|
Sổ Tay Thượng Dân Tưởng Năng Tiến |
||
|
||
|
||
|
|
||
|
||
|
Nạn lâm tặc, cướp rừng, không chỉ xẩy ra ở Ch Pá.
Người dân ở buôn Um cũng không phải là những kẻ duy
nhất bị bức hiếp và đẩy đến chân tường. Con giun xéo
mãi cũng oằn. Cuối cùng, vào tháng 2 năm 2001, hàng
vạn người dân miền núi đã phải đứng dậy bầy tỏ thái
độ bất bình của họ với nhà đương cuộc Hà Nội.
Thay vì xét lại chính sách hà khắc cùng thái độ ngang ngược của mình, đảng Cộng Sản Việt Nam (với bản chất hung ác và xấc xuợc cố hữu) đã đàn áp, săn đuổi, bắt giữ và tra tấn nạn nhân. Những người tham dự vào những cuộc biểu tình hồi tháng 02/01 bị “đấu tố” bằng cách ép buộc đứng nhận tội trước làng và thề sẽ thôi liên lạc với người bên ngoài cũng như sẽ từ bỏ tôn giáo của mình [Villagers who had participated in the February 2001 demonstrations were forced to stand up in front of their entire village and local authorities to admit their wrongdoing, pledge to cease any contacts with outside groups, and renounce their religion – Vietnam’s Repression of Montagnard (Human Rights Watch Press, New York, April 23, 2002]. Tình thế đã khiến cho nhiều người phải bỏ chạy khỏi Việt Nam. Y Bion, một chàng trai trẻ của núi rừng Cao Nguyên Trung Phần, đã lìa bỏ quê hương bản làng trong hoàn cảnh đó. Y Bion cùng với 905 người khác nữa (trong số này có một em bé mới sinh trên đường đi chuyển từ trại tị nạn Mondokiri về Phnom Penh) đã được chấp thuận định cư ở Hoa Kỳ. Sau một thời gian bỡ ngỡ, rồi (chắc) Y Bion cũng sẽ học được một cái nghề, kiếm được một việc làm, tạo dựng được một mái ấm gia đình nho nhỏ, và sống một cuộc đời an bình - như bao nhiêu thế hệ di dân khác đã đến sống (và chết) ở đất nước này. Mảnh đời tị nạn của Y Bion, dù bình thường và tầm thường đến thế, vẫn là niềm ước mơ xa vời (vượt tầm tay với) của hàng triệu triệu người dân Việt khác - bất kể thuộc sắc dân nào, đang sống (và chết dở) ở Việt Nam. Nhưng hoài vọng của Y Bion không dừng ở đó. “Đời sống Mỹ thì tốt vào lúc này. Nhưng nếu chúng tôi đi Mỹ, sau đây mọi người sẽ quên khu vực Tây nguyên và những gì xẩy ra ở đó. Tôi thì không bao giờ quên. Khi vùng Tây Nguyên được tự do, tôi sẽ quay về”. Y Bion đã trả lời với phóng viên của hãng Reuter như vậy, khi được hỏi về dự tính của mình cho tương lai (”Người Thượng Sẽ Đi Mỹ Định Cư Nhưng Trở Về Khi Quê Hương Tự Do,” Người Việt, Westminster, California, 2 tháng 5 năm 02). Y Bion không phải là người Việt tị nạn đầu tiên (hay cuối cùng) đến Mỹ. Anh cũng không phải là người duy nhất (vừa bước chân đi) đã ôm mộng trở về xây dựng lại quê hương. Tâm sự của Y Bion, chắn chắn, đã làm nao lòng rất nhiều người - những người mà vào đầu thập niên 1980, khi phong trào vuợt biển tìm tự do lên đến điểm cao nhất, cũng đã cắn răng rời bỏ quê hương, và cũng đều đã nhủ lòng rằng: “mai này chúng ta cùng về Việt Nam”. Từ đó đến nay, hàng triệu người đã “cùng về Việt Nam” nhưng phần lớn, nếu không muốn nói là tất cả, đều chỉ về … chơi! Tôi nghĩ là Y Bion đã nói đến chuyện trở lại cố hương với một ý hướng tử tế hơn như thế. Tôi cũng tin rằng khi về tóc của Y Bion vẫn hãy còn xanh. May mắn hơn những kẻ đã bỏ đi một hai thập niên về trước, ngày về của Y Bion không còn phải là một ước vọng xa vời nữa. Sự băng hoại của chế độ hiện hành ở Việt Nam đã đến giai đoạn cuối. Vật cùng tất biến. Tuy vậy, sự việc không nhất thiết sẽ diễn biến theo chiều hướng an bình và tốt đẹp - nhất là ở vùng Cao Nguyên Trung Phần, nơi Y Bion đã mở mắt chào đời, và cũng là nơi mà: “chỗ đứng của người Thượng trong lòng dân tộc Việt Nam chưa có đáp số” (Nguyễn Văn Huy, “Tìm Hiểu Nguyên Nhân Những Cuộc Nổi Dậy Của Người Thượng Trên Cao Nguyên Miền Trung,” Người Việt, 11 April 2001,B2). Nếu đúng thế, viễn tượng “mai này chúng ta cùng về Việt Nam” để xây dựng lại quê hương e sẽ có lắm gian nan và trắc trở. Chiều ngày 3 tháng 6 năm 2002, đài Phát Thanh Á Châu Tự Do loan báo: ”Tin tức xuất phát từ Cambodia cho biết, toán người Thượng Việt Nam tị nạn đầu tiên đã rời thủ đô Phnom Penh hồi chiều hôm nay để lên đường sang Hoa Kỳ định cư. Tin tức cho biết toán đầu tiên gồm 50 người, sẽ đến Los Angeles vào sáng sớm mai, tính theo giờ Việt Nam, và ở lại đây trong vòng 3 ngày trước khi về bang North Carolina định cư.”  Y Bion, rất có thể, sẽ là một trong năm mươi người đầu tiên đặt chân đến Mỹ. Ở Hoa Kỳ có hai tổ chức đấu tranh cho quyền lợi của những người sắc tộc ở VN. Tổ chức thứ nhất có tên là Montagnard Foundation, Inc. Trụ sở đặt tại South Carolina - do ông Ksor Kok, người sắc tôc Gia Rai, đứng đầu. MFI chủ trương lập quốc, tách hẳn Cao Nguyên Trung Phần ra thành một quốc gia biệt lập: Đây cũng là đòi hỏi của tổ chức BAJARAKA (tên viết tắt của bốn sắc dân Bahnar, Jarai, Rade, and Kaho - tiền thân của Fulro) kể từ năm 1957 (The goal of the BAJARAKA was to have a separate nation with its own administration and army. What it really means is the independence for Degar peoples – http://montagnard-foundation.org/bajaraka.html).  Tổ chức thứ hai có tên là Montagnard Human Rights Organization, thành lập năm 1998, có trụ sở ở North Carolina, do hai ông Y Bhuat Eban (chủ tịch) và Nay Rong (phó chủ tịch) lãnh đạo. MHRO có chủ trương ôn hoà và nhân nhượng hơn: đấu tranh trường kỳ bằng những phương thức bất bạo động cho đến khi nhà đương cuộc Hà Nội thừa nhận và thoả mãn những đòi hỏi sau đây: |
||
|
||
|
(The MHRO
will carry out a long-term struggle in peaceful means
until the Hanoi government recognizes and satisfies
the following demand:
1. To recognize the Montagnard people as the legal and rightful owners of the Central Highlands of Vietnam. And to recognize the autonomy granted to the Montagnard people by the French on May 27, 1946. 2. To respect the right to self-determination, independence, freedom and territorial sovereignty of the Montagnard people. 3. To recognize the basic rights of the Montagnard people that are guaranteed by the Universal Declaration of Human Rights proclaimed by the General Assembly of the United Nations on December 10, 1948 - http://www.mhro.org/) Montangard Foundation Inc. là động lực chính của biến động 02/01, một biến động lớn nhất ở Việt Nam kể từ khi người cộng sản cướp được chính quyền. Về phiá Montagnard Human Rights Organization, họ đã tổ chức nhiều cuộc biểu tình ở Washington D.C. và New York vào năm 2001 để phản đối chính sách man rợ của nhà cầm quyền Việt Nam đối với người dân bản địa. Sau đó, họ đã thành công trong việc vận động chính giới Hoa Kỳ để những người tị nạn ở Cao Miên (sau biến động 02/01) được phép định cư ở Mỹ. Tôi e rằng Y Bion không hề biết đến những tổ chức vừa kể, cũng như chủ trương, và những hoạt động của họ. Hầu hết người Việt (có lẽ) cũng đều như thế. Chỗ đứng của “đồng bào” Thượng trong lòng người Kinh chưa có đáp số, đã đành; chuyện khó đành hơn là (dường như) cũng không mấy ai bận tâm xem là họ sẽ “đứng”, “nằm” hay “ngồi” ra sao cả. Cứ làm như thể họ không hề hiện hữu vậy; hoặc giả, nếu có, cũng chỉ là “chuyện nhỏ thôi”! Cho đến nay, theo như tôi biết (và tôi cầu mong rằng sự hiểu biết của mình hoàn toàn sai sót), Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên là tổ chức duy nhất ở hải ngoại có đề cập đến vấn đề chủng tộc, trong Dự Án Chính Trị Dân Chủ Đa Nguyên của họ - xin tóm gọn, như sau: |
||
|
||
|
Tôi thiệt mát lòng mát dạ vì những
đoạn văn in nghiêng vừa trích dẫn, dù tự thâm tâm
chưa dám mong mỏi đến chuyện mọi con dân sống trên
đất Việt “phải được coi là những người Việt
Nam trọn vẹn trước luật pháp cũng như trong tình
cảm dân tộc”.
Chuyện “tình cảm”, để đó, tính sau.
Nguời ta “nhìn nhau” hoặc “coi nhau” ra
sao còn tuỳ vào “kích thước”, nghĩa
là “tầm nhìn”, của từng cá thể. Nhưng
ở bình diện quốc gia, và về phương diện pháp luật
thì mọi người người phải được đối xử tuyệt đối bình đẳng,
không phân biệt tuổi tác, phái tính,
tôn giáo, địa phương, quá khứ hay sắc tộc gì
ráo. K’ Tien |