Trương Quang Tiến
Hậu duệ của
Marx, Engels và Phương thức Sản xuất Á
châu
Gần
đây, trên diễn đàn chính trị
đã thấy một số tác giả đề cập tới "Phương
thức Sản xuất Á châu" khi xét đến tiến
trình phát triển các hình
thái
kinh tế xã hội Việt Nam. Trên mạng talawas
ngày 8.10.05 người viết bài
này đã trình bày
ý kiến của mình dưới tiêu đề
«Lược khảo khái luận
"Phương thức Sản xuất Á châu" của Karl Marx
và Friedrich Engels».
Bài này chỉ làm công việc
triển khai tiếp nối.
1. Quan điểm của Lenin về Phương thức Sản xuất Á
châu
Lenin là một nhà Mácxít
chính thống, hậu duệ [1]
trung thành của Marx và Engels về khái
luận Phương
thức Sản xuất Á châu. Mặc dù trong
tác phẩm Der Ursprung der Familie, des
Privateigentums und des Staates
(Nguồn gốc gia đình, tài sản tư hữu và
nhà
nước) Engels đã đoạn tuyệt với khái luận Phương
thức Sản
xuất Á châu [2]
, không làm cho Lenin - vào cuối thế kỷ
19 và đầu thế kỷ 20 - "xa lánh"
khái luận Phương thức Sản xuất Á châu
của hai bậc thầy. Lenin đã mặc
nhiên công nhận và tiếp thu
khái niệm "Hệ thống Á châu" trong
đúng hai
thập niên từ 1894 tới 1914.
Sau khi tham gia vào phong trào Dân chủ
Xã hội năm 1893, với một
thời gian tương đối ngắn, Lenin đã nghiên cứu
lý thuyết của Marx và
Engels, và đã chấp nhận Phương thức Sản xuất
Á châu là một trong bốn
hình thái kinh tế xã hội đối
kháng [3] . Trong tiểu
luận Die Entwicklung des Kapitalismus in Rußland
(Sự phát triển của chủ nghĩa tư bản tại
Nga) công bố năm 1899, Lenin
cũng đã đề cập tới khái niệm "Hệ thống
Á châu" khi nhận xét các
quan hệ
kinh tế xã hội Nga thời đó. Năm 1900,
ông mô tả chính phủ của Trung Hoa
cổ truyền là chính phủ mang tính
Á châu [4] . Hai năm
sau ông khẳng định tính chất thâm độc
của sự đàn áp Á châu [5]
. Trong những năm 1906-07 ông đã tranh luận gay
gắt với Plechanow, một
nhà Mácxít Nga đại diện cho
nhóm thiểu số (Menschewiki[Wd1]) và lập
luận rất vững chắc về "Hệ thống Á châu"
và đặc tính "bán Á
châu" của xã
hội Nga [6]
. Năm 1911, ông lại nhấn mạnh đăc thù của "Hệ
thống
Đông phương", "Hệ thống Á châu"
và sự "trễ
nải của Đông phương" [7]
. Cùng năm đó, khi xảy ra Cách mạng
Tân Hợi, ông lại đề cập tới "đặc
thù Á châu" của Trung Hoa cổ truyền
và còn gọi nguyên thủ của Trung Hoa
thời ấy là "Tổng thống Á châu" [8]
. Trong một cuộc tranh luận với Rosa Luxemburg năm 1914, ông
đã thống
nhất với bà về chủ nghĩa chuyên chế Á
châu là một hiện tượng bao hàm
mọi khía cạnh kinh tế, chính trị, văn
hoá lịch sử và cả xã hội nữa,
và
ông còn triển khai thêm rằng một trật tự
nhà nước như thế sẽ rất bền
vững ở trường hợp hình thái kinh tế của những
quốc gia mang đậm nét phụ
hệ, tiền tư bản và nền kinh tế hàng
hoá, cũng như sự phân hoá giai cấp
phát triển không đáng kể.
[9]
2. Đệ nhất thế chiến (1914-1918), thời điểm Lenin triệt
tiêu
vĩnh viễn khái luận Phương thức Sản xuất Á
châu của
Marx và Engels
Vào khoảng tháng Mười 1914, Lenin hy vọng rằng
thế chiến sẽ tạo ra
tiền đề để những nhà Xã hội cực đoan
có thể tiến hành một cuộc cách
mạng chính trị xã hội.
Năm 1915, ông tin tưởng rằng đang xuất hiện những tiền đề của
một
sự lật đổ vĩ đại. Để thuyết phục những chiến hữu của mình về
nhận định
táo bạo trên, ông đã viết hai
tiểu luận, một vào năm 1916 - Der Imperialismus
als höchstes Stadium des Kapitalismus (Chủ nghĩa Đế
quốc, giai đoạn tột đỉnh của chủ nghĩa tư bản), và một
vào năm 1917 - Staat und Revolution
(Nhà nước và Cách mạng). Trong hai
tiểu luận này, Lenin không hề nhắc
tới những đặc thù của nền kinh tế Nga, thậm chí
còn nhìn nhận xã hội
Nga như một xã hội Tây phương, với đặc
thù tư hữu sản đóng vai trò chủ
đạo. Chức năng "điều hành công vụ xã
hội" của Nhà nước truyền thống Nga
đã bị triệt tiêu. [10]
Đỉnh cao của sự chia tay với khái luận Phương thức Sản xuất
Á châu
của Lenin được thể hiện rõ nét nhất qua diễn văn
về đề tài "Nhà nước"
của ông vào ngày 11 tháng
Bảy năm 1919 tại Trường Đào tạo Cán bộ
Xô
viết Trung ương. Trong diễn văn, Lenin không hề nhắc nhở
các tham dự
viên tham khảo tất cả những lý luận về chủ nghĩa
xã hội của Marx và
Engels mà đặc biệt chỉ khuyên bảo họ nên
đào sâu những luận điểm của
Engels trong tác phẩm Nguồn gốc gia
đình..., khẳng định đó là
kinh điển đề cập đến Chủ nghĩa Xã hội hiện
đại, [11]
3. Quá trình tranh đấu tư tưởng dứt bỏ
khái luận Phương thức Sản
xuất Á châu - bất chấp hậu qủa của khả năng
tái lập "Hệ thống Á châu"
Xuất phát từ sự đoạn tuyệt với khái luận Phương
thức Sản xuất Á
châu, một sự đoạn tuyệt không có cơ sở
khoa học lý luận mà chỉ vì
sách
lược chính trị phải cướp thời cơ làm
"Cách mạng vô sản tại Nga", nên
Lenin đã dao động trong việc xác định vai
trò của nhà nước. Khi thì
ông
cho là "chuyên chính quan
liêu" [12]
, lúc lại xác định "có khuynh hướng tư
sản, chịu
sự điều khiển của các đại tư bản và
các tầng lớp
quý tộc" [13]
Những phê phán cảnh cáo của Plechanow ở
đại hội Đảng Dân chủ Xã hội tại
Stockholm năm 1906 trước nguy cơ tái lập "Hệ thống
Á châu" dựa vào nền
tảng thừa kế mang tính Á châu của nước
Nga, đã làm cho Lenin dao động
về "Đề cương quốc hữu hoá đất đai" do ông soạn
thảo. Plechanow lập luận
rằng một đường lối chính trị như thế, đáng lẽ
phải cắt bỏ sự ràng buộc
người nông dân với nhà nước qua trung
gian đất đai, lại để tồn tại
những tàn dư của một trật tự xã hội
"bán Á châu" và đương
nhiên tạo cơ
hội tái lập "Hệ thống Á châu" một
cách dễ dàng. [14]
Plechanow còn dẫn luận rằng dự thảo Đề cương của Lenin như
thế có nghĩa
là sẽ thiết lập một chính phủ chuyên
chế được tạo dựng trên cơ sở một
thiểu số giai cấp vô sản quá nhỏ [15]
và chính phủ này sẽ không
có đủ khả
năng ngăn cản được sự tái lập "Hệ thống Á
châu". [16]
Bất chấp mọi ý kiến cảnh cáo về khả năng
tái lập Phương thức Sản
xuất Á châu nếu thực thi chính
sách "quốc hữu hoá đất đai", Lenin quyết
định chấp nhận phiêu lưu, và từ đó
ông luôn tìm cách giảm thiểu
hoặc vô
hiệu hoá ý nghĩa của khái
niêm "gia tài thừa kế Á châu"
của xứ Nga.
Cách mạng tháng Mười thành
công, nhưng Lenin nhận thấy rất nhiều khó
khăn cho việc kiến tạo một nhà nước kiểu mới của chế độ
Công xã (không
có quan liêu, không có
công an và quân đội thường trực). Vượt
qua được
những khó khăn vừa nêu trên -
có nghĩa là ngăn chặn được khả năng
tái
lập "Hệ thống Á châu" - Lenin chỉ hy vọng
vào sự thành công của cuộc
cách mạng tại một hay nhiều quốc gia tiền tiến Tây
phương. Thành quả
của Cách mạng vô sản tại Tây
Âu sẽ hỗ trợ tích cực cho Cách mạng
tháng
Mười. Vì thế, khi cuộc Cách mạng tháng
Mười Một 1918 tại Đức bùng nổ,
Lenin rất vui mừng. Nhưng khi hai nhà cách mạng
Rosa Luxemburg và Karl
Liebknecht bị sát hại vào tháng
Giêng 1919, thì Lenin đã quá
thất vọng
vì lực lượng cách mạng Tây phương
quá yếu và kỳ vọng vào sự hỗ trợ
đã
tan biến. Tại Hội nghị Công đoàn toàn
Nga lần thứ hai, Lenin so sánh,
đánh giá thành quả của cuộc
Cách mạng Pháp và Cách mạng
tháng Mười Nga
và đã để lộ nỗi lo âu về nguy cơ
tái lập "Hệ thống Á châu" [17].
Sau cuộc khởi nghĩa thất bại Kronstadt vào ngày
21.4.1921, Lenin đã
lưu ý về những hiểm họa kỵ xã hội chủ nghĩa
và kỵ
vô sản phát xuất ngay
từ bộ máy quan liêu Xô viết.
Ông không
nêu rõ mối âu lo nhưng đã
ám chỉ
cho biết "Chủ nghĩa xã hội ưu việt hơn chủ nghĩa tư bản,
nhưng
chủ
nghĩa tư bản lại ưu việt hơn trật tự trung cổ, nền tiểu sản xuất
và sự
gắn bó chặt chẽ của hệ thống quan liêu với nền
tiểu sản
xuất". [18]
4. Các nhà Mácxít
hàng đầu của
Liên Xô tranh luận về Phương thức Sản xuất
Á
châu
Chỉ khoảng một năm sau khi Lenin qua đời, nhóm
"lý thuyết gia
Mácxít" từng chia sẻ với Lenin về khái
luận Phương thức Sản xuất Á châu
đã nhận thấy tính thức thời của khái
luận vừa đề cập của Marx và Engels
nhân một lọat sự kiện xảy ra tại Trung Hoa vào
những năm đầu và gần
cuối thập niên hai mươi. [19]
Năm 1925, Rjasanow, giám đốc Viện Marx-Engels của Nga thuở
ấy, đã
công bố nhiều tiểu luận của Marx về Ấn Độ và Trung
Hoa. Trong phần dẫn
nhập, ông này đã dẫn giải những quan
điểm của Marx về xã hội Á châu
và
Phương thức Sản xuất Á châu [20]
. Cùng trong năm, kinh tế gia hàng đầu của Nga
thuở ấy, Varga, đã dẫn
giải rằng những công trình xây đắp bảo
vệ đê điều, dẫn thủy nhập điền
tạo năng xuất sản xuất do chính phủ Trung hoa điều
hành thể hiện nền
tảng căn bản của xã hội Trung Hoa, và
chính những quan lại có học hàm
học vị quản lý, các quan văn (die literati), chứ
không phải đại diện
giới hữu sản, chẳng hạn như giai tầng chiếm hữu ruộng đất,
là biểu
tượng cho giai cấp thống trị của Trung Hoa thời đó - "một
giai cấp
thống trị kiểu độc đáo" [21] Trong một
bài báo khác đăng trên tờ Bolschewik,cơ
quan lý luận của Đảng Cộng sản Liên Xô,
Varga lại nhấn mạnh xã hội
truyền thống Trung Hoa là một xã hội Á
châu, mà trong xã hội này
các
nông dân, chủ hữu sản và tá
điền đều có những tư thế khác hẳn với
các
nông nô trong xã hội phong kiến. [22]
Cương quyết bảo vệ khái luận Phương thức Sản xuất
Á
châu, Varga còn yêu cầu có
những cuộc tranh
luận sâu sắc hơn nữa.
Cuộc tranh luận cuối cùng cũng được tổ chức tại Leningrad
vào tháng Hai năm 1931.
Thời điểm xảy ra cuộc tranh luận vào đúng
lúc vừa kết thúc giai
đọan công hữu và tập thể hóa
mà những người của bộ máy quan liêu
dưới
quyền của Stalin đã củng cố được địa vị chắc chắn của ho,
đồng thời
cũng để kịp thời chuẩn bị thanh trừng các "lão
thành cách mạng". Điều
này cũng giải thích được tại sao các
"lão thành" như Rjasanow, Varga,
Bucharin, v.v... không được thông báo
tham dự.
5. Cuộc tranh luận tại Leningrad về Phương thức Sản xuất
Á châu
Những biến động tại Trung Hoa vào những thập niên
hai mươi và ba
mươi đã làm nổi cộm vấn đề định hướng
cách mạng, tiến hành Cách mạng
Dân chủ Tư sản hay "đốt cháy" giai đoạn tư bản chủ
nghĩa rồi tiến thẳng
lên Cách mạng Xã hội Chủ
nghĩa với sự giúp đỡ của Đệ tam Quốc tế.
Ngoài
ra, từ khoảng giữa thập niên 20, Stalin luôn khẳng
định xã hội Trung
Hoa là "bán phong kiến". [23]Thôi
thúc bởi tình hình thế giới
vào thời điểm
đó, như trên đã nêu,
và
mâu thuẫn giữa Trotzky "permanente Revolution"
(Cách mạng
thường trực)
và Stalin "Sozialismus in einem Land" (Chủ nghĩa
Xã hội
tại một nước),
nên đã có những cuộc tranh luận về
Phương thức Sản
xuất Á châu tại
Leningrad.
Nhóm phê phán khái luận
Phương thức Sản xuất Á châu đã đưa ra 3
lập luận căn bản:
- Sẽ là phi Mácxít nếu chấp
nhận bộ máy
quan liêu mang chức năng "điều hành công
vụ
xã hội" là giai cấp thống trị.
- Đả phá quan điểm lý giải với nội
hàm Á châu, quan liêu về
giai tầng quý tộc hạ đẳng Trung Hoa, Hoàng tộc,
Vọng tộc, bộ máy quan
liêu văn võ.
- Khẳng định rằng lý thuyết về Phương thức Sản
xuất Á châu
sẽ gây tác hại lớn cho công
tác của Quốc tế Cộng sản tại các quốc gia
thuộc địa và bán thuộc địa. [24]
Tại các cuộc tranh luận này, người ta
không đặt vấn đề lý luận khoa học mà
chỉ
chú trọng ý nghĩa chính trị của
nó [25]
Phe bảo vệ Phương thức Sản xuất Á châu thuộc
nhóm
thiểu số, do đó
luận điểm coi Phương thức Sản xuất Á châu
là một
hình thái kinh tế xã
hội độc lập đã không được chính thức
nhìn
nhận. Tuy nhiên, từ các cuộc
tranh luận trên, người ta cũng thấy được ý nghĩa
chính trị của nó. Cụ
thể là cuộc tranh luận Leningrad không được
công bố
trên báo chí Quốc
tế Cộng sản, và nội dung tranh cãi của hội thảo
Leningrad
cũng không
được bàn thảo sâu rộng tại các Đảng
Cộng sản
ngoài Liên Xô, đặc biệt
tại các quốc gia thuộc địa hay bán thuộc địa
Á
và Phi, bởi vì họ sợ lý
thuyết Phương thức Sản xuất Á châu sẽ biện luận
cho quan
điểm của Marx
và Engels cho rằng sự hiện diện của Tư bản Chủ nghĩa
Tây
phương tại các
thuộc địa không phải chỉ có đàn
áp,
bóc lột mà còn có vai
trò
đóng góp
"xây dựng" [26]
. Do đó, nếu các nhà lãnh
đạo các phong trào giải thực tại các
quốc gia
thuộc địa và bán thuộc địa "thấm nhuần"
lý thuyết trên, có thể sẽ
không
chấp nhận, thậm chí chống đối những đường lối chỉ đạo của
Quốc tế Cộng
sản, liên đới tới sự nghiệp giải phóng của họ. Từ
vai trò đồng minh
chiến lược có rất nhiều khả năng để trở thành đối
thủ chiến lược, nếu
"vũ khí Phương thức Sản xuất Á châu" để
thất thoát ra những quốc gia đã
đề cập này. [27]
6. Các sử gia và lý thuyết
gia
Mácxít Việt Nam và khái
luận Phương thức
Sản xuất Á châu
Khái luận Phương thức Sản xuất Á
châu và
định đề "năm hình thái kinh tế xã hội"
của Stalin [28]
Tất cả những đặc thù mà Marx và Engels
đã nghiên cứu về xã hội Á
châu và đã khẳng định đó
là một hình thái kinh tế xã
hội độc lập, đều
được các sử gia và các nhà
lý luận Mácxít Việt coi như một sự
mô tả đặc
biệt của chế độ chiếm hữu nô lệ hoặc chế độ phong kiến
Á châu. Tại đây,
tĩnh từ Á châu của Marx và Engels nằm
trong phạm trù một hình thái kinh
tế xã hội dựa vào chế độ công
hữu tài sản bộ tộc [29]
được gán ghép vào một hính
thái kinh tế xã hội dựa vào chế độ tư
hữu tài sản. [30]Nguyễn
Lương Bích, một sử gia Mácxít,
đã biện luận
khái luận Phương
thức Sản xuất Á châu của Marx và Engels
chẳng qua
là chế độ chiếm hữu
nô lệ Á châu, mà ở
đây khái niệm
nô lệ Á châu chính
là khái niệm
“nô lệ
phổ biến” Marx đã đề cập. [31]
Lập luận này cho thấy vẫn còn dính
chặt vào định đề “năm hình
thái”.
Khái niệm “nô lệ phổ biến Phương
đông” của Marx cho thấy quan hệ của
những người sản xuất trực tiếp, cụ thể là những
nông dân Á châu, với sở
hữu chủ ruộng đất Đông phương, mà ở đây
Marx nhấn mạnh nông dân đồng
thời “au fond” (căn bản) cũng là
tài sản chiếm hữu, bởi vì tất cả ruộng
đất tại các xã hội Á châu về
danh nghĩa đều là tài sản Nhà nước [32]
. Các cộng đồng xóm làng chỉ
là những chủ nhân của quyền sử dụng điền
thổ, cho nên tất cả nông dân đều
là nô lệ của Nhà nước, bị bộ
máy quan
liêu tước đoạt thành quả lao động thặng dư qua
những phương thức áp chế
phi kinh tế. [33]
Marx và Engels chỉ muốn dùng khái niệm
“nô lệ phổ biến Đông phương” để
biểu hiện quan hệ giữa Nhà nước chuyên chế với
khối quần chúng nông
dân: quan hệ “người bóc lột
người” tại Đông phương.
Họ không chịu hay không dám
nghiên cứu, phân tích những đặc trưng
của Phương thức Sản xuất Á châu tồn tại trong
xã hội Việt Nam, mà ngay
từ đầu chỉ tìm cách sắp
xếp, gán ghép những đặc trưng đó
vào
hình thái “Xã hội
Nô lệ” hoặc
“Xã hội Phong kiến” mang sắc
thái Á
châu. [34]
Họ đã vô tình hay cố ý bỏ
qua những luận điểm cảnh cáo của Marx về một
sự nhầm lẫn cố ý cho rằng trật tự nông
nghiêp Á châu do nhà nước
quản
lý nằm trong phạm trù hình
thái kinh tế "Nô lệ" hay "Phong kiến". [35]
Phương thức Sản xuất Á châu, một
hình thái kinh tế xã hội đối
kháng, đã tồn tại trong suốt chiều dài
của lịch sử Việt Nam cho tới
thời Pháp thuộc
Tất cả các đặc trưng của Phương thức Sản xuất Á
châu như Marx đã phác thảo [36] đều thấy
nổi bật tại Việt Nam:
- Không tồn tại tư hữu sản ruộng đất được
nhà nước bảo đảm tính cách độc lập. [37]
- Nền kinh tế tiểu nông mang đậm tính
chất tự cung tự cấp
dựa trên nền tảng sở hữu công cộng ruộng đất của
xóm làng gắn liền với
nghề thủ công gia đinh. Thực sự thì quyền tối cao
duy nhất về ruộng đất
là quyền vương hữu. [38]
- Vì lý do địa dư và
khí hậu nông nghiệp tại Đông phương
nói
chung và Việt Nam nói riêng cần phải
có những công trình thủy lợi quy
mô. Xây dựng bảo vệ những công
trình đê điều, hệ thống dẫn thủy nhập
điền, chống úng thủy, vv..., tạo và tăng năng
suất sản lượng nông
nghiệp ở cả một khu vực rộng lớn không thể là
công việc của một cá nhân
hay một làng, một phủ huyện mà phải cần một trung
tâm quyền lực mạnh
đóng vai trò “điều hành,
quản lý” (manageriale Funktion). [39]
- Chính vì những điều kiện sản xuất
thiên nhiên của Việt Nam
và nhu cầu tổ chức đời sống xã hội như
trên đã mô tả mà một
nhà nước đã
ra đời với chức năng “điều
hành công vụ xã
hội”. Hạ tầng cơ sở của
Phương thức Sản xuất Á châu tại Việt Nam
đã buộc xã hội phải có một
thượng tầng tương ứng: đó chính là nền
chuyên chính Đông phương, hay
diễn tả một cách khác, là chế độ
“chuyên chế tập quyền quan
liêu”. [40]Bộ
máy quan liêu này trong suốt chiều
dài của
lịch sử Việt Nam cho tới
thời kỳ Pháp thuộc đã có khả năng tước
đọat những
sản phẩm thặng dư của
công xã nông thôn qua những
phương thức
áp chế phi kinh tế và mặc nhiên
nắm quyền thống trị. Bộ máy quan liêu
này và
cấu trúc công xã nông
thôn
thấm đậm tính chất thị tộc [41]
mà về khía cạnh kinh tế là đối
kháng, nhưng
về mặt chính trị xã hội lại
nhượng bộ nhau ở một giới hạn nhất định. Công xã
nông thôn có những “lệ
làng” riêng mà nhà
nước không
quan tâm tới. Chỉ khi nào
“gió nổi can
qua” cát cứ địa phương, nhà nước sẽ
thẳng tay
đàn áp. Phương tiện sản
xuất - ruộng đất - thuộc quyền vương hữu tuyệt đối. Nhà nước
không bao
giờ dung tha khuynh hướng chiếm hữu ruộng đất biến thành tư
điền
tư thổ
mang tính triệt để.
Phương thức Sản xuất Á châu trong thời kỳ
Pháp thuộc
Khoảng những thập niên đầu của chế độ thuộc địa là
thời kỳ thực dân
Pháp ổn định nền cai trị tại Việt Nam. Bình định
về quân sự, tiến hành
xây dựng một số công trình có
tính cách chiến lược như thiết lập tuyến
đường hỏa xa, trục lộ giao thông cho các loại xe
cơ giới lên vùng cao
nguyên, v.v…
Khoảng đầu thế kỷ 20, nguồn tư bản Pháp mới đổ
vào Việt Nam nhưng
không nhằm mục đích canh tân
hóa thuộc địa mà chỉ muốn bóc lột.
Chương
trình đầu tư, ngân sách dành
cho xây dựng hạ tầng cơ sở tại thuộc địa
được duyệt y, nhưng nặng sắc thái chính trị,
tài chính hơn là ý nghĩa
kinh tế. Một bộ máy quan liêu quá cỡ
đã được thành hình. [42]
Chế độ thuộc địa dưới thời Toàn quyền Doumer (1897-1902)
được thể hiện
qua hai tính chất: tạo cơ sở đầu tư cho tư bản
tài chính và hình
thành
một tầng lớp quan lại thực dân cai trị.
Tư bản đầu tư tại Việt Nam không nhằm mục đích
đáp ứng nhu cầu kinh
tế của thuộc địa, mà nhắm vào đạt lợi nhuận cấp
thời cho các nhà đầu tư
Pháp. Thực dân Pháp không
quan tâm thật sự đến sự phát triển thuộc địa.
Nhịp độ, định hướng phát triển một số lãnh vực
như các tuyến hỏa xa,
khai thác mỏ, v.v... cho thấy tính
cách bất bình thường [43]
. Lợi nhuận tư bản Pháp thu được không được đầu tư
trở lại tại Việt
Nam, mà được chuyển ra ngoại quốc. Việt Nam trước sau chỉ
là một thị
trường tiêu thụ hàng hóa của
chính quốc. Hàng công nghiệp của
chính
quốc đưa sang tiêu thụ tại Việt Nam đã
gây 3 tác hại cho nền kinh tế
thuộc địa:
- Qua sự cạnh tranh hàng hóa của
chính quốc
nền thủ công của bản địa đã phần nào bị
suy
thóai. [44]
- Ngăn cản sự xây dựng một nền công
nghiệp hiện đại năng xuất cao với vốn của tư bản phương Tây. [45]
- Kìm hãm sự phát triển của
nền công nghiệp với tư bản bản địa. [46]
Những
lập luận trên cho ta thấy mặc dù nguồn tư bản
Pháp chảy vào Việt Nam,
nhưng phương thức sản xuất tư bản không thật sự triển khai
có bài bản
sâu rộng tại thuộc địa. Nó đã biến
thái. [47]
Nền kinh tế tiền tệ, bước đầu xây dựng nền công
nghiệp, xuất hiện những
khu vực canh tác nông nghiệp rộng lớn
kèm theo những ảnh hưởng tư tưởng
Tây phương đã làm cho xã hội
truyền thống Việt Nam xáo trộn ở một mức
độ khá lớn nhưng không hoàn
toàn xóa bỏ triệt để được Phương thức Sản
xuất Á châu. [48]
Về chế độ chiếm hữu ruộng đất, chỉ còn tồn tại loại
công điền công
thổ. Các lọai lộc điền, quân điền đã
được tư hữu hóa hoặc khoán nhượng.
Tuy nhiên, phương thức phát triển tư điền buổi ban
sơ không thông qua
bóc lột. Sự hình thành của
nó thể hiện qua mấy phương cách sau
đây:
- Điền thổ được nhà nước thực dân tặng
cho các cộng sự viên
đắc lực trong quá trình ổn định nền thống trị của
thực dân Pháp tại
Việt Nam.
- Ruộng đất thuộc công xã trước kia nay
bọn quan lại
triều đình cũ hay đám cường hào nơi
xóm
làng cưỡng chiếm làm tư điền.
- Đất đai được chính quyền thực dân
nhượng quyền sử dụng. [49]
Diện
tích công điền, công thổ của
các công xã nông
thôn đã bị thu hẹp lại
tương xứng. Tại miền Bắc, theo thống kê chỉ còn
lại 20% công điền, miền
Trung 25%. Ở những công xã nông
thôn ven biển tỉ lệ công điền cao hơn,
đạt 77,5%. [50]
Nhìn chung, nền tiểu nông, gắn bó với
thủ công gia đình tại các
công xã nông thôn miền Bắc
và miền Trung, trong thời gian Pháp thuộc,
vẫn đóng vai trò chủ đạo. [51]
Nền thủ công xóm làng vẫn sử dụng sức
lao động nơi thôn dã là
chính và
phục vụ cho nền kinh tế tự cung tự cấp. Sản phẩm nhằm thỏa
mãn nhu cầu
xóm làng. Một phần rất nhỏ sản phẩm được đưa tới
chợ do người sản xuất
trực tiếp mang đi trao đổi. Người ta không bao giờ nghĩ tới
kiếm nhiều
lợi tức bằng cách cải tiến vật liệu hay đầu tư sức lao động
nhiều hơn. [52] Thị trường
không phải là mục tiêu của sản phẩm
thặng dư.
Tại các công xã nông
thôn, người ta nhận thấy từ thời Pháp thuộc
và
sau khi hình thành một cơ chế chiếm hữu đại điền
địa đã tồn tại một
quan hệ sản xuất của một tầng lớp sở hữu tư điền bóc lột
nông dân không
được bắt nguồn từ quá khứ. Chế độ chiếm hữu ruộng đất với
quy mô rộng
lớn được ra đời do sự thâu tóm các loại
lộc điền, quân điền, công điền
công xã, sau cùng là ruộng
đất của trung bần nông. Chính quyền thực
dân
buổi ban đầu đã ủng hộ khuynh hướng hình
thành cơ chế ruộng đất này do
tinh thần hình thức của luật nước Pháp
và do vô ý thức. [53]
Thực tế đã cho thấy cơ cấu đại điền địa về phương diện kinh
tế đã không
có hiệu quả nhiều, nên về sau chính
quyền Pháp dự tính dùng luật để
triệt tiêu cơ chế chiếm hữu kiểu đại điền địa này
và chia cho tiểu nông
gia. [54]
Như thế đủ biết phương thức sản xuất kiểu đại điền địa này
không đủ
mạnh đẩy lùi được Phương thức Sản xuất Á
châu trong thời gian Pháp
thuộc. Công xã nông thôn vẫn
tồn tại với cơ chế tự cung, tự cấp và cấu
trúc chính trị làng xóm vẫn
không thay đổi. Đại diện cho làng xóm
vẫn
là anh lý trưởng, thực thi những nhiệm vụ truyền
thống như thu thuế và
chịu trách nhiệm với chính quyền thuộc địa về
các công vụ xã hội như
trong quá khứ. Hội đồng hương chánh, kỳ mục
và các chức sắc tại các
làng xóm vẫn hoạt đông như xưa. Bộ
máy quan lại của triều đình vẫn được
sử dụng nhưng dưới quyền kiểm sóat của các quan
thực dân.
Duy trì Phương thức Sản xuất Á
châu ở giai đoạn 1945-1954
Nhìn chung, chính quyền thực dân, tầng
lớp tân địa chủ, các quan
lại triều đình cũ, các chức sắc nơi
xóm làng đã tước đọoạt
thành quả
lao động thặng dư của xã hội qua các lọai thuế
khóa. Nông dân bị bóc
lột qua tô tức cũng như công sai cho
chính quyền thuộc địa và tạp dịch
cho các địa chủ lớn nhỏ. Như vậy, ta thấy trong
xã hội Việt Nam thời
Pháp thuộc đã tồn tại song song 2 phương thức sản
xuất: phương thức sản
xuất thuộc địa và phương thức sản xuất Á
châu đã bị suy yếu, vẫn trễ
nải trong quá trình triệt tiêu để
nhường chỗ cho một phương thức sản
xuất với cấu trúc tư hữu hóa một cách
triệt để về kinh tế nói chung và
về ruộng đất nói riêng. [55]
Vào giai đoạn đầu của cuộc trường kỳ kháng chiến,
hình thái kinh tế
xã hội Việt Nam vừa thoát thai khỏi chế độ thuộc
địa không có một sự
thay đổi nào đáng đề cập. Phương thức sản xuất
vẫn mang đậm tính “bán Á
châu”. [56]
Trong quá trình chiến tranh giải
phóng, để động viên tầng lớp nông
dân
cống hiến cho cuộc Kháng chiến, một số chính
sách ruộng đất đã được
thực thi [57]
, đồng thời cũng nhằm tăng năng xuất sản lượng phục vụ cho cuộc chiến.
Một cuộc cải cách ruộng đất thật sự triệt để chưa
có thể tiến hành được
vì ly do chiến cuộc.
Ở thời điểm khi cuộc kháng chiến chuyển sang giai đọan quyết
định,
khẩu hiệu “người cày có
ruộng” được thực thi.
Người nông dân canh tác
đã nhận được ruộng đất phân chia . Nhưng mục
tiêu
thực sự của cuộc cách
mạng nông nghiệp là giải phóng sức sản
xuất nơi
thôn xóm ra khỏi cấu
trúc truyền thống, có nghĩa là cấu
trúc
đã suy thoái của Phương thức
Sản xuất Á châu hay cấu trúc
“bán
Á châu”, đã không
được coi trọng.
Thật sự nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng
hòa
lúc đó chỉ muốn đạt được một
tác dụng tâm lý nơi tầng lớp
nông dân
để họ dồn hết nhân, vật lực cho
giai đoạn dứt điểm của cuộc chiến.
Phục hồi Phương thức Sản xuất Á châu sau
1954
Tiến hành một cuộc cách mạng nông
nghiệp triệt để là cần thiết ở
vào giai đoạn lịch sử sau 1954, nhưng phải dựa
trên phân tích
Mácxít
chính thống về sự phát triển các
hình thái kinh tế xã hội. [58]
Khi Marx và Engels nghiên cứu các
xã hội nông nghiệp như Trung Hoa
và Ấn Độ, hai ông đã quan tâm
rất nghiêm túc tới những đặc điểm về cấu
trúc điền địa của những xã hội này.
Khi Marx phát hiện hai hình thức sở
hữu điền địa do thực dân Anh kiến tạo tại Ấn Độ,
ông đã mô tả hai kiểu
tư hữu điền địa “Samindari” và
“Raiatwairi” là những hiện tượng
ghê
tởm, nhưng đó lại là hai hình thức tư
hữu ruộng đất nổi trội mà các xã
hội đậm nét Phương thức Sản xuất Á châu
cần phải có. [59]
Mục tiêu chính của cuộc cách mạng điền
địa tại các xã hội với Phương
thức Sản xuất Á châu là giải
phóng lực lượng sản xuất ra khỏi sự kìm
kẹp của cấu trúc Phương thức Sản xuất Á
châu, nâng cao sức sản xuất
nông nghiệp, chứ không phải tiền hành
một cuộc đấu tranh giai cấp tại
nông thôn. Theo quan điểm của Marx thì
sự hình thành các giai cấp đối
kháng nằm trong phạm trù bóc lột cổ
điển tại các xã hội mà Phương thức
Sản xuất Á châu rất mờ nhạt, thậm chí
không xuất hiện. [60]
Do không thấm nhuần khái luận Phương thức Sản xuất
Á châu của Marx nên
đã có lầm lẫn mâu thuẫn giữa quan hệ
thống trị với các tầng lớp bị trị,
với mâu thuẫn kinh tế đối kháng giữa giai cấp sở
hữu điền địa với tầng
lớp nông dân. [61]
Sau khi chia ruộng đất, người nông dân chỉ được
hưởng quyền chủ sử
dụng, còn trên danh nghĩa sở hữu vẫn thuộc
nhà nước. Trong khi đó, việc
thực thi khẩu hiệu “người cày có
ruộng” phải nhằm mục đích tư hữu hóa
triệt để, vốn là điều kiện tiên quyết để giải
phóng sức sản xuất, công
phá nền tảng kinh tế của Phương thức Sản xuất Á
châu, nâng trật tự nông
nghiệp lên một mức cao hơn trước. [62]
Sau khi kết thúc đợt đầu tiên về cải
cách ruộng đất vào năm 1955,
nhà nước đã bắt đầu tiến hành dần tập
thể hóa và quốc hữu hóa đất đai.
Thành lập hợp tác xã nông
nghiệp, và cao hơn một mức là các
nông trường
tập thể. Tất cả đã được kiến tạo kèm theo một
chiến dịch vận động trên
qui mô toàn quốc, và do không
khai phóng được tư duy khi phân tích
hình
thái kinh tế xã hội nên đã
giáo điều rập khuôn, mà hậu quả đẫm
máu của
cải cách ruộng đất đã quá hiển
nhiên. [63]
Tập thể và công hữu hóa nền kinh tế
dưới các hình thức khác nhau, đặc
biệt trên lãnh vực nông nghiệp, theo
quan điểm của các nhà lãnh đạo
Đảng, là điều kiện tiên quyết, cần thiết để kiến
tạo một quan hệ sản
xuất mới. [64]
Một hạ tầng cơ sở với Phương thức Sản xuất Á châu
không bị phá vỡ,
ngược lại còn được phục hồi, thì nhà
nước Xã hội Chủ nghĩa bắt buộc
phải biến thái sang một nhà nước chuyên
chế quan liêu của một thiểu số
hưởng đặc ân, thống trị, bóc lột toàn
bộ các tầng lớp nhân dân còn
lại
kể cả giai cấp công nhân. Như vậy, quá
trình phục hồi Phương thức Sản
xuất Á châu sẽ tạo nên một
nhà nước toàn trị quan liêu
và một tập thể
nô lệ phổ thông như Marx đã dự
phòng, [65]
và cả Lenin trước Cách mạng tháng Mười
cũng đã đấu tranh tư tưởng rất
nhiều. Hậu quả của sự “phục hồi Phương thức Sản xuất
Á châu”, đặc biệt
tại Nga nói riêng, tại Liên Bang
Xô Viết trước kia nói chung, đã dẫn
tới sự cáo chung của Liên Xô
và theo sau là cả một khối trên thực tế
đã
tồn tại và được ngộ nhận là Xã hội Chủ
nghĩa.
Tháng 12.2005
© 2005 talawas
[1]Ở
đây không đề cập đến những nhà
Mácxít thuộc hai trường phái
khác nhau
của Đệ nhị Quốc tế tiêu biểu như Kautsky và
Bernstein. Vì Lenin ngay từ
buổi ban đầu đã tiếp thu rõ nét
khái luận “Phương thức Sản xuất Á
châu“
của Marx và Engels, nên người viết bài
này chỉ đề cập đến Lenin và
những nhà Mácxit Nga cùng thời
và sau khi Lenin tạ thế.
[2]Trong
tác phẩm Der Ursprung…, MEW,
Bd. 21, Berlin, 1969 (Nguồn gốc gia đình…,
Toàn tập, tập 21), Engels hầu như không nhắc đến
Phương thức Sản xuất Á
châu. Nổi bật của tác phẩm là những
ý tưởng chính Engels dựa vào
ý
tưởng của Morgan Lewis H. trong tác phẩm Ancient
Society or Researches…. through Barbarism to Civilisa-tion,
Chicago, 1877 (Xã hội Cổ Đại hay Khảo cứu… qua
những thời đại man dại
đến thời văn minh) có kết hợp với một số quan điểm của Marx.
Khi đề cập
đến nguồn gốc nhà nước, Engels đã cố ý
quên đi đặc thù „điều hành
công
vụ xã hội“ (gesellschaftliche
Amtstätigkeit oder manageriale Funktion),
nền tảng của sự thống trị chính trị nói chung
và của nền chuyên chế
Đông phương nói riêng. Xem Karl A.
Wittfogel, Die Orientalische Despotie,
Köln/Berlin, 1962, bản chánh tiếng Anh: Oriental
Despotism (Nền Chuyên chê Đông
phương), trang 479.
[3]Lenin,
Werke, Berlin, 1961/65, Bd.1, (Lenin,
Toàn tập, tập 1), trang 121.
[4]Sđd.,
tập 3, trang 56.
[5]Sđd.,
tập 6, trang 43.
[6]Sđd.,
tập 13, trang 300+.
[7]Sđd.,
tập 17, trang 31.
[8]Sđd.,
tập 18, trang 145.
[9]Lenin,
Ausgewählte Werke,
2 Bde, Bd.1, Berlin, 1955 (Tuyển tập, 2 tập, tập 1, trang 679). Với lập
luận này, Lenin đã thấm nhuần sâu sắc
khái luận Phương thức Sản xuất Á
châu của Marx và Engels.
[10]Lenin,
Toàn tập, sđd., tập 25 và 22.
[11]Lenin,
Vortrag über den Staat,
Berlin, 1929, (Diễn văn về Nhà nước). Lenin dùng
khái niệm „Chủ nghĩa
Xã hội hiện đại“ (moderner Sozialismus) chứ
không dùng khái niệm „Chủ
nghĩa Xã hội khoa học“ (wissenschaftlicher
Sozialismus) như các tiền
bối đã từng phân tích và
đúc kết thành hệ thống lý luận.
[12]Lenin,
Toàn tập,
sđd., tập 5, trang 271, 275. Marx là một lý
thuyết gia; Lenin, tuy có
viết nhiều tác phẩm, nhưng nhìn chung
thiên về phần chiến lược và chiến
thuật.
[13]Lenin,
Sđd., tập 4, trang 350.
[14]Plechanow,
G., Protokoll des VereinigungsParteitags der RSDAP in
Stockholm 1906,
Moskau, 1907, (Biên bản Đại hội Đảng thống nhất
Công
nhân Xã hội Dân chủ Nga, 1906 Mạc Tư
Khoa), trang
116.
[15]Vào
thời điểm Cách mạng tháng Mười, nước Nga mới
có độ chừng 3 triệu công
nhân công nghiệp (bao gồm cả công
nhân lưu manh „Lumpenproletarier“?)
so với dân số lúc đó khoảng chừng 140
triệu. Đến 1921, trải qua nội
chiến, chỉ còn lại khoảng ¼ triệu.
Chính Lenin cũng phải thú nhận rằng
„giai cấp vô sản Nga đã bị xem hầu như
không tồn tại nữa“ (xem: John
Molyneux, Was ist Marxismus? [Chủ nghĩa
Mác là gì?]) mạng
linksruck.de/zeitung/archiv. Trong khi đó, theo học thuyết
của Marx và
Engels giai cấp công nhân phải chiếm đa số tổng
dân số (ungeheure
Mehrzahl) và còn không chủ hữu một
chút tài sản nào trừ sức lao động
thì mới tạo cách mạng vô sản được (xem:
Marx và Engels, Das Kommunistische Manifest,
1848, [Tuyên Ngôn Cộng Sản], 1848). Lenin
đã lấy
giai cấp nông dân (5/6 dân số, 70%
mù chữ)
thay thế (Xem: W. Leonhard, Die Dreispaltung des Marxismus
[Tam
hướng phân hóa chủ nghĩa Mác],
Düsseldorf/Wien, 1970) và đặt vấn đề
„liên
minh“, chỗ dựa cho giai cấp vô sản quá
ít ỏi.
[16]Xem
Plechanow, Sđd., trang 45.
[17]Lenin,
Toàn tập, sđd., tập 28, trang 401.
[18]Lenin,
Tuyển tập, sđd.,tập 2, trang 846.
[19]Điển
hình là phong trào 4.5.1919 chống lại
Hiệp ước Versailles mà theo đó
nước Đức đã phải nhường lại tất cả những nhượng địa của họ
tại Trung
Hoa cho Nhật. Năm 1927, 1928, Tưởng Giới Thạch đàn
áp cách mạng tại
Thượng Hải, lập chính phủ tại Nam Kinh, hành
quân chiếm Bắc Kinh. Năm
1923, Xô Viết Nga giúp đỡ Tôn Nhật
Tiên. Stalin ủng hộ tất cả các
khuynh hướng tại Trung Hoa. Xem Jacques Gernet, Die
chinesische Welt (chính bản: Le Monde
chinois [Thế giới Trung Hoa], Paris, 1972), Frankfurt am Main
1979, trang 647+, 506.
[20]Rjasanow,
D., „Einleitung zu: Karl Marx: Über China und
Indien“, 1925, in Unter dem Banner des Marxismus,
Moskau-Wien-Berlin, I. Jahrgang, (Dẫn nhập trong luận văn
công bố các
tiểu luận của Marx bàn về Ấn Độ và Trung Hoa,
trong tạp chí Dưới ngọn cờ của chủ nghĩa
Mác), trang 270+.
[21]Varga,
xem Inprekorr (Internationale Presse-Korrespondenz), 1925, Berlin-Wien
(Trao đổi Thông tin Báo chí Quốc tế),
trang 2270.
[22]Varga,
Sđd., 1928, trang 19+.
[23]Xem:
Stalin Werke,
Berlin, 1973, Bd. 15, „Über dialektischen und
historischen
Materialismus“ in „Geschichte der Kommunistischen
Partei der
Sowjetunion“ – kurzer Lehrgang (Stalin
Toàn tập, tập 15, “Duy vật biện
chứng và duy vật lịch sử“ –
Tài liệu chỉnh huấn ngắn hạn).
[24]Khái
luận Phương thức Sản xuất Á châu có khả
năng tạo cho các nhà lãnh đạo
quốc gia các phong trào giải thực nhận thức được
chủ nghĩa tư bản với
vai trò „Cứu rỗi“ (Messias) mang
tính tích cực cho các quốc gia nằm
trong khu vực Phương thức Sản xuất Á châu đang trễ
nải trên đường phát
triển tiến hóa. Do đó, có thể sẽ bất
tuân những chỉ đạo của Quốc tế
Cộng sản hoặc thậm chí ly khai. Về vai trò
„Cứu rỗi“ của chủ nghĩa tư
bản, xem Die britische Herrschaft in Indien (Sự
thống trị của
Anh quốc tại Ấn Độ), Marx quan niệm rằng chủ nghĩa tư bản phải giải
phóng những xứ còn nửa man dại nửa văn minh ra
khỏi cái gông cùm khởi
thủy (primäres Joch) mang tính hoang dại như
„phủ phục trước con bò,
giết người để cúng tế như ở Ấn Độ“,
v.v… Xem: Marx, Die künftigen Ergebnisse
der britischen Herrschaft in Indien (Những hệ quả tương lai
của sự thống trị Anh tại Ấn Độ), sđd, tập 9.
[25]Xem:
Wittfogel, Sđd., trang 501.
[26]Xem:
Marx, Die künftigen Ergebnisse…
(Những hệ quả…), sđd, trang 221. Sau khi phân
tích lịch sử tiến triển
của Ấn Độ và khẳng định chỉ là những
quá trình tiếp nối của các cuộc
thôn tính lẫn nhau mà hình
thái kinh tế xã hội không hề thay đổi,
Marx
đã nói vấn đề đặt ra ở đây
không phải là xem người Anh có quyền đi
xâm
chiếm Ấn Độ hay không, mà là lựa chọn
người nào, Thổ, Nga, Ba Tư, hay
Anh thích hợp hơn cho một cuộc cách mạng
xã hội mang ích lợi cho Ấn Độ
đứng trên quan điểm tiến hóa của nhân
loại.
[27]Cuối
năm 1927 kiến thức về Phương thức Sản xuất Á châu
đã được thể hiện
trong Đề cương Nông nghiệp của Đảng Cộng Sản Trung Hoa, được
Hội nghị
Ban chấp hành Trung ương tháng Mười Một
thông qua. Nhưng đến Đại hội
Đảng lần thứ sáu được tổ chức tại Mạc Tư Khoa vào
khoảng tháng 6,
7.1928 thì khái luận Phương thức Sản xuất
Á châu đã bị gạt bỏ và phải
nhường chỗ cho luận điểm „quan hệ ruộng đất phong
kiến“. Hiển nhiên đây
là một sự áp chế của Đệ Tam Quốc tế. Xem: Felber,
R. „Asiatische oder
feudale Produktionsweise in China“ in Zeitschrift
für Geschichtswissenschaft
19. Jahrgang, Heft 1,Berlin, 1971 („Phương thức sản xuất
Á châu hay
Phong kiến“, trong Tạp chí Khoa học Lịch sử - Năm
thứ 19, cuốn 1) trang
79+.
[28]Stalin,
Toàn tập, tập 15, sđd, trang 156.
[29]Xem:
Marx, Grundriß der Politischen Ökonomie (Khái
quát Kinh tế Chính trị luận), Frankfurt/Wien, tr.
376.
[30]Xem:
Marx, Sđd.,
tr. 392, 395; Marx triển khai rất rõ từ chế độ
công hữu tài sản bộ tộc
phát triển tới chế độ tư hữu tài sản - chiếm hữu
nô lệ và phong kiến -
hình thái kinh tế Phương thức Sản xuất
Á châu phát triển rất trễ nải do
sự gắn bó quá bền chặt giữa tiểu nông
và thủ công gia đình.
[31]Nguyễn
Lương Bích, Đào Tử Khải, Lê Trọng
Khanh, v.v..., Tạp chí Nghiên cứu lịch sử,
Hà Nội, 10.1960. Các sử gia này khẳng
định là lịch sử Việt Nam có trải
qua thời kỳ chiếm hữu nô lệ. Nhưng theo Trần Ngọc Vương trong
tác phẩm Văn học Việt Nam –
Dòng riêng giữa nguồn chung,
Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1998, trang 15,
thì „giới sử học hầu như nhất trí
rằng ở Việt Nam không tồn tại hai phương thức sản xuất chiếm
hữu nô lệ
và tư bản chủ nghĩa.“. Phan Huy Lê trong
Tạp chí Cộng sản, Hà
Nội, 10.1982, trang 30+, cho rằng lịch sử Việt Nam đã kinh
qua 4 hình
thái kinh tế xã hội: xã hội cộng sản
nguyên thủy không giai cấp, có
giai cấp là phương thức sản xuất Á
châu, phong kiến, thực dân. Và hiện
nay là hình thái thứ 5. Thực ra
đây cũng là một kiểu phân định giai
đoạn lịch sử nhồi nhét vào khung „năm
hình thái“.
[32]Xem:
Marx, Toàn tập,
sđd., tập 9, trang 218; Marx coi nông dân cũng như
đất đai;
Trần Ngọc Vương mô tả là „công
cụ biết
nói“, Sđd., trang 24, 26, 32.
[33]Xem:
Trần Ngọc Vương, Sđd., trang 32+.
[34]Xem:
Marx, Sđd., „Die Deutsche
Ideologie„ (Hệ tư tưởng Đức), tập 3, trang 27.
[35]Xem:
Wittfogel, Sđd., trang 465.
[36]Xem:
Trương Quang Tiến, „Lược
khảo khái luận "Phương thức Sản xuất Á
châu" của Karl Marx và Friedrich Engels»,
mạng talawas.org, 8.10.2005.
[37]Xem:
Trần Ngọc Vương, Sđd.,
trang 30+. Tác giả đã dẫn giải lý do
không hình thành tầng lớp địa chủ
và lãnh chúa, diện tư điền
quá nhỏ, không đáng kể. Xem: Nguyễn
Khắc
Viện, Histoire du Vietnam,Paris, 1974, (Lịch sử
Việt Nam) trang 26+; cùng tác giả, Experiences
vietnamiennes, Paris, 1970, (Kinh nghiệm Việt Nam), tr. 26,
77. Lê Thành Khôi, 3000 Jahr
Vietnam, (3000 năm Việt Nam), München, 1969, trang
171, 142, 312; Xem Lịch sử Việt Nam, Nxb Khoa học
Xã hội, Tập I, Hà Nội, 1971, trang 154+.
[38]Trần
Ngọc Vương, Sđd.,
trang 32, 26. Tác giả mô tả „vua
chuyên chế
là địa chủ lớn nhất“; Lộc
điền và quân điền do triều đình quản
lý
và phân phối. Các công
xã nông
thôn chỉ quản lý, thay mặt Vương quyền chia
công
điền, theo qui định
từng thời kỳ; Xem Lịch sử Việt Nam, sđd., trang 17.
[39]Xem:
Nguyễn Khắc Viện, Sđd., trang 25. Xem: Pierre
Gourou Les paysans du Delta Tonkinois, Paris, 1936
(Nông dân châu thổ Bắc bộ), trang 55-65,
74+.; Xem: Cao Xuân Dục Đại Nam dư địa
chí ước viên,
quyển 6, trang 70-81 xác định đê đập đã
có từ khoảng thế kỷ thứ 1 sau
Công nguyên ở vùng Sơn Tây
và Hưng Hóa. Theo Nguyễn Khắc Viện, Sđd.,
các triều đại Lý Lê, Trần đều
có xây
dựng các hệ thống đê đập để ngăn lũ lụt. Xem:
Lê
Thành Khôi, Sđd.,; Xem Lịch
sử Việt Nam, sđd, trang 264.
[40]Xem:
Trần Ngọc Vương, Sđd., trang 17, Xem Lịch
sử Việt Nam, sđd, trang 269.
[41]Trần
Ngọc Vương mô tả tính chất huyết tộc tại
các công xã nông
thôn Việt
Nam. Nó làm giảm thiểu yếu tố chuyên
chế của bộ máy quan liêu, Sđd.,
trang 20+.
[42]Xem:
Lê Thành Khôi, Sđd.,
trang 367; Sử gia này cho biết trước thế chiến thứ hai
có khoảng 4700
công chức Pháp tại Việt Nam so với dân
số lúc đó khoảng 25 triệu, tại
Ấn Độ cùng số lượng công chức Anh so với
dân số thời đó 350 triệu.
[43]Xem:
Lê Thành Khôi, Sđd.;
Nguyễn Khắc Viện, Sđd.
Tuyến hỏa xa Sài gòn - Hà Nội phục vụ
cho mục đích quân sự nhiều hơn là
mục đích kinh tế như những tuyến khác,
thí dụ tuyến Sài Gòn - Đà
Lạt
hay Phan Rang - Đà Lạt chỉ nhằm phục vụ những dịch vụ nghỉ
mát của các
quan thực dân.
[44]Xem:
Chesneaux, Jean, Geschichte Vietnams (bản gốc: Contribution
a l’ histoire de la nation vietnamienne)
Berlin, 1963, trang 188. Sự phá sản của ngành dệt
tại
Phát Diệm. 2500 khung cửi chỉ còn họat động 2
tháng trong năm.
[45]Sau
khoảng 8 thập niên đô hộ những cơ sở công
nghiệp đếm được trên đầu ngón
tay như: Nhà máy xay gạo tại Chợ Lớn,
nhà máy rượu, nhà máy
đường, nhà
máy bia, 2 nhà máy dệt tại Nam Định
và Hải Phòng, nhà máy giấy
tại Bắc
Ninh, nhà máy xi măng tại Hải Phòng,
nhà máy thủy tinh tại Sài
Gòn và
Hải Phòng. Những cơ sở công nghiệp này
phải suy thoái, bởi vì chúng
không được làm ảnh hưởng tới thị truờng
tiêu thụ hàng hóa của Pháp.
Xem: Chesneaux, Sđd.,, trang 190.
[46]Hãng
Messageries Sauvages của Pháp đã làm
cho hải đội thương thuyền của nhà
đại tư sản Bạch Thái Bưởi họat động trên
sông Hồng và ven biển phải
giải thể. Xem: Chesneaux, Sđd., trang 201+.
[47]Xem:
Pierre Philippe Rey, Colonialisme, neo-cololialisme et
transition au capitalisme, Exemple de la “Comilog”
au Congo-Brazzaville,
(Chủ nghĩa thực dân, chủ nghĩa thực dân mới
và quá độ tới chủ nghĩa tư
bản, điển hình tại Congo-Brazzaville), Paris, 1971. Sau khi
phân tích
sâu sắc tính chất của phương thức sản xuất tư bản
tại các xứ thuộc địa,
tác giả đã đưa ra khái niệm
„ Mode de production coloniale“ (Phương
thức sản xuất thuộc địa).
[48]Chesneaux
dẫn giải sự song hành của khu vực sản xuất hiện đại (hầm mỏ,
hỏa xa,
đồn điền, v.v...) và khu vực sản xuất truyền thống - nền
kinh tế tiểu
nông gắn bó với thủ công gia
đình nơi làng xóm - mà ảnh
hưởng của khu
vực này cũng không nhỏ, vì thế
nên Chesneaux đã khẳng định Phương thức
Sản xuất Á châu đã có thể
tồn tại trong thời ký Pháp thuộc, Sđd.,
trang 198.
[49]Xem:
Henry,Yves, Economie agricole de l’Indochine,
Hanoi, 1932. Tác giả cho biết tài liệu thống
kê được trong những năm
1929, 1930 và 1931, diện tích đại điền địa chiếm
20% tổng diện tích
ruộng đất miền Bắc Việt Nam, 10% tại miền Trung. Con số đại địa chủ
miền Bắc là 180, chiếm 0,02%; miền Trung 50, chiếm 0,01% tất
cả các sở
hữu chủ ruộng đất của mỗi miền.
[50]Xem:
Henry,Yves, Sđd.
[51]Xem:
Gourou, Pierre, Sđd., trang 10, 514+.
[52]Gourou,
Sđd., trang 10.
[53]Gourou,
Sđd.,trang
362+; Có thể đây chính là
lọai hình tư hữu ruộng đất „Samindari“
và
„Raiatwairi“ tại Ấn Độ mà Marx
đã đề cập tới với sự biểu đồng tình
trong Die künftigen Ergebnisse….
(Những hệ quả tương lai…), Sđd., tr. 221.
[54]Gourou,
Sđd., trang 364.
[55]Xem
Trần Ngọc Vượng, Sđd.,
trang 36. Tác giả đã nhìn nhận
“hơn tám mươi phần trăm cư dân vẫn sống
đời sống kinh tế tiểu nông cổ truyền với sức sản xuất vẫn
chưa có đột
biến về chất lượng”. Phương thức sản xuất phong kiến
còn đang ở tình
trạng manh nha; thậm chí còn bị làm
cho trễ nải trên con đường phát
triển. Xem: Gourou, Sđd., trang 364. Trên
báo Phụ nữ tân văn
ngày 29.11.1934, Phan Khôi khẳng định
xã hội Việt Nam không tồn tại chế
độ phong kiến qua bài báo của ông
“Trên lịch sử nước ta không có
chế độ
phong kiến”.
[56]Trường
Chinh trong tác phẩm la voie tracee par Karl Marx,
Hà Nội, 1969, (Đi theo con đường của Karl Marx đã
vạch), trang 39, đã
khẳng định xã hội Việt Nam là bán
phong kiến. (Xem dẫn giải chú thích
số 23). Mặc dù có thể Trường Chinh đã
nghĩ tới khái luận “Phương thức
Sản xuất Á châu” hay
“bán Á châu“ của
Marx, nhưng tư duy khai phóng
chưa thật chín mùi nên chỉ nhắc qua cho
có lệ mà thôi, Sđd.,
tr. 21.
[57]Xem:
Chesneaux, J., Sđd., tr. 313+; Nguyễn Khắc Viện, Sđd.,
tr. 197.
[58]Phân
tích Mácxít đòi hỏi phải
có kiến
thức và thấm nhuần khái luận Phương thức Sản xuất
Á châu của Marx (Xem: «Lược
khảo khái luận "Phương thức Sản xuất Á
châu" của Karl Marx và Friedrich Engels»)
và phải có một tư duy khai phóng, đọan
tuyệt với định đề “năm hình thái
kinh tế xã hội” của Stalin. Phan Huy Lê
tuy có đề cập tới Phương thức
Sản xuất Á châu có tồn tại ở Việt Nam
nhưng chỉ là khái niệm thay thế
cho “Chế độ nô lệ Á
châu” theo cách lập luận của Nguyễn
Lương Bích, Sđd.
[59]Marx
và Engels, Die künftigen
Ergebnisse… (Những kết quả tương lai…),
Sđd.,
tr. 221. Ngược với đòi hỏi của Marx phải triệt
tiêu lọai tư hữu tiểu
nông tại phương Tây, ông lại cho rằng ở
các xã hội nằm trong phạm trù
Phương thức Sản xuất Á châu việc kiến tạo
và củng cố loại tư hữu tiểu
nông là cần thiết, bởi ở xã hội với
Phương thức Sản xuất Á châu hầu như
không tồn tại cấu trúc tư hữu ruộng đất theo nghĩa
triệt để. Hình thành
một cấu trúc tư hữu sản ruộng đất là điều kiện
tiên quyết để các xã hội
với Phương thức Sản xuất Á châu thóat
ra khỏi sự trì trệ (Stagnation)
nâng hình thái kinh tế lên
một trật tự cao hơn.
[60]Do
xác định hình thái kinh tế
xã hội sai lầm - xã hội thuộc địa nửa phong
kiến - nên đã đặt mục đích
chính của cải cách ruộng đất là đấu
tranh
giai cấp do đó đã phạm những sai lầm rất nặng như
các nhà lãnh đạo Việt
Nam đã từng thú nhận. Xem: Nguyễn Khắc Viện, Experiences
vietnamiennes, Sđd.,
tr. 77; Võ nguyên Giáp đã
thú nhận sự cường điệu giai cấp địa chủ trong
cải cách ruộng đất trong diễn văn đọc trước công
chúng ngày 29.10.1956,
trích trong Experiences vietnamiennes, Sđd.,
tr. 91. Lê Hồng Hà khẳng định tại Việt Nam
không có chế độ phong kiến. Xem: Mấy suy
nghĩ về tiền đồ phát triển đất nước Việt Nam trong đầu thế
kỷ XXI, mạng Ykien.net ngày 11.12.05, tiểu mục 15.
[61]Xem:
Nguyễn Khắc Viện, Sđd., tr. 89.
[62]Xem
Bucharin, N., „Die Neue Ökonomische Politik und
unsere
Aufgaben“ (Đường lối Kinh tế Mới và
nhiêm vụ của
chúng ta), Tạp chí Bolschewik,
1.Juni 1925. Khác với Lenin, năm 1925 Bucharin, một người
Bolschewik
cấp lãnh đạo thời Lenin, đã dề nghị
phát triển hình thức tư hữu cá thể
nông nghiệp tại Nga. Ông ta góp
ý xóa bỏ những quy chế kìm
hãm sự tăng
trưởng thịnh vượng của các cơ sở phú
nông. Với các nông dân
chúng ta
phải kêu gọi: hãy phát triển
bành trướng các cơ sổ nông nghiệp,
hãy làm
giàu thật nhiều và hãy gạt bỏ những
biện pháp áp chế. Nghe thì thấy
có
vẻ ngược đời, nhưng chúng ta phải khai thác
thúc đẩy phát triển những
cơ sở phú nông thịnh vượng để tương trợ những tầng
lớp bần và trung
nông.
[63]Cùng
thời điểm Trung Hoa phát động phong trào
„Nhảy Vọt“ và
„Thành lập Công
Xã“ 1958, Nghị quyết Trung Ương lần thứ 14
vào tháng 11.1958 của Đảng
Lao Động Việt Nam cũng gấp rút thúc đẩy
hoàn thành quá trình hợp
tác xã
và tập thể hóa nông nghiệp. Năm 1957,
khoảng 0,03% số hộ nông dân vào
hợp tác xã. Đến năm 1958, tỷ lệ là
4,74%. Sau Đại hội Đảng Lao Động
1960, số hộ nông dân vào hợp
tác xã nhảy vọt tới 85,83%. Xem: Võ
Nhân
Trí, Croissance economique de la Republique
Democratique du Vietnam, (Tăng trưởng kinh tế của Việt Nam
Dân chủ Cộng Hòa) Hanoi, 1967, tr. 285. Xem:
Freyberg, Jutta/ Steinhaus,Kurt, Dokumente und Materialien
der vietnamesischen Revolution
(Tài liệu và Tư liệu về cuộc Cách mạng
Việt Nam), Frankfurt/a.Main,
1969, tr. 39. Quá trình tập thể hóa
này không tránh khỏi không
áp dụng
những biện pháp áp chế. Xem Nguyễn Khắc Viện:
„Experiences…“ , s.đd.,
tr. 116.
[64]Xem:
Lê Duẩn, Die vietnamesische Revolution
(Cách Mạng Việt Nam), Berlin, 1971, tr. 79. Trong khi sức
sản xuất chưa
được giải phóng ra khỏi sự trì trệ của Phương
thức Sản xuất Á châu, thì
quan hệ sản xuất đã được cải tạo do áp đặt. Về
phương diện lý luận
Mácxít quan điểm này đã
không biện chứng. Marx quan niệm rằng sức sản
xuất phát triển sẽ quyết định quan hệ sản xuất. Tại
các đô thị lớn phát
động chiến dịch đánh tư sản. Phong trào quốc
doanh hóa và hợp tác xã
(từ cắt tóc đến cửa hàng ăn uống quốc doanh) được
tiến hành cưỡng bức
trên phạm vi toàn quốc.
[65]Marx
không mô tả rõ, nhưng ông
đã dao động khi Bakunin, một lãnh tụ huynh
huớng vô chính phủ, đả kích luận thuyết
của Marx về Chủ nghĩa Xã hội
Nhà nước. Xem: Wittfogel, Die orientalische
Despotie, sđd., tr.
482. Một khi Nhà nước độc quyền phương tiện sản xuất, sở hữu
chủ toàn
bộ đất đai của quốc gia, sẽ đòi hỏi phải có một
bộ máy quan liêu quy
mô. Dựa trên những đặc thù của Phương
thức Sản xuất Á châu: truyền
thống huyết tộc, ảnh hưởng tư tưởng Khổng giáo, tầng lớp
quan liêu có
nghiệp vụ và tầng lớp có dính
dáng huyết tộc chứa đựng tranh chấp, đưa
đến những yếu tố phân hóa thành giai
tầng có quyền lực (Nomenklatura)
và bộ phận có quyền uy (bürokratischer
Gentry). Mâu thuẫn nội bộ tầng
lớp quan liêu sẽ dẫn tới hậu quả tất nhiên
chuyên chế, toàn trị.