|
Ở Hà Nội “…có
Hàng Bún, Hàng Cá, Hàng Cháo,
Hàng Chuối, Hàng Dầu, Hàng Mắm, Hàng
Muối, Hàng Đường, thậm chí có cả Hàng Rươi.
Tiểu thủ công nghiệp có các
Hàng: Bạc, Bài, Cót, Da, Điếu, Đồng, Mã,
Giầy, Giấy, Nón, Vải, Trống,
Phèn, Quạt, Vôi, Thiếc, Mành, Tre, Thùng,
Cân… Đa số các hàng chỉ còn
là cái tên gọi, còn hàng hoá
thì đã “hiện đại hóa”, phố nào
cũng đầy
quần áo dầy dép, hàng Trung Quốc và
Thái Lan. Hàng Mã có lẽ là nơi duy
nhất giữ nguyên truyền thống, bán toàn đồ
mã”.
Nhà văn Phạm Xuân Đài đã ghi nhận như trên, trong tác phẩm Hà Nội Trong Mắt Tôi,
sau khi ghé thăm thành phố này (lần đầu), vào mùa thu năm 89. Dù rất
vốn dễ dụ, và hoàn toàn không có ác cảm gì với giới người cầm bút, sao
tôi vẫn thấy có điều gì "không ổn" khi đọc đoạn văn vừa dẫn.
Kinh nghiệm của
tôi về người cộng sản tuy ngắn nhưng tương đối
đủ. Ngay sau khi họ chiếm được miền Nam, có lẽ ngay cả rau cỏ
và côn
trùng của phần đất này cũng phải lật đật thay hình
đổi dạng - để thích
nghi với hoàn cảnh mới - chứ đừng nói chi đến những sinh
hoạt của con
người. Như thế, lẽ nào, sau nửa thế kỷ “cách
mạng” mà vẫn có một thứ
“truyền thống” nào đó (như Hàng
Mã - ở Hà Nội) còn được “giữ
nguyên”?
Hơn một thập niên
sau, qua tờ Việt Báo - phát hành từ
California, số ra ngày 7 tháng 10 năm 2000 - tôi
được đọc bài viết của
ký giả Hư Trúc về một “Cô Học Trò
Dán Vàng Mã”. Em tên là Dương
Thị
Thanh Hương, nhà ở thị xã Thái Bình, trong
hai năm liền thi đậu vào bốn
trường đại học nhưng vẫn không bao giờ được cắp sách đến
trường. Vì
thương tật của bố nên Thanh Huơng phải ở nhà làm
việc gia công. Em dán
tiền vàng mã kiếm được 5.000 đồng mỗi ngày để phụ
giúp mẹ nuôi sống các
em…
Tôi thực
áy náy vì đã thiếu niềm tin nơi một người
cầm bút khả
tín như nhà văn Phạm Xuân Đài, và
đã "ngờ oan" cho những người Cộng
Sản. Đồ mã, rõ ràng, vẫn còn phổ biến ở
Việt Nam. Không những thế, tôi
còn được nghe kể nhiều giai thoại lý thú về
món hàng này - nhất là thứ
đồ mã làm tại làng Ba Đình, Hà Nội.
Nhiều nơi ở quê
tôi cũng thường có những sản phẩm đặc thù tương
tự như thế. Dân Việt ai cũng biết đến những mặt hàng nổi
tiếng như
nhiễu Bình Định, the La Khê, lụa Cổ Độ, bút Bạch
Liên, mực Kiêu Kỵ,
giấy Yên Thái, vải Thượng Hội, giày Trúc
Lâm, chiếu Thiện Trạo, gốm Bát
Tràng, mây Phú Vinh, nón lông Kim
Động...
Bằng chính
sách kinh tế hoạch định, những sinh hoạt ngành nghề
riêng biệt kể trên đều được người cộng sản đưa vào
tổ hợp. Với thời
gian, tất cả đều chết dần, chết mòn, và chết ráo -
trừ nghề làm đồ mã.
Hiện tại ở Việt Nam có hai loại đồ mã: loại gia
công, gồm những thứ vặt
vãnh (nhà, cửa, ngựa, xe, con hầu, tầu thuyền, tiền
giấy…) để đốt cúng
cho người chết, không tiện đưa vào tập thể vì
nó trái với chính sách
bài trừ dị đoan của nhà nước; loại quốc doanh, gồm những
mặt hàng chiến
luợc là sản phẩm riêng biệt của dân làng Ba
Đình, Hà Nội - nơi tập
trung những gia đình thuần túy hành nghề
các mạng và hiện đang là giới
người thống trị ở Việt Nam.
Phần nhờ bản
tính khéo léo, phần nhờ học hỏi thêm được
nhiều
tiểu sảo từ những nước xã hội chủ nghĩa anh em, nửa thế kỷ qua,
dân
làng Ba Đình đã làm được nhiều thứ đồ
mã nổi tiếng khắp nơi. Xin đơn cử
một vài mặt hàng tiêu biểu.
Trước hết, xin giới thiệu qua về Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng
Miền Nam. Món đồ mã này được làm ra vào ngày 20 tháng 12 năm 1960, và
làm khéo đến độ khiến một số người dân miền Nam tưởng là đồ thật. Không
ít kẻ đã bỏ mạng hay bỏ mẹ đời vì nó. Đến lúc được mang ra đốt, nó cháy
như điên. "Sự nghiệp cách mạng", của không ít người miền Nam, cũng cháy
theo luôn - như đuốc.
Trên danh nghĩa
Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam chưa hoàn toàn
cháy hết, nó chỉ bị "sát nhập" vào Mặt Trận
Tổ Quốc Việt Nam. Đây là
một sản phẩm đặc sắc khác của dân làng Ba
Đình, được làm ra vào tháng 9
năm 1955. So với nó thì những thứ đồ mã vớ vẩn như
Mặt Trận Giải Phóng
Miền Nam, Liên Minh Các Lực Lượng Dân Tộc Dân
Chủ Và Hoà Bình Việt
Nam...đều là chuyện nhỏ, thứ mặt hàng lặt vặt, chỉ
có tính cách giai
đoạn mà thôi.
Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam là loại hàng chiến lược, tập hợp
nhiều món đồ mã linh tinh và thổ tả khác - đại loại như Hội Cựu Chiến
Binh, Ủy Ban Tôn Giáo, Hội Nông Dân Việt Nam, Hội Phụ Nữ Việt Nam, Tổng
Công Đoàn... Nó được dân làng Ba Đình dụng công dụng sức rất nhiều,
thỉnh thoảng vẫn được tu bổ hay sơn phết lại, để dùng lâu hay dùng luôn
- nếu được.
Hiến pháp 1992,
điều 9, của CSVN đã "tô điểm" cho nó như sau:"Mặt
Trận Tổ Quốc và cách thành viên là cơ sở chính trị của chính quyền nhân
dân...chăm lo và bảo vệ quyền lợi chính đáng của nhân dân...động viên
nhân dân thực hiện quyền làm chủ, nghiêm chỉnh thi hành hiến pháp và
pháp luật, giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước ... Nhà nuớc tạo
điều kiện để Mặt Trận Tổ Quốc và các tổ chức thành viên hoạt động có
hiệu quả."
Nghe cứ y như thật vậy.
Sự thật, theo như nhận xét của một nhân sĩ Việt Nam, như
sau:"Anh
nắm hết mọi sức mạnh trong tay, muốn bầy đặt cái gì cũng được, anh có
dành cho nhân dân một hội đồng để giúp anh thu thập tiếng nói của dân,
hay anh lại tìm cách đưa Bí thư tỉnh ủy, Bí thư thành ủy sang phụ trách
luôn...cho nhất quán?" (Chia Tay Ý Thức Hệ." Tuyển Tập Hà Sĩ Phu.
Phong Trào Nhân Quyền Cho Việt Nam Năm 2000 và Tạp
Chí Thế Kỷ 21 xuất bản tháng 1 năm 96, trang 162).
Đó không
phải là thái độ của những người quân tử - nếu vẫn
nói
theo ngôn ngữ (rất lịch sự) của Hà Sĩ Phu, qua tác
phẩm vừa dẫn. Cùng
với cung cách tiểu nhân tương tự, theo điều 5 của Luật Bầu
Cử Quốc Hội
thì Mặt Trận Tổ Quốc có nhiệm vụ "chọn lựa giới thiệu
nguời ứng cử đại
biểu quốc hội..." Như vậy kêu bằng "đảng cử dân bầu", nếu
nói một cách
lươn lẹo - theo chính sách. Còn thấy sao
nói vậy thì cái gọi là quốc
hội Việt Nam (rành rành) chỉ là phó sản của
Mặt Trận Tổ Quốc, hay là
một thứ đồ mã khác của dân làng Ba
Đình - thế thôi.
Và điều
này đã được cố luật sư Nguyễn Mạnh Tường nhìn thấy
từ
lâu. Khi đọc tham luận trước Hội Nghị Mặt Trận Trung Ương,
hôm 30 tháng
10 năm 1956, ông thẳng thắn nêu rõ:"Dư
luận quần chúng quan niệm rằng Quốc hội chỉ có quyền thông qua chính
sách mà thôi...với vai trò yếu ớt hiện thời quyền dân chủ của quần
chúng không được thực hiện."
Nửa thế kỷ sau,
“vai trò yếu ớt” của quốc hội không còn
là điều
khiến "dư luận quần chúng" dị nghị nữa mà đã trở
thành một sự kiện hiển
nhiên, ai cũng biết. "It served as a rubber stamp for decision already reached by the Communist Party"
(Nó được dùng như con dấu chuẩn cho những quyết định đã rồi của Đảng
Cộng Sản). Microsoft Encarta Online Encyclopedia 2000 (một loại tự điển
bách khoa vô cùng phổ thông) có ghi một câu nguyên văn như trên, khi đề
cập đến ngành lập pháp ở Việt Nam - bây giờ.
Dân làng
Ba Đình Hà Nội không chỉ thiện nghệ trong việc
làm
những đồ mã có tính cách cơ chế như quốc
hội, viện kiểm sát nhân dân,
ủy ban tôn giáo... Họ còn làm những
hình nhân nữa. Lênin, Stalin, Mao
Trạch Đông, Hồ Chí Minh...đều là những sản phẩm
tiêu biểu cho loại mặt
hàng này.
"Học thuyết Marx -
Lénine, tư tưởng Mao Trạch Đông và tác phong
Hồ Chí Minh" đã từng là thứ đồ mã "vang
bóng một thời". Thời đó đã qua.
Cả ba đều đã cháy. Dân làng Ba Đình
đang loay hoay với một thứ đồ mã
mới: tư tưởng Hồ Chí Minh. Lý do, có lẽ, vì
tư tưởng dễ dấu hơn hơn tác
phong. Và tác phong của một người đã "lỡ" viết
sách để tự ca tụng mình,
hay "trót" nộp đơn xin học Trường Thuộc Địa … e
khó được coi là "con
nhà tử tế" - theo tiêu chuẩn của người dân Việt.
Báo Nhân
Dân - số ra ngày 7 tháng 1 năm 1999 - đã
trích dẫn phần "cốt lõi" tư tưởng của ông Hồ, trong
Hồ Chí Minh Toàn Tập,
và coi đó như đuốc soi đường cho cả nước, như sau :"Không có lực lượng
gì ngăn trở được mặt trời mọc. Không có lực lượng gì ngăn trở được loài
người tiến lên. Cũng không có lực lượng gì ngăn trở được chủ nghĩa xã
hội phát triển."
Không có lực lượng gì ngăn trở được mặt trời mọc! Giời ạ, mặt trời chứ bộ mặt trận
sao mà đòi lấy lực lượng ra ngăn trở. Tương tự, có cái lực lượng mẹ
rượt nào mà ngăn trở được loài người tiến lên, cha nội? Viết như thế mà
cũng bầy đặt cầm bút.
Đó mới là
chuyện hình thức. Bây giờ xin xem qua chút đỉnh về
nội dung tư tưởng "tinh túy" của họ Hồ. "Cũng không có lực lượng gì ngăn trở được chủ nghĩa xã hội phát triển".
Coi, thằng chả hàm hồ dễ sợ chưa? Chớ có ai chọc ghẹo,
đụng chạm hay
chàng ràng, dính dáng gì tới
nó đâu. Khi khổng khi không cái chủ nghĩa
xã hội ngưng phát triển mình ên, vậy
thôi. Rồi nó đột ngột "chuyển qua
từ trần" (liền sau đó) mà không hề có một
lời từ tạ - dù là “tạ từ
trong đêm”, cũng không luôn.
Có lẽ vì
chủ nghĩa xã hội ra đi bất ngờ và âm thầm
quá nên chú
Nông Đức Mạnh và đám dân làm đồ
mã ở làng Ba Đình chưa phát hiện ra. Họ
vẫn thản nhiên "bắt" nó phải "phát triển" như
thường - theo như "luồng"
tư tưởng của bác Hồ.
Làm ăn thiếu
thông tin như vậy đó nên tay nghề đồ mã của
dân
làng Ba Đình cứ lụt dần với thời gian. Món
hàng mỗi lúc một thêm ế ẩm
và tồi tệ là báo Nhân Dân. Nó
được khai sinh vào ngày 11 tháng 3 năm
195, trải qua hai đời chủ nhiệm và một mớ tổng biên tập.
Tất cả đều là
đảng viên cộng sản, đều xuyên suốt và nhất
quán chủ trương dối trá. Do
họ mà ngôn ngữ Việt có thêm một thành
ngữ mới:"Dối như vẹm". So với
"vẹm" thì "cuội" chỉ là đồ bỏ; bởi vậy, từ khi người cộng
sản xuất hiện
ở Việt Nam thì thành ngữ "dối như cuội” vĩnh viễn
biến mất khỏi ngôn
ngữ của dân tộc này.
"Có
người nói đùa một cách chua cay rằng trên báo Nhân Dân chỉ có tin dự
báo thời tiết là có thể tin cậy phần nào (vì vẫn có trường hợp dự báo
sai), có thể tin tưởng được hoàn toàn là tin buồn, tin cáo phó. Họ nói
quá như thế để nhấn mạnh một cái tật." (Bùi Tín, Hoa Xuyên Tuyết, 2d ed. Turpin Press, 1994, 42).
Nếu nói như thế
mà gọi là "nói quá" thì tôi sợ
rằng nhà báo Bùi
Tín (lâu nay) đã thôi đọc "báo
nhà". Tờ Nhân Dân không còn
"...hô hào
xuông, đạo lý rỗng, nói lấy được, kiểu hoa
ngôn và đại ngôn..." (svd,
trang 50 và 51) tự lâu rồi. Nó sa đọa, tệ hại hơn
thế nhiều lắm.
"35 triệu lượt người
đọc báo Nhân Dân điện tử", đó là
nguyên
văn tựa bản tin của báo Nhân Dân số ra ngày
10 tháng 3 năm 2000. Và tờ
báo này chỉ mới xuất hiện trên “net” từ
ngày 21 tháng 6 năm 98. Ở một
quốc gia hàng trăm người dân dành nhau một
cái điện thoại, và hàng chục
ngàn người chung nhau một cái computer mà mỗi
ngày có đến 50.000 độc
giả lên lưới để coi báo Nhân Dân sao? (Vừa
thôi mấy Tám!) Chớ tờ "công
báo" này có cái con mẹ gì "hấp dẫn"
dữ vậy, mấy cha?
Câu trả lời
tìm được ngay hai hôm sau, cũng trên báo
Nhân Dân
(số ra ngày 12 tháng 3 năm 2000, trong mục “bạn đọc
góp ý và phê
bình”), qua thư của một độc giả, ở California:"Đối
với kiều bào ở California là nơi có đông người Việt Nam, thì báo Nhân
Dân điện tử là món ăn tinh thần lớn nhất, qúi nhất. Riêng đối với tôi
việc làm đầu tiên trong ngày là mở trang báo Nhân Dân điện tử... Nhiều
người chỉ mong sáng ra để đọc báo Nhân Dân..."
Đêm ở California
hẳn là dài lắm vì nơi đây ("hình
như") chỉ có
điện ban ngày nên "nhiều người chỉ mong sáng ra để
... đọc báo Nhân
Dân." Tôi chết được chứ chả bỡn đâu, Giời ạ!
Nhà báo
lão thành Bùi Tín, cựu phó
biên tập của nhật báo Nhân
Dân (và cũng là người đã có thời trực
tiếp phụ trách tờ tuần báo Nhân
Dân Chủ Nhật) - rõ ràng - đã không
theo kịp những bước lùi (vĩ đại) của
ngành truyền thông xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Còn cỡ thường dân, như kẻ
đang viết những giòng chữ vớ vẩn này, chịu đời (thiệt
tình) không thấu.
Viết thêm nửa
chữ, về đồ mã của dân làng Ba Đình,
tôi sợ cũng
thừa. Tuy nhiên, còn mỗi điều này, nếu không
nói luôn, sợ thiếu: trong
lúc chờ vứt hết mớ đồ mã của dân làng Ba
đình vào thùng rác, chả hiểu
có ai đã hay đang chuẩn bị thứ đồ gì khác
để thay thế chúng không?
Tương lai thường vẫn không mấy sáng sủa cho những
dân tộc chưa sẵn sàng
chờ đón nó.
|