
này chúng nó lại tỏ
ra ngơ ngác, chẳng hiểu gì
cả.’’
Bà
quay sang chuyện khác:
‘‘Bây
giờ miền Nam của các ông đã được giải
phóng
rồi. Các ông vào
sẽ thấy, những đám thanh niên nam nữ cứ
ùa ra
đường, nhảy cỡn lên, reo
hò: ‘như có Bác Hồ trong
ngày vui đại
thắng…’ và rồi sau này sẽ
sáng
mắt ra… như bọn này hồi năm
tư.’’
Tôi
nhớ một lần quá tức cười và cũng quá
cực cho tôi với thằng Ngô.
Hôm đó hai đứa tôi đi chơi đến hơn 8 giờ
tối mới về 6K, nơi ở và ăn tập
thể của đài Giải phóng. Thằng Ngô
nói:
‘‘Tao
có báo cơm cho mi rồi.
Nhà
ăn
vắng và tối, ghế đã để lật ngửa lên
bàn. Chỉ
còn một ngọn
đèn không sáng lắm và một
cái
bàn ăn có đậy lồng bàn trong
góc
phòng
gần cửa ra vào nhà bếp. Tôi
và thằng
Ngô ngồi xuống. Thằng Ngô giở lồng
bàn.
‘‘Răng
nhiều và ngon rứa mi?”
Thằng
Ngô hất cái đầu lên ngúc
ngúc:
‘‘Hôm
nay ăn tươi! Mi không biết à?“
Ăn
tươi là ăn sướng và có thịt! Chừng
được nửa bữa ăn, một bà ở sau
bếp chạy lên. Tôi nghe tiếng cái
cán chổi vất cạch xuống nền nhà. Bà ta
nhảy dựng lên:
‘‘Chết
tôi rồi, ông Ngô ơi! Những 4 phần đấy,
ông Ngô ơi! Làm sao
bây giờ đây, ông Ngô
ơi!’’ Thằng Ngô cũng sững ra. Hắn ngừng
nhai,
nhướng mắt lên:
‘‘Tôi
có biết đâu, cứ tưởng 2 phần. Sao bác
không
ghi lên bàn cho tôi biết. Thôi
được, bọn
tôi ăn lỡ rồi, để tôi đền
sau.’’
Bà
ta cứ la lên:
‘‘Đền,
sao mà đền được. Bây giờ đêm
hôm tôi
đào đâu ra 2 suất thức ăn chứ? Mà
hôm nay lại
ăn tươi, mới chết tôi chứ!’’
Hai
đứa tôi cứ ăn, lỡ rồi. Về phòng thằng
Ngô nói:
‘‘Đã
mi hí!”
‘‘Quá
no!”
Đầu
tháng 5, chị Trai cho biết là sẽ có
một đoàn cán bộ của Hội Văn
nghệ Việt Nam đi vào Nam do nhạc sĩ Đỗ Nhuận làm
trưởng đoàn. Ngày
5.5.1975, anh Doãn Triều đã viết thư cho
ông Phan Văn Thuận nhờ ông nói
với ông Hưng, Cục trưởng Cục đón tiếp xin
ông Đặng Thí cấp cho tôi một
giấy giới thiệu để tôi có thể đi phép
với đoàn của Hội Văn nghệ. Tôi đã
gặp ông Thuận hai ba lần. Ông nói:
‘‘Ở
đây người ta xem danh sách của mầy đã
chuyển
vào Huế trong chuyến đi ngày 30.4. Tao sẽ cố gắng
giúp mi.’’
Tôi
đoán ông Thuận có cấn cái
gì
đây trong việc này. Không có
đầy
đủ giấy tờ, tôi khó đi được và
vào Huế sẽ
gặp nhiều rắc rối. Anh Triều
nói:
‘‘Tao
đi khắp, cục trưởng, cục phó gì cũng bảo: giấy tờ
của mầy đã
chuyển về Huế. Tao đề nghị họ cho một công văn xác
nhận điều đó, họ
không làm.“
Ngày
19.5.1975, Đảng đoàn văn nghệ có gửi cho
ông Phan
Triêm, Phó chủ nhiệm Ủy ban thống nhất, một
công văn
như sau:
Kính
gửi:
Đồng
chí Phan Triêm
Ủy
ban thống nhất của Chính phủ
Sau
khi nghiên cứu thẩm tra trường hợp đồng chí Nguyễn
Đính, chúng
tôi xét thấy không có vấn đề
gì quan trọng, đây chỉ là vấn đề cũ ở K
như các đồng chí biết mà
thôi.
Chúng
tôi xét thấy có thể đưa đồng
chí Đính trở về công tác ở
Huế
tùy theo sự phân công của địa phương.
Vậy trân trọng đề nghị các đồng
chí giải quyết thủ tục cho đồng chí Nguyễn
Đính có thể kịp đi theo
đường giao liên của đoàn cán bộ Hội Văn
nghệ chuyến chiều ngày 21.5.75.
T.M
Đảng đoàn Văn Nghệ
U.V
Thường trực
Bảo
Định Giang
Tôi
lại đi gặp ông Thuận. Ông Thuận nói:
‘‘Chịu.
Tao cũng hết sức với mi đó. Mi cứ đi theo đoàn
Văn nghệ.
Miễn là mi đến Huế. Đính ơi, tao mong mi qua khỏi
cầu Mỹ Chánh, qua
khỏi cầu Mỹ Chánh là cứt hết, ỉa hết.
Thôi mi đi mạnh giỏi.”
Chỉ
có cách đi duồng với đoàn của Hội Văn
nghệ, tôi mới vào Huế
được. Chị Trai và anh Triều muốn làm cho
tôi yên tâm. Mi cứ đi không
can chi đâu.
Tối
20.5.1975, tôi ở lại nhà chị Trai. Thằng
Tình, thằng Ngô thấy tôi cả hai đứa đều
cười to:
‘‘Được
đi thiệt hả mi?’’
Hai
đứa nói chuyện với tôi tới khuya mới về.
‘‘Thôi
mai đi mạnh giỏi.’’
Thằng
Tình cho tôi 10 đồng, thằng Ngô cho 10
đồng. Thằng Xuân tới
sau cùng cho 10 đồng. Sáng mai, chị Trai
dúi vào tay tôi một xấp, có
tới ba bốn chục. Lúc này tôi chẳng
có đồng nào hết.
Sáng
sớm 21.5, tôi ra 51 Trần Hưng Đạo. Khoảng 7 giờ một chiếc
ô tô
con đến, có 4, 5 người đã ngồi ở trong. Trong số
này tôi có quen một
vài người. Trưởng đoàn là
ông Đỗ Nhuận không biết lý do
gì không đi.
Ông Chế Lan Viên đến tiễn anh em, thấy
tôi, cười:
‘‘Bà
Trai, ông Triều tài thật. Thế là anh
Đính đi được rồi.’’
Thằng
Ngô và thằng Tình lay hai vai
tôi, cầu mong tôi đi trót lọt.
Anh
Triều và chị Trai lên xe đưa đoàn đi.
Khi chúng tôi đến Giáp
Bát, một đoàn tàu quân sự
đã đậu sẵn ở đó. Tàu sắp chạy, chị
Trai bảo:
‘‘Mình
mong rằng trên đường đi mình không nhận
được một
cái điện nào ách cậu
lại.’’
Anh
Triều trước khi xuống tàu bảo:
‘‘Tao
gửi lời thăm mạ.’’
Rồi
anh bỏ vào tay tôi một gói giấy nhỏ,
tôi biết anh cho tôi tiền.
‘‘Đến
Huế là viết thư báo cho tụi mình biết
ngay nghe.’’
Tàu
chạy.
Mỗi lúc tôi mỗi xa dần Giáp
Bát. Tôi
xúc động. Người tôi
như rung lên. Tôi bàng hoàng
ngơ ngác.
Tôi vui và tôi sợ, tôi lo.
Không
ai ở trong toa tàu cùng đi với tôi biết
tâm
trạng của tôi lúc này. Họ
đang náo nức về một chuyến đi xa hoàn
toàn kỳ lạ
chưa từng có trong
cuộc đời họ. Cả thảy là 17 người, họ là
nhà thơ,
nhà văn, họa sĩ, nhà
nhiếp ảnh, cán bộ giáo dục, văn
hóa…
Không có ai là người Huế, có
một
người quê ở miền Nam, nhưng sau năm 54 tập kết ra Bắc.
Tôi
có quen 1, 2
người, trong đó có anh Ngô Văn
Phú một người
làm thơ tiếng tăm ở Hà
Nội. Suốt dọc đường đi tôi hay nói chuyện với
Ngô
Văn Phú. Quân số
trong giấy tờ là 32, nhưng có lẽ những người kia
vì biết chuyến đi này
vất vả qua nhiều trạm bằng nhiều phương tiện khác nhau
nên
không đi.
Tàu
chạy, tôi cứ không yên trong bụng.
Tàu dừng ở một ga nào đó tôi
nhấp nhỏm. Tôi chỉ có một giấy giới thiệu do
ông Bảo Định Giang ký. Cứ
mỗi lần tàu dừng, cứ mỗi lần có người đi qua
tôi cứ phập phồng. Tôi sợ
bị lôi cổ xuống. Nhưng suốt ngày hôm
đó chỉ có một lần người kiểm soát
vé xem giấy của đoàn. Đến Vinh, chúng
tôi vào trạm nghỉ đợi xe. Chúng
tôi được phân tán ở trong nhà
dân. Người phụ trách trạm thông
báo cho
đoàn biết: tất cả đồ đạc, quân trang phải
quân sự hóa để khi có xe là
đi ngay; phải đề cao cảnh giác, coi chừng bọn trộm cắp, nhất
là khi lên
đường vào lúc tảng sáng; phải đề
phòng kẻ gian có thể giả gây ra những
đám cháy hoặc những vụ ẩu đả để thừa cơ dễ bề
trộm cắp đấy.
Ngày
đi
càng kéo dài, càng qua
nhiều trạm
càng chờ đợi, tôi càng
lo. Đang nằm đu đưa trên võng, một người ở trạm
bước
vào thông báo một
điều gì đó, tôi giật mình.
Đang ăn cơm,
ông trạm trưởng đi ngang qua
nhìn vào, tôi ngừng nhai, bỏ
chén xuống.
Biết đâu mình bị chận lại giữa
đường. Ở một binh trạm cuối cùng, đoàn phải chờ
hơn 2
ngày mới có xe.
Lần này, vì không có xe lẻ,
chúng
tôi phải đi ghép theo một đoàn xe bộ
đội chuyển quân. Xe chúng tôi đi
không
có mui trần và đi gần sau cùng.
Chúng tôi ngồi bệt giữa sàn. Sắp qua
cầu Bến Hải,
cả đoàn xe dừng lại.
Không biết có chuyện gì đây?
Đây vẫn
là miền Bắc, mình vẫn có thể bị
bắt và buộc phải quay về Hà Nội. Một
vài người
đứng dậy nhìn ra trước.
Tôi vẫn ngồi yên, lấy thuốc hút. Tin
được chuyển từ
xe chỉ huy dẫn đầu:
qua miền Nam, đường tốt, không được chạy nhanh, phải giữ
đúng cự ly. Xe
qua cầu Bến Hải. Gió mát. Tôi đứng dậy
nhìn
chung quanh. Bên kia là
miền Nam. Xe qua cầu, xuống dốc. Chạy một đoạn xe dừng lại.
Hàng
quán
hai bên đã khác, màu sắc
đã có
xanh đỏ tím vàng, lủng lẳng cái treo,
cái xếp chồng, trong tủ, trên sạp…
Và lần
đầu tiên tôi thấy những cô
gái đội mũ mặc đồ bộ. Vài người trên xe
nhảy xuống.
Tôi bước vào một
cái quán. Hàng hóa lạ mắt.
Tôi hỏi
mua một bao Bastos xanh. Biết tôi là
ở miền Bắc vào bà bán hàng
nói
giá tiền Bắc, hình như 5 hào
thì phải.
Xe chạy. một người trên xe chỉ xuống đường.
‘‘Kìa,
xe hoong đa!’’
Và
cũng là lần đầu tiên tôi thấy một chiếc
xe Honda.
Sắp
qua hết Quảng Trị rồi. Đoạn đường này trong trí
nhớ của tôi chỉ
mơ hồ; thị xã Đông Hà loáng
thoáng còn lại cờ và khẩu hiệu. Ở một
đoạn
trống hai bên nhà cửa thưa thớt mới dựng vội
vã bằng gỗ, tôn, gót cũ
chắp vá, một đoàn người mặc quần áo
lính ngụy lếch thếch, người có mũ,
người vấn khăn trên đầu, người đi giày, người đi
dép, người nào cũng có
một cái bọc nhỏ mang, xách trên lưng
trên tay, rải rác bên cạnh là
những anh bộ đội mang súng đi kèm. Tù
binh. Đoàn người đi ngược chiều
với xe chúng tôi, phía bên
phải sát lề đường. Họ lầm lũi như những cái
bóng màu đất đen, trước mặt là một
vùng đất trống, cát và cây
dại,
không xa lắm là núi. Tôi cứ
cố nhìn những cột cây số. Trời, cầu Mỹ
Chánh, cầu Mỹ Chánh! Xe qua cầu rồi, xe qua cầu
rồi! Tôi thoát thiệt
rồi à? Tôi vui, tôi sướng, tôi
hết phập phồng. Có bị lôi cổ xuống đây
thì cũng cứt hết, chẳng có chi mà sợ
nữa. Đã tới An Lỗ, bên kia là Sịa,
nhất Huế nhì Sịa. Tôi mở bi đông ực một
ngụm nước. Xe xóc, nước tràn cả
mặt mũi, chảy xuống cổ. Tôi mát. Trường trung học
Hương Điền rồi. Tôi
thấy núi Kim Phụng, độn Ngang và dốc Kết Nghĩa
mà dưới chân dốc này
tháng 6.1966 tôi đã bị thương.
Và cầu An Hòa, bên kia là
đường xe lửa
và ga An Hòa. Một tấm bảng to bằng xi măng đựng
bên đường: ĐỊA PHẬN
THÀNH PHỐ HUẾ, chữ trắng trên nền lục đậm.
‘‘Đến
Huế chưa?’’
Tôi
nói.
‘‘Coi
như đây là Huế rồi.’’
Nắng,
trời nắng như nắng to của những ngày tháng 11.
Mây đục nên
không chói. Tôi cứ tưởng là
xe sẽ qua đường Trịnh Minh Thế rồi qua cầu
Trường Tiền. Xe đi thẳng, qua cầu Giả Viên. Nước chảy dưới
cầu, cứ xuôi
nữa là Vỹ Dạ. Ông trưởng đoàn
nói với lái xe đổ chúng tôi
ở Ga Huế.
“Biết rồi, tôi đã đi lại nhiều lần
trên tuyến đường này”. Xe dừng lại.
Chúng tôi vội vã xuống xe. Cảm ơn đồng
chí lái xe. Có 2, 3 người đi
thẳng về trạm Phú Bài để đi Quảng Nam.
Tôi, ông Ngô Văn Phú
và một
người nữa đi bộ về 26 Lê Lợi để xin xe lên
đón đoàn. Tôi đã ngửi được
cái mùi của Huế. Quen mà lạ. Trong
lòng tôi cứ lao xao như lá long
não
lao xao hai bên đường tôi đi với những tiếng
nói quen thuộc chung
quanh. Và con sông trước mặt, con sông
mà cách đây 10 năm mỗi buổi
chiều từ Hải Cát trở về cơ quan C90, tôi với
Nguyễn Thiết ngồi trên
đỉnh Ba Dốc, bên chân núi Kim Phụng chỉ
thấy thấp thoáng qua những rặng
cây. Trường Pellerin, Cư xá giáo sư đại
học, Phủ Thủ hiến, ngã 3 qua
cầu Nam Giao lên Từ Đàm, rẽ vào
chùa Vạn Phước là nhà của ngoại
tôi.
Trường Luật, trường Quốc học, trường Đồng Khánh, Thừa Phủ,
tỉnh đường.
Bệnh viện Huế là lạ và mới đối với tôi.
Đến đây, đường Lê Lợi sáng ra
và bị cắt bằng một khoảng rộng.
‘‘Cầu
gì đây?’’
Tôi
nói:
‘‘Chắc
là Cầu Mới.’’
Lúc
tôi đi chưa có cầu này. Hết Cercle,
Trung tâm Văn hóa Pháp, Thư
viện Đại học, một đoạn qua khỏi trường Thành Nhân
nữa là đến 26 Lê Lợi,
trụ sở của Ban Vận động thành lập Hội Văn nghệ Thừa
Thiên – Huế. Người
quen có, người lạ có, gặp ai tôi cũng
mừng, cũng cười, cũng vui. 26 Lê
Lợi cho một chiếc ô tô lên ga chở
đoàn về. Tôi nhờ Võ Quê điện
báo cho
Thái Ngọc San. Quê bảo San đi vắng và
có nhắn lại. Tôi mượn Quê chiếc
xe đạp đi về nhà liền. Tôi chỉ mang theo
cái ba lô, còn mấy bao sách
gửi cho Quê. Lúc này khoảng 3 giờ chiều
ngày 25.5.1975.
Con
đường Thuận
An cao hơn và rộng ra. Hai bên đường
không có
gì thay đổi lắm. Tôi ghé vào
quán chị
Thuận. Chị Thuận la lên:
‘‘A,
thằng Đính đây
nì!’’
Những
năm
tôi thi thành chung và tú
tài,
lúc đi coi bảng về ngang
qua quán chị, chị hỏi: ‘‘Răng,
Đính?’’ Tôi ngúc
đầu. Chị vội vã
chạy ra
chợ báo cho mẹ tôi biết: “Thằng
Đính đậu
rồi”.
Tôi
vào xóm. Đoạn đường này trước kia
đâu
có rải nhựa. Tôi rẽ trái,
đường đất như cũ. Hình như chiều hôm qua ở
đây
có mưa. Nhà cửa vẫn như
cũ, có một vài nhà xây lại.
Đến nhà
tôi rồi. Vẫn hàng chè tàu;
hai cột
trụ vàng mốc rêu. Mấy hòn đá
kê
làm bậc cấp vẫn còn, trong đó
có một
hòn như con số một lùn cụt nằm giữa. Bốn năm đứa
nhỏ đang
chơi dưới gốc
cây vú sữa. Những đứa nhỏ ngưng chơi vây
quanh
tôi. Ngôi nhà bây giờ so
với ngôi nhà trong trí nhớ của
tôi còn
lại nhỏ đi rất nhiều. Cây vú sữa
che kín gần hết sân. Và mặt trước
ngôi
nhà, màu vôi hơn 40 năm không
quét trông lại âm u hơn. Tôi
bỏ cái ba
lô xuống đất, đu người lên song
cửa sổ nhìn vào trong. Nền nhà như mới
chùi, có chỗ còn ướt. Sau
này
tôi mới biết là ngói trụt nên
nhà bị
dột. Tôi bước lên hiên nhà.
Tôi
hỏi mấy đứa nhỏ cứ luẩn quẩn bên tôi:
‘‘Này
mấy em, con Bi đâu rồi?’’
Con
Bi là con o Lài của tôi. Một đứa chỉ
một đứa con gái khoảng 12 tuổi đứng cạnh tôi:
‘‘Đây,
con Bi đây!’’
‘‘Anh
Đính đây Bi nờ! Bi có chìa
khóa không?’’
Con
Bi đưa cho
tôi chìa khóa. Nó
không nói
gì hết, cứ ngó tôi. Tôi
mở cửa. Tôi vẫn nhớ cách mở cửa. Cái
cửa này
mở ở ngoài rất khó. Vào
nhà tôi mở hết các cửa sổ. Mọi vật vẫn
như
này tôi còn ở nhà, vẫn để
nguyên chỗ cũ. Chỉ có trước bàn thờ che
một tấm
màn bằng vải bông màu
xanh nhạt lẫn màu lục đã ố vàng, cũ
hết rồi. Bức
kính thờ thì đã mờ
bụi. Tôi ngồi lên bức ngựa gõ. Những đứa
trẻ vẫn cứ
nhìn tôi. Tôi nhìn
quanh trong nhà. Tôi xuống nhà bếp.
Tôi đi
lên nhà; có một mùi ẩm mốc
dễ chịu.
‘‘A,
mệ Đính nơi tề!’’
Một
đứa nhỏ bước xuống một bậc cấp trước hiên la to.
Tôi bước ra
cửa. Chị Thuận cầm tay dắt mẹ tôi lên thềm. Mẹ
tôi vừa bước vừa khóc:
‘‘Thằng
Đính mô rồi, mô
rồi.’’
Tôi
cầm hai tay mẹ tôi, dìu mẹ tôi ngồi
lên ngựa. Mẹ tôi cứ khóc:
‘‘Mạ
tưởng con không về nữa.’’
Chị
Thuận cũng rơm rớm nước mắt. Mẹ tôi lấy trong túi
áo ra 2 gói Bastos luxe:
‘‘Chị
Thuận cho đó. Con hút đi.’’
Tôi
bóc thuốc hút. Mẹ tôi ốm và
đen, tóc bạc gần hết rồi. Bây giờ
mẹ tôi ngồi đó, hai bàn tay cứ mở ra
nắm lại, khi để trên chân, khi để
trên ngực, lâu lâu lại đưa tay
áo lên lau nước mắt. Sông
mang phù sa đỏ, chảy ra biển muôn năm, người mang
hồn
sông đỏ, lòng như biển vô cùng.
‘‘Mạ
đang bán trên Đập Đá, chị Thuận chạy
lên
nói con về rồi. Chị gánh về giùm cho
mạ.’’
Chị
Thuận cười:
‘‘Chị
lên nói với mạ: Chị Đính ơi, thằng
Đính về
rồi. Mạ cuống lên. Mạ bán gần hết
rồi.’’
Tôi
hỏi mẹ tôi:
‘‘Rứa
bữa ni mẹ bán cháo chi rứa.’’
Chị
Thuận nói giùm:
‘‘Thôi
thì đủ thứ. Khi thì cháo
gà, khi thì
cháo lòng. Bánh bột lọc
nữa. Bữa ni rứa là mau hết đó, chớ thường khi
mô
cũng 10, 11 giờ đêm.
Có khi tới gần sáng.’’
Những
người
hàng xóm đến thăm mỗi lúc một nhiều.
Chị Rạm,
nhà ở trước mặt nhà tôi,
nói:
‘‘Mạ
cứ nói em e chết rồi. Thôi rứa là mạ
vui. Vui rồi.’’
Quay
sang mẹ tôi, chị cười:
‘‘Chị
sướng chưa, bữa ni hết khóc rồi. Chà
Đính ơi, đêm mô cũng
khóc, cũng hò, cũng
hát.’’ Nói ngang
đây, chị Rạm chảy nước mắt. Chị
hỏi tôi:
‘‘Đi
rứa có cực không em?’’
‘‘Dạ,
cực chứ.’’
Thằng
Thái Ngọc San về. Đi theo hắn là một cô
bé
người nho nhỏ. Thằng San ngúc ngắt cái đầu, cười:
‘‘Mạ
thấy chưa, con nói hắn còn mà mạ
không tin.’’
Mẹ
tôi nói: