Lần đầu
nhìn thấy tên của mình, bên cạnh tên
một cô bé học cùng
lớp - được viết thật to trên bảng, lồng khung trong hình
một quả tim -
mặt tôi bỗng đỏ bừng lên vì ngượng ngập, sung sướng
và … hạnh phúc!
Hạnh phúc ở tuổi ấu thơ sao mà giản dị, nhẹ nhàng,
dễ dàng, lảng xẹc
(và dễ ẹc) như vậy - hả Trời? Tôi vẫn cứ nhớ mãi
cái cảm giác hơi
choáng váng, có pha lẫn một chút ngây
ngất, rạo rực như thế - cho mãi
đến bây giờ.
Và bây giờ thì chắc chắn ông Hà Sĩ Phu
cũng sẽ
choáng váng (thấy mẹ luôn) khi “bỗng”
nhìn thấy tên mình bên cạnh tên
bà … Tôn Nữ Thị Ninh! Tôi cũng sợ rằng
ông ấy sẽ không cảm thấy rạo
rực, ngất ngây, sung sướng hay hạnh phúc gì cho lắm
- khi có một người
phụ nữ (thứ dữ) như bàø Ninh đột ngột xuất hiện và
đi (sát ngay) bên
cạnh cuộc đời mình, như thế.
Dù biết thế, và
dù cũng hết sức áy náy cho ông Hà Sĩ
Phu, tôi vô
cùng tiếc là đã không không có
cách chi giúp cho đương sự thoát khỏi
tình huống rất khó khó khăn (và khó
coi) như hiện cảnh. “Chuyện tình”
giữa bà Tôn Nữ Thị Ninh và ông Hà Sĩ
Phu (kể) cũng hơi dài. Xin được
bắt đầu bằng một bài báo ngắn, với tựa là
“Sống Đời Chùm Gửi” của
Nguyễn Triều - như sau:
“Khách uống cà
phê trên đường Nguyễn Chí Thanh, quận 10 không
lạ
gì một thanh niên bán vé số ngoài ba
mươi tuổi bị liệt chân, di chuyển
bằng tay trên hai chiếc ghế gỗ. Đáng chú ý ở
chỗ, tháp tùng theo anh là
một thanh niên trẻ hơn, cao lớn và khoẻ mạnh. Mọi việc
diễn ra đã được
lập trình sẵn: Người thanh niên liệt chân vào
quán mời khách, anh chàng
‘hộ pháp’ lên xe lăn ngồi chờ!
“Có một cặp
khác, bà lão ‘cổ lai hy’ được
‘hộ tống’ bởi một thanh
niên khoảng hai muơi tuổi. Qui trình làm việc của
cặp này được ‘phô tô’
giống hệt cặp kia ... Rõ ràng ở đây hai anh
chàng khỏe mạnh kia đang
sống nhờ vào đôi chân què quặt của người
thanh niên và cái dáng lom
khom của bà lão bẩy muơi
http://www.nld.com.vn/tintuc/thoi-su/nhung-dieu-trong-thay/97280.asp
Tưởng gì chứ “sống
nhờ” vào sự khốn cùng, và nỗi bất hạnh của
kẻ
khác thì ở Việt Nam (bây giờ) kể - như - là
- chuyện - nhỏ, và là
chuyện vô cùng phổ biến. Có nhiều trường hợp
“rõ ràng” hơn và tệ hại
hơn nhiều nhưng Nguyễn Triều không biết; hoặc giả, tuy cũng
có biết
nhưng nhà báo (quốc doanh) thấy không
“tiện” nói. Xin đơn cử vài trường
hợp (hơi) khó nói:
Năm 2002, sau chuyến đi thăm những
trại cùi ở Việt Nam, linh mục Đinh Thanh Bình đã
tường thuật như sau:
“Trên danh nghĩa hiện
thời, nhà nước quản lý 21 trại cùi ở Việt
Nam. Tuy nhiên ban điều hành các trại đa số vẫn
là do các nữ tu đứng
đầu… Trại phong Di Linh hiện giờ có 350 bệnh nhân,
nhưng chỉ có 147
người đủ tiêu chuẩn trợ cấp 15 Úc Kim một tháng của
chính quyền. Số còn
lại 200 người thì mặc kệ tụi mày, sống chết mặc bay, tao
không cần
biết. Nhà nước chỉ giỏi cướp công, mỗi lần đưa phái
đoàn ngoại quốc đến
thăm để xin tiền, nhà nước sẽ đưa tới Di linh, vì Di Linh
là một trọng
điểm kiểu mẫu. Xin được bao nhiêu, vô túi ai
không biết, vì Di linh
không hề nhận được thêm đồng cắc nào. Tôi rời
Di Linh, để lại thêm một
số tiền, ít ra cũng nuôi được vài bữa cơm qua
ngày cho 200 người cùi
thiếu tiêu chuẩn không biết làm sao mà sống
được cho đến mùa Tết tháng
sau
http://vietpage.com/archive_news/politics/2003/Mar/20/0164.html
Và đây là chuyện xẩy ra ở một cái trại khác:
“Chị tôi rủ đi thăm một
trường câm điếc ở Sông Bé … Chúng
tôi
chất thức ăn lên xe, bánh mì ổ, nồi ‘la
gu’ (lỏng chỏng thịt bò sắt
cục, khoai lang trôi trong nước súp đùng đục),
thùng chè đậu quơ cái vá
mới thấy cái. Chị bảo ít vậy chứ nấu từ 3 giờ
sáng, mà cũng nhiều người
góp của lắm nghe mới đủ một bữa trưa cho mấy đứa nhỏ.”
“Chúng tôi đem
thức ăn vào nhà bếp để hâm lại. Trường có
hai dẫy
dành cho học sinh nam và nữ cách nhau một
sân rộng và một hàng rào. Tôi
được sơ hiệu phó giới thiệu với một người đàng ông
có tuổi tầm vóc
trung bình, ốm, nét mặt thông minh đang ngồi trong
căn phòng của ban
Giám hiệu:
- Đây là anh B, hiệu trưởng, đảng viên nhưng rất cởi mở …
“Rồi ông và sơ
thay nhau nói về thành tích của trường. Năm 1886,
các cha người Pháp dòng Phao-lồ thành lập,
đến nay có 270 học sinh
nhưng vì thiếu tiền nên nhà nước chỉ nuôi 250
đứa, mỗi tháng phát 55
ngàn cho mỗi em, thành thử nhu cầu bức thiết của trường
không phải là
giấy mựïc hay sách giáo khoa mà là
thực phẩm … “ (Lý Không Minh. Ngày
Về Của Qủi. Đồng Dao, Victoria, 1977, 33).
Sao (đ… mẹ) mâm
nào cũng có tụi nó ngồi sẵn ở đó - vậy
cà? Kể cả
những mâm ăn mà “khoai lang trôi trong nước
súp đùng đục, thùng chè đậu
quơ cái vá mới thấy cái” mà bao kẻ
đã phải dành dụm, chắt bóp để chia
sẻ với những đứa bé thơ câm điếc. Qúi vị đảng
viên cộng sản Việt Nam
khiến tôi liên tưởng đến hai người đàn ông
“hộ pháp” - luôn luôn ngồi
chờ một bà lão già và một thanh niên
khuyết tật đang bò lê bán vé số -
ở đường Nguyễn Chí Thanh, Sài Gòn.
Hai người này đã bị
ông nhà báo Nguyễn Triều gọi làø
những kẻ
sống đời ký sinh hay chùm gửi. Lời kết án
này e (hơi) vội vã, và cũng
có phần (quá) khắt khe. Đẩy xe lăn cho một người
già nua hay phế tật đi
bán vé số là một hình thức cộng sinh, một
cách hợp tác để sinh tồn, dù
cách phân công trông (có vẻ) hơi
khó coi chút đỉnh.
Và nó chỉ
“có vẻ” thế thôi chứ chưa hẳn đã thế.
Không ai biết
đích xác liên hệ giữa những người trong cuộc ra sao
và chuyện họ chung
sức làm ăn được chia chác thế nào? Còn
cái cách kiếm tiền của Đảng và
Nhà Nước CSVN (dựa trên lòng trắc ẩn mà
nhân loại dành cho những người
dân kém may mắn nhất ở xứ sở này) thì
rõ ràng (và hòan toàn) không
sòng
phẳng. Sơ Giám Đốc Trung Tâm Mai Hoà, nơi chăm
sóc cho những bệnh nhân
liệt kháng ở Củ Chi, đã cho biết thế này:”
Một triệu Đô La Mỹ viện trợ
khi tới tay trung tâm may ra còn một triệu đồng Việt
Nam”
http://www.danchu.net/ArticlesChinhLuan/Collection4/DinhThanhBinh.htm
Một cá nhân có
thể sống cuộc đời chùm gửi nhưng một dân tộc thì
không. Theo đuổi chính sách sống bám
là chủ trương của một chế độ bệnh
hoạn; đã thế, còn huyênh hoang và tự
mãn về lối sống đời ký sinh của
mình thì kể như là hết thuốc.
Bà Tôn Nữ Thị Ninh
có thể coi như là một thí dụ tiêu biểu
và điển
hình cho cái loại người hết thuốc (chữa) như thế. Với
cương vị Phó Chủ
Nhiệm Ủy Ban Đối Ngoại Quốc Hội, cuối năm 2004, bà Ninh
đã được phái
đến Hoa Kỳ gần một tháng. Chuyến công du này -
trên danh nghĩa - có mục
đích nhằm cải thiện mối tương giao (vốn chưa bao giờ tốt đẹp)
giữa Việt
Nam với Mỹ, và với cộng đồng người Việt tị nạn cộng sản ở đất
nước này.
Theo ngôn ngữ của báo chí của người Việt ở hải ngoại thì bà Tôn Nữ Thị
Ninh có nhiệm vụ đi “giải độc”. Bà Ninh đi đâu, gặp gỡ những ai, giải
độc (hay rải độc) thế nào …, tôi tuyệt đối không hề bận tâm. Tôi không
có rảnh rỗi đến thế.
Dù thế, tôi vẫn hết sức kinh ngạc khi đọc tường những bài phỏng
vấn của báo chí ở Việt Nam dành cho bà Ninh - sau chuyến đi này. Bà
Ninh giễu cợt khi kể lại những biểu tình phản đối sự hiện diện của mình
ở Hoa Kỳ, và đối với cộng đồng người Việt tị nạn ở nơi đây - cái tập
thể mà hằng năm vẫn chăm chỉ và đều đặn gửi về VN vài ba tỉ đô la - bà
Tôn Nữ Thị Ninh đã (thỏ thẻ) bỏ nhỏ như sau:” Mình là thế thượng phong
của nguời chiến thắng, mình cần chủ động, người ta không thể chủ động
được do mặc cảm, cũng không thể yêu cầu ngươi ta đi trước, họ đứng ở vị
trí không thuận lợi trong tiến trình lich sử”
http://www.thanhnien.com.vn/TinTuc/XaHoi/2004/12/25/38166/?Print
Dân Việt có
thành ngữ (thú vị) là “đi xa về nói
khoác”. Tôi cũng
thuộc loại người khoác lác, cỡ một tấc đến Giời, nhất
là sau khi đã
uống sương sương vài ba ly Cognac, nhưng nghe qua miệng lưỡi của
“Madame Ninh” thì (chợt) biết mình còn
yếu cơ - thấy rõ.
Cái nhìn của
tôi về thế sự, xem ra, cũng không được “bao la
và
trời biển” như “Bà Đại Sứ”. Tôi
hoàn toàn (và tuyệt đối) không thấy ra
“cái vị trí thuận lợi trong tiến trình lịch
sử “ của nhà đương cuộc Hà
Nội - trong hiện cảnh. Nếu dân làng Ba Đình đang
thực sự ở “thế thượng
phong” thì qúi quan chức ngoại giao như ông
Nguyễn Đình Bin, Nguyễn Phú
Bình và bà Tôn Nữ Thị Ninh đâu đến nỗi
phải bị gậy túa đi khắp mọi nơi.
Tôi cũng có dịp đi qua nhiều xứ sở, gặp đủ kiểu và
đủ cỡ hành khất
nhưng chưa thấy ai đi ăn xin với giọng điệu hợm hĩnh (và ngu
xuẩn) quá
cỡ như vậy.
Thái độ láu cá
và trơ tráo của bà Tôn Nữ Thị Ninh khiến
tôi thấy
nhớ (và thương) ông Hà Sĩ Phu hết sức. Loại người
như bà Ninh tôi mới
thấy lần đầu nhưng sĩ phu họ Hà chắc phải đối diện thường
xuyên nên ông
mô tả diện mạo cũng như phương thức sinh hoạt của họ vô
cùng chính xác:
"Thế giới sinh vật đã cho ta những ví dụ rất rõ về vấn đề này.
Con đường tiến hóa là: Sinh vật đơn bào phải đa bào hóa, trên cơ sở đa
bào mới phân hóa thành những cơ quan khác nhau, giữa các cơ quan ngày
càng có sự 'phân công' rành rọt nhưng ngày càng phối hợp với nhau chặt
chẽ bởi sự chỉ huy càng ngày càng tập trung của hệ thần kinh. Cứ thế mà
tiến hóa từ thấp lên cao, và cuối cùng xuất hiện loài người chúng ta."
"Nhưng có những sinh vật đơn
bào không đi vào con đường đa bào
hóa mà thích nghi bằng cách 'tu sửa vặt',
'bổ sung vặt', khiến cho bên
trong cái tế bào duy nhất của nó cũng có đủ
thứ như một cơ thể đa bào:
có một chút tượng trưng cho 'tim', một chút tượng
trưng cho 'dạ dầy',
một chút 'thận', một chút 'giác quan', một
chút 'thần kinh', một chút
'chân tay'... Chúng
kéo dài cái cấu trúc 'cổ lỗ' ấy suốt mấy
triệu năm, và vĩnh viễn không thể 'gia nhập' vào
con đường tiến hóa
chung được nữa. Nếu chỉ lấy sự 'sống chết' để đo mức độ tiến hóa
thì
những sinh vật đơn bào ấy hẳn là 'cao' hơn con người
người nhiều, vứt
ra bất cứ cống rãnh nào chúng cũng sinh sôi".
"Điều kiện để có sự tiến
hóa là phải có nguy cơ bị tiêu diệt: Nếu
không tiến hóa nó sẽ bị diệt vong trong cuộc đấu
tranh sinh tồn! Sự 'tu
sửa vặt' chính là 'giải pháp' giúp cho sinh
vật 'lách' qua được sự đấu
tranh sinh tồn khắc nghiệt, vượt qua nguy cơ bị tiêu diệt
mà không cần
đến con đường chính thống, nhưng chính sự 'thành
công' này đã tách nó
ra xa con đường chung và không tiến hóa cao được
nữa". ("Đôi Điều Suy
Nghĩ Của Một Công Dân". Tuyển Tập Hà Sĩ Phu. Phong
Trào Nhân Quyền Cho
Việt Nam Năm 2000 và Tạp Chí Thế Kỷ 21 xuất bản
tháng 1 năm 96, trang
99 và 100).
Bước vào kỷ nguyên
toàn cầu, trong thời kỳ đất nước đổi mới, quí
vị lãnh đạo Đảng Cộng Sản Việt Nam cũng có nhiều
“tu sửa vặt” và “bổ
sung vặt” rất thành công. Ít nhất thì
họ cũng thành công trong việc giữ
cho chế độ chưa bị sụp đổ. Và chính sự
“thành công” này đã tách
nó ra
xa con đường chung và không tiến hóa cao được nữa!
Báo chí quốc nội cũng
mô tả chuyến đi của bà Tôn Nữ Thị Ninh là
thành công. Nếu đúng thế - theo tôi -
đây chưa hẳn đã là điều đáng mừng
mà (không chừng) còn là chuyện đáng
lo. Để cho những những sinh vật đơn
bào - hay nói trắng phớ ra là sán
lãi - sống ký sinh (thành công) trong
cơ thể của mình không phải là chuyện đáng lo
sao?