Trần Vàng Sao
Tôi
bị bắt
(Nhớ lại những năm
tháng tôi bị bắt rồi được thả ra và
sống như tù) 10 kì
IV. Ở
Huế
Sáng
hôm sau, ngày 26.05.1975, tôi với thằng
San ra uống cà phê
trước mặt Bưu điện Huế. Tại đây, và về sau
này, tôi thường gặp một vài
người vốn quen biết trước kia, có người là cơ sở
của cách mạng, có
người mới tham gia. Ở những quán cà phê
vỉa hè trong những ngày mới đầu
này, hiếm lắm mới thấy những người đã
thoát ly lên rừng lâu năm. Nhiều
đứa quen biết cũ thấy tôi quá mừng:
‘‘Giải
phóng rồi mà không thấy mi, đứa
nào cũng
nghĩ là mi chết rồi. Răng chừ mới về
Đính.’’
Tôi
cười
không nói gì hết. Sau này,
có đứa
loáng thoáng nghe kể về
sự tích của tôi, hoảng và
tìm cách
tránh tôi. Liên hệ với tôi
thì
không
có lợi gì cho sinh mạng chính trị
và con
đường sống trong chế độ mới
này của họ. Tôi nói với thằng San
là
tôi về nhà 1, 2 ngày rồi mới gặp
tổ chức.
Bây
giờ tôi đi thủng thẳng về nhà. Kể từ nay
tôi có thể nói tôi về
nhà được rồi. Tôi không cảm thấy
mình xa lạ. Hình như tất cả đều còn
lại trong trí nhớ của mình. Tôi chỉ
có cái cảm giác, sau 10 năm đi xa,
con đường Thuận An rộng ra và cao hẳn lên,
còn căn nhà của tôi thì nhỏ
lại.
Trở
về Vỹ Dạ
là trở về với tuổi thơ của mình, gặp lại tuổi thơ
của
mình, sống với tuổi thơ của mình, sống với
mình.
Tôi ở nhà tôi như lâu
nay tôi không đi đâu hết. Tất cả đều
thân mật
và gần gũi. Những lỗ đạn
bắn trên tường, trên song cửa sắt hồi 52-53, những
hình tôi vẽ lúc nhỏ
bằng bút chì và mũi dao trên
tường có
hơi mờ đi. Con trâu gỗ gãy đầu
vẫn nằm dưới góc bàn thờ. Những vết
bùn của trận
lụt năm 1953 còn mắc
trong các kẹt tủ. Rồi tôi quanh quẩn
ngoài vườn
trong nhà. Cây vú sữa
cao và rậm quá, tháng năm vẫn
còn
trái chín. Cây hải đường vẫn như thế.
Tôi mở tủ sách ra, tất cả như còn
nguyên.
Chẳng có chi thay đổi, chỉ có
âm u và tàn tạ hơn. Mẹ tôi
bảo sau khi
tôi đi có người đến đòi sách
tôi
mượn, mẹ tôi nói, để chờ thằng Đính về
đã.
Những chồng phích ghi chép
của tôi được xếp gọn gàng trong một
góc. Những
gì của tôi, có dấu vết
của tôi có thể gợi cho mẹ tôi nhớ tới
tôi đều
được cất giữ, không ai
động đến được. Những năm sau này, khi tôi
đã
có vợ con, tủ sách báo cứ
vơi dần, khi năm ba quyển, khi một chồng đem qua chợ Đông Ba
hay
ra chợ
Vỹ Dạ đổi lấy gạo. Thời buổi này gạo quý hơn
sách.
Cuộc
cách
mạng này kinh khủng thật. Không phải nó
chỉ thay
đổi tâm
tính, thái độ, tư tưởng của từng con người
mà thay
đổi vị trí của từng
đồ vật trong từng nhà, cái ghế, cái
bàn,
cái tủ, cái giường, tôn lợp
trên mái nhà, lư hương trên
bàn
thờ… đều thay đổi chỗ, xếp đặt lại tất
cả. Hôm qua cái bàn còn để
đó,
hôm nay không còn nữa, cái
bàn
đã đi qua
nhà khác, đã ở ngoài chợ.
Cuộc cách
mạng này đã phá hết, phá
tan hết
những gì mà từng gia đình
đã bòn
mót bao nhiêu năm nay từ ông cha đến
con cháu để nuôi sống mình, để tồn tại
với đời.
Và những người làm cách
mạng đã thay thế những gì mà họ
đã
phá sạch bằng công an, bằng quyền
lực trấn áp, bằng mệnh lệnh, khẩu hiệu, băng cờ.
Tôi
nghe
nói, khoảng năm 1972-1973, trong chiến dịch Phượng
Hoàng,
bọn cầm quyền ở Huế đã đưa lên đài
truyền
hình và dán ảnh tôi
và thằng
Nguyễn Đình Nghĩa khắp thành phố, kêu
gọi
chúng tôi chiêu hồi và hứa sẽ
thưởng tiền cho người nào bắt được chúng
tôi hoặc
chỉ điểm chúng tôi.
Bọn chúng không biết tôi lúc
đó đang
hoạn nạn ở Sơn Tây. Chúng tưởng
tôi và thằng Nghĩa đã lọt về
thành phố
và đang hoạt động nằm vùng. O
Lài tôi kể rằng nghe dưới trụ sở quận
Phú Vang
có treo ảnh tôi, o lót
tót chạy về xem. Vừa bước chân vào cửa
quận, một
người quen ở trong
làng, lúc đó đang bị gọi về thẩm vấn
vì
có liên quan với Việt cộng, nói
ngay: “O đi mô rứa? Lên cho rồi!
Có
bóng thằng Đính treo trong a. Lên
cho rồi!”. Nhưng o tôi cứ vào.
“Để tui
vô coi thử có phải thằng Đính
không?”. “Chà, cái
bóng của mi
đẹp thiệt. Không biết nó kiếm ở mô
ra”.
O nói với tôi, suốt 10 năm tôi đi, bọn
công
an, mật vụ, dân vệ cứ rình
rập chung quanh nhà tôi hoài. Nhiều
lúc o
tôi đi bán bánh về khuya, tụi
hắn chặn trong xóm, khi thì giả đò mua
bánh
còn, khi thì cứ tự tiện giở
rổ rá ra, xáo hết lá bánh
lên xem.
“Tụi hắn cho là tao có giấu truyền
đơn”. Có lần tụi dân vệ xộc
vào nhà
(nhà o tôi ở sát nhà
tôi) giữa
lúc
o đang cúng. Bọn hắn nói:
“Chà, hai mạ con
mà cúng nhiều dữ hí! Ăn chi
cho hết”. Tụi hắn cho là o tôi giả
đò
cúng để tiếp tế cho Việt cộng.
Tôi theo Việt cộng, o tôi nhất định phải
có
liên hệ. Khoảng 2 tháng sau
tôi đã lên núi, một
hôm o đang
làm gì đó trong nhà bếp của
tôi, bỗng
nghe thịch một cái, một gói giấy từ
trên nhà
rớt xuống. “Tao hết hồn.
Đây là gói truyền đơn hay giấy chi
đó
mà trước khi đi mi nhét lên
mái.
Tao đút [1]
liền. Nhưng cũng khun, tao thắp 3 cây hương trong bếp, may
trong nhà
còn mấy tờ giấy tiền vàng bạc, tao lấy đi một
liên, rồi đút mấy cái tờ
giấy của mi. Đụng ai vô thình lình tao
nói là đút vàng
bạc”.
Còn
mẹ
tôi sau năm 1968, hễ nghe ở đâu có Việt
cộng bị bắt
hoặc bị
bắn chết, xa mấy cũng lò mò đến xem có
phải con
mình không. “Này,
cái
mụ này, tới đây làm chi hỉ?”.
Thấy mẹ
tôi lăm xăm đi tới mấy thằng lính
nạt. Mẹ tôi nói: “Nghe dưới ni
có bán
gà vịt rẻ tui xuống mua”. “Gà
vịt
mô mà gà vịt. Đi cho rồi!”.
Đêm
nào mẹ tôi cũng thắp hương van vái bốn
phương trời mười phương Phật và ba tôi
phù hộ cho
tôi tai qua nạn khỏi.
Cả xóm giữa đêm khuya nghe tiếng hò ở
xa đều biết
mụ Đính đi bán đã về.
“Có một thằng con mà bây giờ
không biết
sống chết ở nơi mô nữa, tội
thiệt!”. Mấy người hàng xóm kể:
“Mỗi lần mạ
đi bán về khuya, nhớ mi,
buồn khóc rồi uống rượu. Trời mưa, đường trơn, bổ
lên bổ
xuống. Có bữa
tao phải gánh giùm gánh
cháo về nhà.
Về đến nhà, thấy cây đèn leo
lét,
rồi mạ ngồi nơi cửa hát, có khi ngồi rứa
bà ngủ
quên luôn”. Càng về sau
không chịu nổi cảnh trống vắng, cảnh cô quạnh, mẹ
tôi
đi bán có khi ngủ
luôn ngoài chợ. Về nhà, thấy
nhà thấy cửa
mà không thấy tôi, mẹ tôi
chịu không nổi.
Hai
ba hôm sau, tôi đến Ban tổ chức thành ủy
ở 16 Lý Thường Kiệt,
trình diện và để nhận công
tác. Tôi cũng cứ tưởng bở. Ông
Ngô Yên Thi,
Trưởng ban tổ chức thành ủy, cho biết là tổ chức
thành phố không có
quyền, tôi phải qua tổ chức tỉnh, phải có quyết
định của tỉnh, thành
phố mới nhận tôi được. Tôi đến Ủy ban
nhân dân cách mạng kiêm
Quân quản
tỉnh Thừa Thiên (?) đóng ở tòa
hành chính của chính quyền cũ.
Tôi lên
lầu. Căn phòng to rộng, nhiều bàn ghế.
Tôi hỏi phòng tổ chức. Người ta
chỉ cho tôi đi đến bàn cuối phòng
phía bên trái gặp đồng chí
cụt tay.
Tôi nhớ không chắc, hình như
ông ta tên Trác. Tôi đưa giấy
giới thiệu
của Đảng đoàn Văn nghệ và giấy giới thiệu của
đoàn đi Nam.
‘‘Tôi
ở Hà Nội mới vào.’’
Ông
ta đọc, rồi quay ngược lại hai tờ giấy để trước mặt tôi.
‘‘Anh
là Trần Vàng Sao?’’
‘‘Phải.’’
Tôi
trình bày một vài điều về trường hợp
của tôi.
‘‘Anh
còn giấy tờ gì nữa
không?’’
‘‘Tôi
có trong danh sách của đoàn Thừa
Thiên
vào Huế sáng 30.4.’’
Ông
ta nhìn tôi:
‘‘Giấy
tờ này chưa đủ.’’
Ông
ta gõ gõ ngón tay của bàn
tay còn lại lên hai tờ giấy nói xẵng
giọng:
‘‘Đây
là giấy giới thiệu tiêu chuẩn ăn đi đường. Thế
còn lệnh hành
quân đâu? Phải có lệnh hành
quân, không thời ai biết đi B1, B2 hay B3,
B4. Phải có lệnh hành
quân!’’
Tôi
nói cho ông ta biết là đoàn
chỉ có tôi mượn giấy này và
phải
trả lại. Còn lệnh hành quân
thì đoàn phải giữ. Vả lại, những người
cùng
đi chung với tôi, bây giờ đã
phân tán các nơi, khó
tìm họ được.
‘‘Phải
có lệnh hành quân. Có lệnh
hành
quân mới nhận anh được.’’
Tôi
về 26 Lê Lợi, may là gặp ông
Võ Trấp đang ở đó. Ông đưa cho
tôi
lệnh hành quân của Bộ tư lệnh hành
quân Quân Giải phóng nhân
dân miền
Nam. Ông bảo tôi: “Thôi anh giữ
luôn, tôi cũng chẳng cần nữa”.
Sáng
hôm sau tôi lại lên phòng tổ
chức tỉnh, đưa
lệnh hành quân cho ông cụt tay.
Ông ta chỉ
ngó qua, rồi trả lại cho tôi:
‘‘Trường
hợp của anh hơi gay đây. Anh không có
giấy giới
thiệu của Ban thống nhất trung ương. Tỉnh không nhận anh
được.’’
Tức
máu lên, tôi nói:
‘‘Anh
bảo tôi phải có lệnh hành
quân, có lệnh hành quân rồi
anh bảo
phải có giấy của Ban Thống nhất. Tôi đã
nói với anh rồi là tên tôi
nằm
trong danh sách đoàn Thừa Thiên
vào đây ngày
30.04.’’
‘‘Trường
hợp của anh khác.’’
Trường
hợp của
anh khác. Tôi đừng tưởng bở. Anh thanh
niên
trông nhỏ hơn tôi ngồi bàn bên
cạnh với
ông cụt tay:
‘‘Trong
danh sách của đoàn ngày 30.04
có tên anh Đính.’’
Ông
cụt tay làm như không để ý lời anh
thanh niên nói. Ông ta ghé
sát anh thanh niên nói gì
đó, rồi nhìn tôi một cái,
đưa tay đẩy tờ lệnh
hành quân về phía tôi
sát cạnh bàn. Tôi cầm tờ giấy quay đi.
Tôi
về lại ban tổ chức thành ủy. Ông Ngô
Yên Thi trả lời: “Tỉnh
không nhận, chúng tôi cũng chịu.
Thành không có quyền”.
Ông ta nói như
cười. Tôi về.
Lúc
này, tôi hay lên chỗ thằng
Thái Ngọc San
làm việc ‘‘Cơ quan Mặt
trận thành phố’’ – ở chơi, gặp
bạn bè
nói chuyện và thường ở lại ăn
cơm. Ở chỗ này tôi đã bắt đầu thấy
những bộ mặt
không mấy thiện cảm với
tôi. Những thằng ở rừng về, những đứa mới tham gia
làm lơ
tôi. Bạn bè
đã có kẻ nhìn tôi bằng con
mắt ái
ngại. Nhiều đứa đã cố ý tránh
tôi.
Cách mạng đang thắng lợi mà tôi
là một
tên phản động chống Đảng. Thằng
thì cho tôi không ở trong
hàng ngũ của
nó, đứa thì sợ quen tôi sẽ bị
nguy đến sinh mạng chính trị. Chơi với tôi thằng
nào cũng thấy không
những không có lợi mà còn
mang họa vô
ích. Nhiều đứa vốn quen nhau ở
Huế, sau lên rừng thường thấy mặt nhau tình cờ gặp
tôi cũng giả đò
không thấy. Tôi bị coi khinh. Cho tới hôm
nay những
năm 91, 92, 93 này,
những thằng bạn cũ ngày trước sắp đi HO cũng lánh
mặt
tôi và những anh
em khác. “Hiểu cho tao với, để cho tao đi
trót lọt
cái đã, không lỡ nửa
chừng bị ách lại thì quá
cực”. Thằng Trần
Hữu Thục nói với tôi sáng
31.7.1993 như vậy. Bọn tôi thông cảm bọn hắn.
Cũng
có
thằng gặp tôi không dám chào
hỏi. Hắn ngụy,
tôi cách mạng.
Nên khi chạm mặt, những đứa này khựng lại:
“À, à anh…”.
’’Anh
cái cục
cứt à… chơi với nhau lúc nhỏ, anh chi
mà
anh”. Rồi nắm tay nhau đi uống
cà phê, nói chuyện đời. Cũng
có đứa mấy
lâu thấy tôi giữa đường, lại
giả tảng không thấy. Đến khi có dịp gặp nhau, hắn
nói: “Nói thiệt, mi
đi bên tê về, tau cũng ngại. Tau ngụy
mà. Lỡ
chào mi, mi lơ thì sao.
Nhưng khi thấy mi ngày nào cũng đi bộ qua Đập
Đá,
quần áo lùi xùi, tau
chẳng ngại chi nữa”. Tức cười thiệt.
Cuối
tháng 6.1975, tôi nhận được giấy mời đến Ban tổ
chức thành ủy
làm việc. Mời anh Trần Văn Đính mở
vòng đơn tức Trần Vàng Sao đóng
vòng
đơn. Tôi lại đến nhà số 16 Lý Thường
Kiệt. Ông Trưởng ban tổ chức nhìn
tôi:
‘‘À
anh.’’
Ông
ta
nói miệng tưởng như cười. Da mặt ông hơi
chì,
môi thâm, hai hàm răng có khi
khít
lại:
‘‘Trường
hợp của anh có nhiều khó khăn, anh Nhân
ạ.’’ [2]
Và
ông ta nói lại những điều đã
nói với tôi bữa trước, rằng tỉnh
không nhận tôi, thành không
thể giải quyết, bố trí công tác cho
tôi
được. Tôi nói:
‘‘Tôi
là cán bộ của thành ủy cho ra Bắc chữa
bệnh. Bây giờ tôi trở
về, thì thành ủy phải sắp xếp công
tác. Sao anh lại nói thành phố
không
có quyền.’’
Ông
ta lại nói miệng như cười:
‘‘Tôi
cũng biết thế. Thành phố hiện nay rất thiếu cán
bộ, mà những
người như anh thì lại rất cần, nhưng phải đảm bảo
nguyên tắc tổ chức.
Anh phải hiểu cho.’’
Ông
ta đưa cho tôi một tờ giấy:
‘’Anh
sang Ban tổ chức tỉnh ủy gặp ông Lê Thái
Tâm.
Chỉ có ban tổ chức tỉnh ủy mới giải quyết được trường hợp
của
anh.’’
Giấy
giới thiệu
cũng viết bằng mực tím, cũng Trần Văn Đính, mở
ngoặc đơn
tức Trần Vàng Sao, đóng ngoặc đơn.
Tôi
sang Tam Tòa vào một phòng ở khoảng
giữa dãy nhà về phía bên
phải. một ông mặc quần áo ngủ đang ngồi
trên giường. Ông ta đứng dậy đi
tới bàn giấy bên cửa sổ gần cửa ra vào.
Tôi đưa giấy giới thiệu. Ông ta
à một tiếng. Tôi kéo ghế ngồi.
Ông ta mở hộc bàn, lấy một tờ giấy đưa
cho tôi.
Ban
chấp hành Đảng bộ
Thừa
Thiên-Huế
Ban
Tổ chức
Số
196/TC
Ngày 30 tháng 6. 1975
Kính
gởi: Ban tổ chức Trung ương
Ủy
Ban thống
nhất Trung ương
Đồng chí Nguyễn Đính quê ở Thừa
Thiên
cùng đi với đoàn đ/c Đỗ Nhuận vào Thừa
Thiên
chúng tôi chưa tiếp nhận được vì:
-
Địa phương chưa có yêu cầu.
-
Chưa có giấy tờ thuyên chuyển hợp lệ.
Vậy
chúng
tôi xin chuyển đ/c Đính trở ra Ban để đảm bảo thực
hiện
đúng theo nguyên tắc thủ tục điều động của Ban
đã
quyết định.
TM.
Ban tổ chức Tỉnh ủy
Trưởng
Ban
Lê
Thái Tâm
Ông
ta nói:
‘‘Bây
giờ anh phải ra Bắc. Ở đây chúng tôi
không nhận anh.’’
‘‘Thế
tôi đi bằng cách
nào?’’
‘‘Anh
sang tổ chức thành mà hỏi. Thành sẽ
giải quyết.’’
Tôi
đứng dậy, kẹp hai ngón tay vào một góc
tờ giấy vừa bước ra vừa
nói, ‘‘chào
anh’’. Qua Ban tổ chức thành ủy,
ông trưởng ban bảo:
‘‘Tổ
chức tỉnh ủy trả anh ra Bắc thì phải lo phương tiện cho anh
chớ.’’
Tôi
nói:
‘‘Tỉnh
lại bảo thành phố giải quyết.’’
Thôi
về
cho rồi. Tôi dại thiệt. Mắc chi mà phải loanh
quanh luẩn
quẩn tự mình hành hạ mình. Ở
Hà Nội
thì tìm cách vào Huế.
Vào Huế lại
chạy chỗ này qua chỗ khác để xin làm
việc. Chu
cha, tham gia cách mạng
bao nhiêu năm nay không lý về
không à,
mất mặt. Tôi dại thiệt. Mắc chi
mà chạy đôn chạy đáo cho cực
mà nhục như
thế. Qua cầu Mỹ Chánh rồi thì
cứt hết. Cứ về nhà ở với mạ, ngó cây
cối chim
chóc là vui sướng rồi.
Tôi dại quá.
Tôi
ngó ông trưởng ban tổ chức thành ủy:
‘‘Tỉnh
nói qua thành, thành nói
qua bên
tỉnh. Thôi tôi về.’’
Tôi
về. Đường Lý Thường Kiệt buổi sáng trời
không nắng to. Qua
Phòng thông tin Hoa Kỳ, đối diện hơi chếch một
chút có hai cây dừa mọc
cong trước cửa ngỏ một ngôi nhà, tàng
lá che đến lề đường. Người ta kể
có một ông bán phở gánh
cách đây mấy chục năm, nửa đêm qua
đây bị một
trái dừa khô rớt bể đầu chết ngay tại chỗ.
Không biết có thiệt hay
không? À, ở nhà mình
còn một quyển sách mượn của Phòng
thông tin Hoa Kỳ
từ năm 1965, chưa trả thì đã trốn lên
núi, cuốn La Jeunesse
de Lénine [3] ,
bản dịch tiếng Pháp của René Guyonnet.
Tôi ra quán cà phê Bưu điện.
Ba
bốn đứa đã ngồi ở đó. Thằng San hỏi:
“Răng mi?”. “Như cứt họ”.
Cà phê
ngon thật.
Tới
ngang
đây tôi coi hết nước rồi. Nhưng chưa ngất ngư
nên
tôi vẫn
còn cố. Tôi phải biết rằng người ta
không bao giờ để
cho tôi chết,
người ta sẽ làm cho tôi hoàn
toàn bất lực,
tê liệt, mất hết tác dụng.
Chế độ này muốn cho tất cả mọi người đều trở
thành những
kẻ bị thiến
hoạn về tư tưởng. Hai ba ngày sau đó, theo lời
khuyên của bạn bè, một
buổi chiều, tôi đến gặp ông Trần Thanh Văn (Trần
Anh
Liên), Bí thư
thành ủy Huế tại nhà riêng của
ông ở 14
Lý Thường Kiệt. Ông Văn là
người lịch thiệp và khiêm nhường. Ông
người
Hà Nội. Hồi ở trên rừng,
tôi hay gặp ông và nói chuyện
với ông.
Tất nhiên là ông ta đã được
báo
cáo về tôi rất rõ. Tôi đưa
cho ông
cái công văn của Ban tổ chức tỉnh ủy
gửi trả tôi lại cho Ban thống nhất trung ương. Ông
Văn xin
lỗi đã để
kính trong phòng. “Thôi anh
đọc cho tôi
nghe cũng được”. Nghe xong, ông
Văn nói giọng hơi gắt:
‘‘Làm
gì đến nỗi phải thế. Chỉ cần một cú điện thoại
là được thôi.’’
Ông
hỏi tôi:
‘‘Thế
anh đã gặp anh Lanh chưa?’’
Tôi
biết
ông Văn hỏi tôi như thế vì trước kia
tôi
là cơ sở của ông Lanh, phó
bí thư
thành ủy.
Tôi
nói:
‘‘Tôi
có gặp anh Lanh. Anh Lanh chỉ nói là
“tại
cậu hết”, rồi bỏ đi.’’
Ông
Văn mời tôi uống nước và hút thuốc.
Tôi nói:
‘‘Tôi
đến gặp anh để báo cho anh biết trường hợp của
tôi,
không rồi sau này các anh lại
nói vì
sao không cho các anh biết.’’
‘‘Thế
bây giờ anh có định ra Bắc
không?’’
‘‘Không,
không khi nào tôi ra Bắc
hết.’’
Ông
Văn gật đầu:
‘‘Anh
đừng dại mà ra Bắc. Anh mà ra Bắc là
bị nắm đầu liền.’’
Ông
còn nói động viên tôi một
vài
câu nữa, và câu cuối cùng
là “để
tôi hỏi ý kiến của các anh ở thường vụ
xem
sao”.
Tôi
về
nhà. Trời bắt đầu tối. Cây vú sữa
lá vẫn lao
xao. Con chó
mực vẫy đuôi mừng. Mẹ tôi đi bán chưa
về. Tôi
thắp một cây đèn để giữa
nhà, rồi giở lồng bàn ra, trên
cái mâm
gỗ, một tô cháo, một tô canh,
một cái chén úp trên
cái đĩa.
Tôi rót một ly nước chè uống ực một
cái,
rồi rót thêm một ly nữa, bắc một cái
ghế ra ngồi
trước cửa nhà lớn hút
thuốc ngó trời đất cây cối. Đứa nhỏ bên
hàng
xóm ru em hát, bên
cạn thời chống, bên su thời chèo…
Một lát sau, có một đứa nhỏ đứng ngoài
hàng
chè tàu thấy trong nhà có
đèn
nói với vào:
‘‘Anh
Đính, anh Đính ơi! Chút nữa anh đem
đèn ra
cho mụ. Mụ nói mụ bới cơm rồi.’’
Tôi
về ở nhà. Cỏ trong vườn mới làm đã mọc
đầy. Buổi sáng tôi nhổ
lông gà, lông vịt hay rửa
lòng heo lòng bò giúp mẹ
tôi. Buổi trưa tôi
bắc bánh bột lọc, khoảng 2 giờ mẹ tôi
gánh cháo ra chợ Vỹ Dạ, chiều tối
lại lên bán trên múi Đập
Đá trước lầu Hữu Ước. Tôi ở nhà hết
đọc, viết,
lại lên chỗ thằng San chơi. Trước tôi
còn hay lên, nay chỉ thỉnh
thoảng. Trong bạn bè, anh em quen biết đã
có nhiều tiếng xì xào về việc
tôi bị tống cổ ra Bắc. “Nghe nói thằng
Đính hồi ở miền Bắc có làm thơ
chống Đảng và nói xấu Bác
Hồ”, “Nghe đâu ở miền Bắc thằng
Đính bị kết
tội chống Đảng, chống chế độ”, “thằng
Đính phản động”, “uổng thiệt,
tham gia cách mạng bao nhiêu năm!”,
“Hình như thằng Đính có bị
đấu tố,
khiếp thật!”.
Cứ
như thế, những dấu hỏi, dấu than như thế cứ xa gần xì
xào quanh
tôi, lúc nhỏ, lúc to, lúc
miệng này qua tai khác, lúc trợn mắt
thở phù
trong phòng kín, trước mặt, sau lưng, đầu
ngõ, bên cạnh nhà. Không
có
tên công an khu vực nào nơi
tôi ở không lẽo đẽo bên tôi
cách này thế
khác. “Thằng Đính là một
tên phản động chống Đảng, chống chế độ, làm
thơ nói xấu Bác Hồ”. Đời tôi
tàn rồi.
Một
hôm tôi đi chơi về, thấy trên
bàn có một mảnh giấy để lại.
Đính,
Cố
gắng dàn
xếp với trên tổ chức. Nếu không thì về
Vỹ Dạ nằm tu.
Còn ra Bắc thì dứt khoát
không ra. Chỗ tao
cũng hơi rắc rối.
TNS
Tôi
hiểu ý thằng Thái Ngọc San là
tôi không nên đến chỗ hắn làm
việc nữa. Nhiều đứa đã tránh xa tôi.
Nhiều đứa đã ngó lơ giả đò
không
thấy tôi. Nhiều đứa cực chẳng đã phải
chào tôi cho có lệ. Và nhiều
đứa
cũng cứ về nhà tôi chơi, đi uống cà
phê với tôi rất thân mật.
Một
buổi sáng có tiếng xe Honda tắt máy
ngay trước cửa ngõ. một anh
chàng mặc quần áo bộ đội, đội mũ cối, dắt xe
vào. Lại mệt nữa, tôi giật
mình, thôi công an rồi. Anh ta bước
lên thềm, đứng trước cửa. À, thằng
Năm ở Ban tuyên giáo thành ủy. Anh ta
chào tôi:
‘‘A,
anh Nhân.’’
Anh
ta lấy trong xắc cốt ra một phong bì, đưa cho tôi.
Tôi mở ra, công văn của thành ủy.
Thành
ủy Huế
Số
072/CV
CÔNG
VĂN
Anh
Nguyễn Đính (Trần Vàng Sao) là
cán bộ của cơ quan Thành ủy được
Thành ủy giới thiệu ra Bắc chữa bệnh từ 1969 nay
đã trở về Huế. Hiện
nay anh Nguyễn Đính chưa có đủ giấy tờ
chính thức của Trung ương. Trong
khi chờ đủ giấy tờ để bố trí công tác
chính thức, Thành ủy Huế tạm sắp
xếp anh Nguyễn Đính ăn ở tại cơ quan Tuyên huấn
Thành ủy (diện khách).
Thành
ủy Huế quyết định:
Ban
Tuyên giáo thành chịu trách
nhiệm quản lý việc ăn ở của anh
Nguyễn Đính. Ban Kinh tế Thành bảo đảm
tiêu chuẩn ăn ở. Ban tổ chức
tiếp tục giải quyết thủ tục giấy tờ của anh Nguyễn Đính.
Các Ban chiếu
công văn này để thi hành.
Ngày
20.7.1975
TM
Thành ủy Huế
Phó
bí thư
Hoàng
Lanh
Tất
nhiên những người lãnh đạo ở đây
không thể thả lỏng tôi mà phải
quản lý chặt tôi. Hơn nữa nếu họ không
cho tôi làm việc thì sẽ gây
ra
một dư luận dù nhỏ không có lợi cho họ
trong giới sinh viên, giáo chức,
văn nghệ sĩ ở Huế. Đằng nào tôi cũng là
một trong những sinh viên Huế
đầu tiên thoát ly tham gia kháng chiến
chống Mỹ.
Và
bây giờ tôi được nhận làm
“diện khách”.
Khi
thằng Ngô ở Hà Nội vào thăm
nhà nghe chuyện này hắn cười thật to:
‘‘Diện
khách! Tham gia cách mạng bao nhiêu năm
bây
giờ về làm… diện khách. Quá
mất dạy. Hắn
chơi mi đó.’’
Ba
ngày sau tôi lên ở nhà số 22
Lý Thường Kiệt làm khách của Ban
tuyên giáo thành ủy Huế. Tôi
không làm gì hết chỉ ăn, ở. Trần
Phá Nhạc,
Nguyễn Đắc Xuân, Nguyễn Thượng Khanh, Võ
Quê cũng ở đây. Buổi sáng,
buổi chiều tụi nó sang cơ quan ở 20 Lý Thường
Kiệt làm việc, tôi nằm
đọc sách hoặc về nhà hay đi lang thang. Trưa,
chiều ăn cơm với tụi nó.
Trong số anh em ở đây tôi thân với Trần
Phá Nhạc hơn, mặc dù mới quen.
Tôi hay đi uống cà phê với Nhạc. Buổi
tối 2 đứa thường chở nhau bằng xe
đạp loanh quanh luẩn quẩn trong thành phố.
Tôi
được
cho ăn ở, hưởng các tiêu chuẩn, chế độ như anh em
khác,
nhưng không làm gì hết. Thật ra
lúc
này tôi chẳng là cái
gì hết để cho
họ phải theo dõi xem tôi có
liên hệ với những
phần tử xấu hay địch hoặc
xem sự tiến bộ của lập trường, tư tưởng của tôi đến mức độ
nào. Tôi
chẳng là cái gì cả và họ
cũng chẳng cần
tôi. Vấn đề là tôi phải bị quản
lý và đối với dư luận, tôi vẫn
không bị bỏ.
Tôi kệ cũng không được.
Tuần đầu, tôi cứ ở 22 Lý Thường Kiệt. Về sau
chán
tôi cứ về nhà luôn.
Tôi ăn cơm ở nhà, ngủ ở nhà.
Có khi 2, 3
ngày tôi không đến 22 Lý
Thường Kiệt. Và tôi cũng chẳng có
gì buồn
phiền, chán nản, mệt mỏi. Tôi
về nhà tôi và sống với mẹ
tôi. Tôi
có anh em bạn bè thân mật của
tôi.
Tôi
không còn nhớ ngày nào
tháng
nào nữa, đâu khoảng tháng 6,
không
biết có phải không, trước ngày đổi bạc
lần thứ nhất
một ngày, một buổi
chiều, từ nhà lên đang đi trên đường
Lý
Thường Kiệt tôi bị gọi giật lại
“Nhân, Nhân ơi!”. Tôi
dừng lại. Ông
Hoàng Lanh đang ngồi trên ô tô
với
người nhà từ ngôi nhà số 10
vòng qua
bên kia đường. Ông ta ló đầu ra
cửa xe. Tôi đứng phía bên này
đường.
‘‘Nhân,
bắt đầu từ bữa ni anh làm việc ở Ban tuyên
giáo
nghe. Có điện Hà Nội vào rồi. Rứa
thôi
nghe.’’
Sáng
hôm sau tôi ghé 20 Lý Thường
Kiệt làm việc và được cho làm ở
tiểu ban tuyên truyền. Công việc chẳng
có gì, vừa làm vừa chơi cũng
được. Chỉ có vất vả là thời gian tôi về
khu phố Vĩnh Lợi làm công tác
bầu cử Quốc hội. Tôi không có xe đạp.
Mỗi ngày tôi phải đi bộ từ nhà
lên trụ sở Ủy ban nhân dân Vĩnh Lợi, trưa
về nhà ăn cơm. Ăn xong đi
liền, chiều lại về nhà. 2, 3 ngày tôi
phải đến cơ quan báo cáo tình
hình. May lúc đó chân cẳng
tôi còn tốt.
Phần
đông những người ở Ban tuyên giáo
là những anh em bạn bè quen
biết. Không khí làm việc vui vẻ,
thân mật. Một buổi trưa gần hết giờ
làm việc, Nguyễn Đắc Xuân đứng nói với
tôi cạnh cửa ra vào:
‘‘Đính
nì, tao đã đề nghị mức lương của mi là
56 đồng. Tao phải đấu
tranh dữ lắm. Có nhiều người không đồng
ý. Tao ở trong ban xếp lương
của cơ quan. Mi thấy rứa có được
không?’’ [4]
Tôi
hỏi:
‘‘Rứa
lương mi mấy?’’
‘‘Ờ…
ờ 73.’’
‘‘Rứa
à.’’
Tôi
không nói gì nữa và cũng
không để ý đến thái độ của hắn. Mấy
ngày sau đó, cũng khoảng gần trưa, ông
Trần Duy Ưu, Trưởng Ban tuyên
giáo, bảo tôi vào phòng
làm việc của ông, ông gần gặp
riêng tôi. Sau
khi nói cho tôi biết là thường vụ
Thành ủy đã có quyết định xếp lương
cho cán bộ, ông đưa cho tôi tờ quyết
định về mức lương của tôi: 56 đồng
(cán sự 2). Ông nói:
‘‘Anh
thấy thế nào?’’
Tôi
ngó tờ quyết định không nói.
Tôi biết
cách đây mấy ngày cán bộ
Ban tuyên giáo đã nhận quyết định
lương.
Riêng tôi thì có
khác là thủ
trưởng cơ quan gọi vào phòng riêng để
đưa quyết
định và hỏi ý kiến. Ông
ta nhắc lại:
‘‘Chúng
tôi đề nghị mức lương của anh là 56 đồng,
và thường
vụ đã thống nhất ý kiến. Anh thấy
sao?’’
Tôi
nói:
‘‘Tôi
được cho đi làm việc là may rồi. Còn
xếp bao
nhiêu là quyền các
anh.’’
Khoảng
cuối
tháng 5 đầu tháng 6.1976, thằng Xuân
một hôm
đang ngồi làm việc, trong phòng chỉ có
tôi
và hắn, vừa cười vừa nói:
‘‘Nghe
mi có người yêu rồi phải không? Con Hay
làm ở
khu phố Vĩnh Lợi chớ chi nữa?’’
‘‘Ừ,
mà răng?’’
‘‘Hình
như con Hay là con sĩ quan ngụy phải không
mi?’’
‘‘Mi
Đảng viên mi phải sợ. Tao yêu ai thì tao
yêu.’’
Chắc
là
họp chi bộ thằng Xuân có nói
gì đó về
chuyện của tôi nên sau đó ông
Trưởng ban
tuyên giáo hỏi tôi:
‘‘Nghe
anh đã đặt vấn đề với cô Hay nào
đó công tác ở Ủy ban Vĩnh
Lợi phải không?’’ Ông ta cũng
vừa cười vừa nói giọng Thừa Thiên làm
dáng pha Bắc. “Mà cô ấy
là con của một ông thiếu tá
ngụy?’’
Tôi
cười:
‘‘Trung
tá anh ạ, và đã từng làm
quận trưởng quận Phú Vang.’’
Lúc
này Ban tuyên giáo đã dời ra
số 1 Hoàng Hoa Thám. Một số người
đã chuyển đi công tác nơi
khác. Võ Quê ra Hội Văn nghệ, Trần
Phá Nhạc
qua đài truyền thanh Huế, Nguyễn Thượng Khanh xin đi học đại
học y
khoa. Từ lâu tôi đã biết thế
nào tôi cũng phải đi khỏi chỗ này.
Mà thật
ra trong cái guồng máy tổ chức của chế độ
này tôi không có một chỗ
nào
cả. Tôi đã bị đuổi. Có người
đã bảo tôi: “Một thằng như mi, ai
mà để
công tác ở ban tuyên
giáo”. Tôi đã nghe khi gần
khi xa, khi to khi nhỏ
từ những người ở trong cơ quan hoặc từ những người thân của
những người
trong cơ quan rằng tôi sẽ chuyển về công
tác ở Ủy ban nhân dân xã
Hương
Lưu.
Tháng
6.1976, tôi có quyết định của Thường vụ
thành ủy về Hương
Lưu. Một buổi sáng tôi đang ngồi làm
việc, thằng Lãm cán bộ Ban tổ chức
ở phòng bên cạnh lăm xăm bước vào đến
bên cạnh thằng Nguyễn Khoa Điềm,
cúi gập mình lên bàn
nói nhỏ nhỏ chi đó rồi đi ra. Thằng
Lãm vừa ra
khỏi cửa, thằng Điềm, lúc này là
phó ban tuyên giáo phụ trách
tiểu ban
tuyên truyền, ngẩng mặt lên gọi tôi:
‘‘Anh
Đính, tôi có chuyện cần bàn
với anh.’’
Bàn
làm việc của tôi đối diện với bàn của
hắn.
Tôi ngồi xuống cái ghế để trước mặt bàn
hắn:
‘‘Thường
vụ quyết định anh về công tác ở Hương Lưu. Anh
nghĩ sao?’’
Tôi
nói:
‘‘Tôi
đi đâu là quyền của các
anh.’’
Tôi
quay lại bàn làm việc, vừa mới ngồi xuống
thì thằng Lãm lại
sang. Và cũng như lần trước hắn cúi gập
mình lên bàn thằng Điềm và
đưa
cho thằng Điềm một tờ giấy, rồi đi về. Thằng Điềm lại ngẩng mặt
lên:
‘‘Anh
Đính, anh cho tôi nói cái
này một chút.’’
Tôi
bước sang. Thằng Điềm đưa cho tôi một tờ giấy: Quyết định của
Thường vụ thành ủy do ông Hoàng Lanh,
phó bí thư phụ trách tổ chức
ký,
điều động tôi về công tác tại Ủy ban
nhân dân xã Hương Lưu với chức vụ
đã sắp sẵn, trưởng ban văn hóa thông
tin. Quyết định đã ký cách
đây ba
ngày. Điềm nói:
‘‘Tôi
cũng không biết gì về việc
này.’’
Tất
cả sự việc diễn ra trong vòng chưa đầy 5 phút.
Sau
một ngày tôi nhận quyết định, ông trưởng
ban tuyên giáo gặp tôi nói:
‘‘Đi
công tác về tôi mới biết là
anh đã
có quyết định tăng phái về Ủy ban nhân
dân
xã Hương Lưu.’’
Tôi
nói:
‘‘Anh
Điềm, bí thư chi bộ cũng nói với tôi
là anh không biết gì về
chuyện này. Bây giờ anh là thủ trưởng
cơ quan và là thành ủy viên
anh
cũng bảo là anh mới biết. Thế là thế
nào? Cách đây một tháng, anh
Nguyễn Đắc Xuân đã nói với
tôi là tôi sẽ về Hương Lưu.
Hôm qua, đến lấy
cá tôi chào chị Vững tôi về
Hương Lưu. Chị Vững cười: tôi biết lâu rồi,
chi bộ họp đã nói chuyện chú sẽ về
Hương Lưu.’’
Và,
nhân tiện đưa tiễn mấy ông cán bộ ở
Hà Nội vào giảng dạy ở
trường Đảng thành phố, tôi được mời
ghép đến ăn mấy cái kẹo, uống một
hai ly trà gọi là tiễn đưa tại trường Đảng ở
đường Phan Đình Phùng.
Tôi
về
công tác ở Ủy ban xã Hương Lưu từ
tháng
6.1976 đến
31.12.1976. Văn hóa thông tin ở các khu
phố,
xã là băng cờ, khẩu hiệu
trang trí trong các ngày lễ
và các
buổi họp của ủy ban. Hằng ngày tôi
đến cái phòng nhỏ số … đường Thuận An
ngồi
chõm rõm với một cậu thanh
niên làm công tác văn
hóa thông
tin kiêm đánh máy cho Ủy ban
và một cô
y tá nói chuyện với nhau, ngó xe cộ
và
người đi đường qua lại. Căn
phòng này trước là hiệu may của một
người
đã bỏ đi Nam, được chia làm
hai, một bên là ban văn hóa
thông tin, một
bên là trạm y tế. Buổi chiều
cán bộ định suất nghỉ, còn cán bộ tăng
phái
đi làm việc, tôi tới ngồi
một chút rồi cũng đi về.
Có
một hôm, bà Hoa, bí thư chi bộ
xã Hương Lưu, hỏi tôi: “Tối nay,
7 giờ, anh đến nhà tôi, có một đồng
chí công an ở tỉnh muốn gặp anh.
Không can chi đâu, anh đừng lo”. Tối
đó tôi đến nhà bà Hoa. Một
ông
khoảng trên 40 tuổi, mặc quần áo công an
đang ngồi nói chuyện với bà
Hoa giữa nhà. Ông ta nói:
‘‘Hôm
nay tôi nhờ chị Hoa mời anh đến đây cho tiện,
tôi có một vài
chuyện muốn hỏi anh. Ông ta cười. Anh đừng lo.
Không phải chuyện của
anh đâu.”
Rồi
ông ta hỏi tôi:
‘‘Chắc
anh đã đọc tờ Văn nghệ
Bình Trị Thiên số 1. Anh
thấy nội dung của hình vẽ của Bửu Chỉ trên tờ
bìa như thế nào?’’
À,
tôi biết rồi. Bìa trước và
bìa sau của tờ Văn nghệ
Bình Trị Thiên
số 1 đang “có vấn đề” và đang
gây dư
luận xôn xao ở thành phố này.
Các ông
lãnh đạo tỉnh đang bực mình. Tôi
nói:
‘‘Trang
bìa vẽ một nhà máy và 2
đường sắt đi đến
nhà máy. Thế
thôi.’’
Ông
ta ậm ừ trong miệng rồi hỏi nữa:
‘‘À,
à… thế anh có quen với anh Bửu Chỉ
không? Anh thấy anh Bửu Chí
là người thế nào? Tôi hỏi như thế
vì anh là người tham gia cách mạng
đã
lâu.’’
‘‘Tôi
mới quen anh Chỉ gân đây thôi.
Tôi chưa hiểu
anh Chỉ cho lắm, cho nên tôi không thể
nói
gì về anh ấy.’’
Lần
khác, lúc đó tôi được
phân công vào tổ bầu cử Hội đồng
nhân dân
tỉnh, thành phố gì đó tôi
không còn nhớ tại địa điểm thôn Phao
Võng.
Khoảng 10 giờ đêm, trong lúc tổ bầu cử đang kiểm
phiếu, có 3, 4 thanh
niên ăn mặc thường phục ngang nhiên bước
vào ngó nghiêng, ngó ngửa,
chỉ
trỏ nói tiếng to, chẳng coi ai ra gì cả, tất
nhiên là theo sau có một
cán bộ Ủy ban. Công an về kiểm tra nắm
tình hình xem có bọn phản động,
chống đối phá hoại bầu cử hay không. Một tay thanh
niên nói giọng miền
ngoài đến trước mặt tôi hỏi:
‘‘Phiếu
bầu có gì lạ không anh
Đính?’’
Nhiều
lần làm công tác bầu cử tôi
biết là công an thường đến những
địa điểm bầu cử và ngay cả Ủy ban thành phố trong
đêm kiểm phiếu để
kiểm tra những phiếu bất hợp lệ, và phiếu trắng
có những dấu viết phản
động, chống chế độ như thế nào.
Tay
này
nhìn tôi gật gật đầu. Hắn có một
khuôn mặt
choắt, láng, trông trợt trợt, hình như
tên
Dũng thì phải. Hắn nói:
‘‘À,
chắc anh không biết tôi, chứ tôi
thì tôi
biết rõ anh lắm, anh Đính
nghe.’’
Tôi
nói:
‘‘Tôi
làm hướng dẫn cho cử tri đi bỏ phiếu nên
không biết.
Anh hỏi những người kiểm phiếu.’’
Trong
lúc đó, những người đi cùng với hắn
đang lục lọi, trăn qua
trở lại những phiếu bầu mà chúng nghi
là có vấn đề ở bàn kiểm phiếu.
Cuối
tháng 12.1976, tôi có quyết định
lên công tác tại phòng văn
hóa thông tin thành phố Huế. Chuyển chỗ
này, chuyển chỗ khác không bao
giờ tôi được báo trước, chớ đừng nói
là hỏi ý kiến trước. Thình
lình
một cái người ta đưa quyết định cho tôi. Vừa bước
chân vào trụ sở Ủy
ban, một người nói:
‘‘A,
ông Đính, ông có quyết định
về phòng
văn hóa thông tin. Sướng chưa? Nhận quyết định
mà
đi này.’’
Ngày…
tháng 1.1976 tôi cưới vợ. Vợ tôi
tên là Nguyễn Thị Hay lúc
này đã thôi làm việc ở khu
phố Vĩnh Lợi, đang học lớp y sĩ xã ở trường
y tế Bình Trị Thiên.
Trong
thời gian tôi làm việc ở Phòng văn
hóa thông tin thì xảy ra
đại hội văn nghệ tỉnh Thừa Thiên. Tôi tưởng như thế
này dẫu sao tôi
cũng được yên. Bây giờ tôi lại bị bới ra.
Một tên phản động làm thơ
chống chế độ, nói xấu lãnh tụ như tôi
ai mà cho dự đại hội văn nghệ.
Tôi nghe nói là thường vụ tỉnh ủy
và thành ủy không đồng ý để
tôi dự
đại hội. Có cái nghiệt tôi vốn
là ủy viên ban chấp hành Chi hội Văn
nghệ Giải phóng Trị Thiên. Ông Tường gặp
tôi ở trước cửa trường Đại học
sư phạm lúc tôi đi làm việc về,
nói: “Tao đã đề nghị anh Lanh cho mi dự
đại hội văn nghệ”. Ông Tường làm như
tôi nghe tin này thì mừng lắm.
Tôi
nói “Thôi anh ơi, thêm mệt cho
tôi. Anh có cho tôi năm đồng ba trự
thì
tôi mừng, tôi cám ơn anh. Chớ chuyện
đó… tôi không thiết. Anh để
cho
tôi yên”. Nói thật,
tôi chẳng thiết gì về chuyện dự đại hội văn nghệ
và
cũng chẳng để ý gì đến chuyện này nữa.
Tôi có lý của tôi. Như
tôi hằng
ngày vẫn viết, vẫn làm thơ, không bao
giờ tôi nghĩ là thơ tôi sẽ được
đăng báo hay xuất bản. Rồi một buổi chiều tôi vừa
ra khỏi cổng Phòng
văn hóa thông tin, số 1 Trương Định, ông
Trưởng phòng đi Honda ra, dừng
xe lại: “Anh Đính, chi bộ đã đồng
ý để anh tham dự đại hội văn nghệ”.
A, tức cười chưa! Về sau tôi bị tố là một kẻ
không biết ăn năn hối cải;
Đảng đã khoan hồng và độ lượng với tôi
như thế mà tôi thì cứ chống
Đảng, chống chế độ.
Trước
đó,
lúc tôi còn ở Ban tuyên
giáo
thành ủy, trong thời gian
Ban vận động thành lập Hội Văn nghệ Thừa Thiên
chuẩn bị in
tập thơ “Huế
từ ấy”, ông Tường nói tôi
chép
bài “Bài thơ của một người
yêu nước
mình” của tôi để in vào tuyển
tập này.
Khi tôi đưa bài thơ cho ông
Tường ở 26 Lê Lợi, ông nói:
“Đính ơi,
tao nghĩ mi đừng để tên Trần Vàng
Sao nữa mà để tên Nguyễn Đính. Nguyễn
Đính
thì ai cũng biết”. “Anh nói
chi lạ rứa? Anh mà còn sợ
à?”.
“Ý của ông Trần Hoàn như
thế?”.
“Đăng
hay không là quyền anh, đổi tên
tác giả
là quyền tôi. Tôi không bao
giờ
đổi tên Trần Vàng Sao hết. Nếu đăng anh
không được
quyền đổi tên tác
giả. Tôi sẽ kiện có một tên Nguyễn
Đính ăn
cắp thơ Trần Vàng Sao”. Một
hôm tan buổi họp gì đó ở ty văn
hóa
thông tin (lúc đó ở số…
Lê Lợi),
ông Trần Hoàn, trưởng ty, gặp tôi
trên thang
gác đi xuống nói: “Nhân,
Nhân ơi, thôi được rồi, cứ để tên Trần
Vàng
Sao trong bài thơ của anh.
Vừa rồi tờ Văn nghệ
Giải phóng
ở Sài gòn đã đăng lại bài
thơ đó
và để tên Trần Vàng Sao”.
Thằng cha
quá khôi hài. Hình như
lúc đó
không
biết có phải là Lê Nhược Thủy hay
không
có viết về bài thơ này của
tôi
trên Văn nghệ
Giải phóng.
Tác giả tỏ ra có cảm tình với
bài thơ của tôi.
Sau
này khi ra tờ Văn nghệ
Bình Trị Thiên, rồi Sông
Hương,
bạn bè khuyên tôi nên đăng thơ
cho vui, “chỗ anh em với nhau, ai vô
đó”. Tôi không chịu.
“Cái thằng chi lạ”. “Rứa mi
làm thơ rồi cất trong
tủ à, hay chỉ đọc cho con Bồ Câu nghe
thôi à?” [5]
Tôi chỉ cười. Lúc Sông
Hương
sắp ra số 1, có người rủ tôi: “mi phải
gửi bài đăng Sông
Hương
số 1”. Tôi lắc đầu, Sông
Hương
ra được vài số, thằng Điềm đến nhà tôi
nói tôi đưa 2 bài thơ cho hắn
đăng. Tôi nói: “Thôi đăng
làm chi. Tao không thích”.
Hắn mượn tôi một
số bài đem về đọc. “Cho mi mượn đọc, chứ đừng
đăng”. Lúc này thằng Điềm
làm Tổng biên tập tạp chí Sông
Hương.
Mấy ngày sau tôi gặp hắn
đòi mấy bài thơ với lý do
tôi chỉ có
một bản duy nhất đó. Hắn báo là
bà
Mỹ Dạ mượn. Tôi lên nhà ông
Tường liền
và lấy lại mấy bài thơ về. May
quá. Một bữa khác, gặp tôi,
bà Mỹ Dạ
nói: “Anh Điềm bảo Dạ: răng chị
lại đưa mấy bài thơ lại cho thằng Đính. Chị cứ
chọn
mà đăng. Mà răng
anh chướng rứa, anh Đính? Đăng cho vui chứ”.
“Thôi chị ơi!”. “Anh sợ
à?”. “Đụng tôi bị
tù thì
làm răng?”. “Anh ở tù
thì bọn
này bói”. “Rứa
ai nuôi con tôi?”.
“Nói rứa thôi,
đưa thơ đăng đi anh Đính”. Anh em bạn
bè khuyên nhủ, nói nhiều lần, cầm
lòng
không đậu, tôi đưa bài “Những
ngày còn nhỏ của tôi ở Vỹ Dạ”
để đăng.
Bài thơ dài nên chỉ trích
đăng
một số đoạn có chừng mực. Từ đó, nhờ tấm
lòng của
bạn bè, thỉnh thoảng
thơ tôi lại được đăng ở Sông
Hương.
Một số bài trong những bài
này của tôi đã bị báo
chí, đài
phát thanh, đài truyền hình
và nhiều
người có chức quyền ở tỉnh này sỉ vả
tôi dữ tợn,
tóm một lời, họ cho
tôi là phản động. Có người ở
báo Công
an Bình Trị Thiên gọi
tôi
là chó, rằng lúc ở Hà Nội,
Đảng đã khoan hồng cho tôi mà nay
tôi lại
không biết điều… Nhưng đó là
những chuyện xảy ra về sau này.
Những
tháng năm này cả nhà tôi
đói.
©
2005 talawas
[1]đốt.
[2]Hình
như lúc đó ông gọi tôi
là Nhân, tên ở Chiến Khu của
tôi
[3]Three Who
Made a Revolution của
Bertram D. Wolfe.
[4]tôi
nhớ hình như thằng Xuân nói:
“tao đã xếp cho mi”
[5]Bồ
Câu là đứa con gái đầu của
tôi.