Mẹ già cuốc đất trồng rau nghe tin xóm làng kêu gào.
Quân thù đã bắt được con mang ra giữa chợ chém đầu.
Nghẹn ngào không nói một câu mang khăn gói đi lấy đầu
Đường về thôn xóm buồn teo, xa xa tiếng chuông chùa reo.
Phạm Duy (“Mẹ Gio Linh”)
- Tiếng Việt mình gọi mấy cái này là gì hả bố?
Trên tay con gái tôi là tấm thiệp in hình cả rừng hoa poppy màu vàng
cam, rực rỡ trên một đồi cỏ xanh, trải dài đến tận chân trời bao la mây
trắng. Tấm khác, có hình chiếc cầu Golden Gate, thấp thoáng trong một
buổi sáng sương mù, của thành phố San Francisco. Tấm khác nữa, chụp
hình một dòng suối nhỏ - hững hờ trôi dưới nắng thu, mang theo những
chiếc lá phong đỏ au hay vàng thẫm - ở Yosemite Valley National Park.
Tôi sống ở California đã lâu nhưng không hề biết rằng có những cái post
cards in những cảnh đẹp đến thế của tiểu bang này.
- Bố nghe con nói không?
- Hả?
- Con hỏi bố tiếng Việt mình gọi mấy cái này là cái gì?
- Bưu thiệp.
- Bố nói cái gì?
- Bưu thiếp.
- Thiệp hay thiếp?
- Thiệp thiếp gì cũng cùng một nghĩa.
- “Mùng” - “màn”,
“chén” - “bát”, “cốc”
- “ly”, “thiệp” -“thiếp”…
đều
như nhau ráo. Tiếng Việt mình sao kỳ cục quá bố
à!
- Tôi hoàn toàn không cảm thấy hào hứng tranh luận với con bé về sự kỳ
cục của tiếng Việt vì chợt nhớ đến mẹ.. Không dưng, tôi cũng thoáng
thấy lòng có điều ân hận. Trước khi mất (có thể) bà sẽ có thêm nhiều
buổi chiều vui, nếu thỉnh thoảng tôi cứ đều đặn gửi về nhà đôi ba cái
post cards như thế.
Cũng như tôi, bà cụ (chắc chắn) chả bao giờ ngờ rằng bưu thiếp lại có
thể tươi đẹp, xinh xắn và trang nhã đến như vậy. Những tấm bưu thiệp
được phép xử dụng giữa hai miền Nam - Bắc Việt Nam (khi tôi còn thơ ấu,
vào những năm cuối của thập niên 1950) trông hoàn toàn khác.
Chúng thô kệch, xấu xí, ảm đạm, và thường chỉ chuyên chở những … tin
buồn - được cẩn dấu (cẩn thận) giữa hai hàng chữ. Bà nội đã đi thăm ông
nội, có nghĩa là bà nội (cũng) đã qua đời. Chú Ba đã vào ở hẳn với chú
Tư, có nghĩa là chú Ba (cũng) đã đi cải tạo …
Có lần, đúng vào sáng mùng một tết,
tôi bỗng thấy mẹ ngồi thẫn thờ một mình trong phòng
khách - mắt đỏ hoe:
- Mẹ ơi, tết mà sao mẹ buồn quá vậy?
- Cả năm nay không nhận được cái bưu thiếp nào cả
con ạ, không biết anh con sống chết ra sao? Mẹ lo lắm …
Rồi bà lặng lẽ lau nước mắt khiến tôi cũng thút
thít khóc theo, dù thuở
ấy tôi hoàn toàn chưa hiểu gì về tình
trạng “không biết sống chết ra
sao” của người anh mà mình chưa từng thấy mặt.
Mãi sau này, tôi mới
biêt rằng trong cuộc trốn chạy tập thể của hàng triệu
người từ Bắc vào
Nam - vào năm 1954 - vì lý do nào
đó, ông bà nội và anh lớn của tôi
đã
không có mặt.
Trong vài năm đầu, khi đất nước vừa chia cắt, bưu thiếp đã giúp cho
những người liên hệ có những thông tin tối thiểu về nhau - dù thường
chỉ là những tin buồn. Tuy vậy, còn liên lạc được có nghĩa là người
thân mình còn sống. Bằng không thì đúng là “không biết sống chết ra
sao”, như trường hợp của anh tôi.
Đến chừng năm1960, những tấm bưu thiếp không còn được phép lưu hành
nữa. Từ đó, cho đến năm 1975, khi cuộc chiến tàn, mười lăm năm liền, có
lẽ không đêm nào mà mẹ tôi không … rấm rứt khóc thầm!
Chiến tranh chấm dứt nhưng những hệ lụy của cuộc chiến thì
không. Sau
đó, vẫn có vô số những bà mẹ khác,
trông ngóng và khóc thương con theo
cách khác. Tôi biết chuyện một người mẹ
(không may) như thế, ở một nơi
có tên là Đèo Bá Thở.
“Trên
bản đồ quân sự cũng như bản đồ của nha Địa Dư không bao giờ
có địa danh
‘Đèo Bá Thở’. Bởi vì đặt cái
tên cho ngọn đèo này chính là
tôi và một
vài người bạn … Ngọn đồi nằm không xa trại giam
chúng tôi trong tỉnh
Yên Bái. Ngày ngày đội chúng
tôi có mười anh em phải băng qua bên kia
cái đèo khốn nạn này, tới một khu rừng toàn
thị là tre, nứa, giang …”
“Mấy ngày đầu chúng tôi không
chú ý tới cuối dốc bên kia có một cái
nhà
tranh đã sập. Người chủ căn nhà lấy vài thân
tre to, chống cái mái lên,
nên mái nhà chạm đất. Tất nhiên trong
tình trạng đó nó không có cửa.
Chúng tôi đã vài lần đi về ngang đó
và tưởng nó đã bỏ hoang, bởi vì
trông nó còn thua một cái chòi chăn
vịt ở miền Nam.”
Một hôm cả bọn chúng tôi thấy trời còn sớm,
nên nghỉ lại bên kia dốc
một lát trước khi “bá thở”. Chúng
tôi nghe lục đục trong cái chòi bỏ
hoang, và phát giác đuợc một cụ già thật
già. Nét mặt bà cụ nhăn nheo
hệt như những vết nẻ của ruộng bị hạn hán nhiều ngày.
Bà già có một cặp
mắt nâu đục, lờ đờ và đầy rỉ mắt. Bà già mặc
một cái áo bông vá chằng
vá đụp. Phải gọi đây là cái áo
vá trên những miếng vá. Nó nặng dễ chừng
đến năm ký chứ không chơi. Chúng tôi gạ
chuyện, song tất nhiên bà già
biết chúng tôi là tù ‘Ngụy’
nên không hé răng một nửa lời.”
“Hôm sau trong lúc đốn tre chúng tôi hội ý. Chúng tôi lấy dư ra mỗi
ngày vài cây về dấu ở gần căn lều của bà cụ. Được vài ngày đủ tre để
dựng lại căn lều, chúng tôi để hai người lại sửa còn tám người vào rừng
đốn tre cho đủ số lượng của mười người. Chúng tôi cũng cắt tranh về để
dậm lại những chỗ quá mục nát. Căn nhà sửa xong, có cửa để chui ra chui
vào. Bà già khi đó tự động nói chuyện với tụi tôi:
-Lão có ba đứa con, một đứa đã có giấy tử sĩ, hai đưa kia thì hoà bình
lâu rồi, nhưng lão không hề nhận được một chữ của chúng từ ngày chúng
đi. Lão mới có giấy mẹ liệt sĩ, mỗi tháng có tiền nhưng chả vào đâu.
“ Tôi không hiểu các bạn tôi nghĩ
gì, nhưng riêng tôi trong đêm ấy tôi
mất ngủ. Làm như tôi mắc một cái tội nào
đó không diễn tả được"
(Hoàng Khởi Phong. “Bên Kia Đèo Bá Thở“.
Cây Tùng Trước Bão. Thời Văn, Hoa Kỳ 2001, 75-77).
Đó
là chuyện kể vào năm 1984. Mười năm sau, sau khi cuộc chiến tàn, người
mẹ mới nhận được giấy báo tử và tiền cấp đưỡng của đứa con (đầu tiên)
chết trận. Dù có “may mắn” nhận đủ cả ba cái giấy báo tử và tiền cấp
dưỡng của cả ba đứa con liệt sĩ, tôi vẫn ngại rằng cái áo vá mà bà cụ
mặc trên người cũng không nhẹ nhõm hơn được bao nhiêu. Có điều, chắc
chắn, hàng đêm, sau đó, người mẹ sẽ đỡ trăn trở và khổ sở hơn - sau khi
đã biết rõ về số phận của hai đứa con còn lại.
Bây giờ là năm
2004. Thêm hai mươi năm nữa đã qua. Những bà mẹ già héo hắt, khắc khoải
chờ con ở một góc rừng Yên Bái (có lẽ) đều đã lần lượt qua đời. Tuy
thế, nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam (Độc Lập - Tự Do - Hạnh
Phúc) vẫn không thiếu những bà mẹ “không may” khác, đang tiếp tục mòn
mỏi chờ con - theo cách khác.
Cũng như người tù cải tạo “Bên Kia Đèo Bá Thở“, đêm qua, tôi cũng không
ngủ được - sau khi tình cờ đọc tờ đơn xin trả tự do cho con của một bà
mẹ Việt Nam, nguyên văn như sau:
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Độc lập - tự do - hạnh phúc
ĐƠN XIN TRẢ TỰ DO CHO NGUYỄN KHẮC TOÀN
Kính gửi:
Tơi tên là Trần Thị Quyết, 78 tuổi, hiện ở tại số nhà 21 phố Tràng Tiền
- Hà Nội xin được trình bày cùng quý ông/bà như sau:
Con trai tơi là Nguyễn Khắc Toàn bị Tòa án Nhân dân Thành phố Hà Nội
quy tội gián điệp và kết án 12 năm tù giam và 4 năm quản chế.
Nhận thấy bản án sơ thẩm quá bất công, con trai tơi đã làm đơn kháng án
nhưng phiên xử phúc thẩm vẫn y án. Chúng tôi xin được giám đốc thẩm
nhưng khơng nhận được kết quả gì!
Sự thật là con trai tôi không có tội đến mức phải xử nặng đến như thế!
Cháu thấy bà con nông dân từ các tỉnh xa về nằm vạ vật lề đường góc phố
đòi công lý thì thương cảm viết đơn giúp và chuyển lên cấp trên. Thấy
cấp trên không giải quyết thỏa đáng, bà con nhờ gửi ra nước ngoài thì
cháu gửi giúp. Lòng thương người thường mang họa cho cháu. Hiện cháu
đang bị giam ở trại Ba Sao - tỉnh Hà Nam. Vào trong tù, cháu thấy bà
con Tây Nguyên bị tù xa nhà, nghèo khổ lại bị mua hàng hóa và thực phẩm
ở căng tin trại giam đắt hơn giá ngoài thị trường, cháu lại giúp bà con
đấu tranh, phản đối nên cháu không những bị tù mà còn bị cùm chân biệt
giam rất đau đớn, khổ sở.
Vừa qua tôi được vào trại tù thăm cháu. Thân già lặn lội đường xa đã
cám cảnh nhìn con trai tù tội càng đau xót hơn. Vốn là một thương binh,
bệnh đau cột sống do chấn thương tại chiến trường lại tái phát làm cháu
mất ăn mất ngủ, thường xuyên bị cảm sốt và bỗng phát chứng huyết áp rất
nguy hiểm.
Bố cháu vì quá đau buồn đã mất mà khôg được gặp mặt con trai. Là người
mẹ, tôi rất lo lắng cho tình hình sức khỏe của con, nếu không được điều
trị kịp thời thì không biết tính mạng của cháu sẽ ra sao? tương lai
cháu sẽ thế nào?
Nhân đây tôi cũng xin trình bày với
quý ông/bà, Toàn về đàng trai
là
con cả trong gia đình tôi. Mọi việc lớn nhỏ trong gia
đình tôi đều
trông cậy vào cháu. Nay tôi đã
già lại không có cháu ở bên cạnh
nên tôi
rất đau buồn. Cháu đã 50 tuổi mà chưa lập gia
đình, là người mẹ tôi
không thể không suy nghĩ về việc này. Tôi
đã gần tám mươi, đã gần đất
xa trời, tôi chỉ còn biết ngày đêm cầu Trời
khấn Phật cho con tôi được
xem xét lại bản án, được mau chóng trở về
đoàn tụ với gia đình để tôi
được lo vợ con cho cháu. Có như vậy tôi mới
có thể yên tâm nhắm mắt khi
về với tổ tiên.
Gần đây tôi được biết Đảng và Nhà nước đã có những thay đổi quan trọng
trong đời sống chính trị - xã hội của đất nước, chúng tôi rất mừng. Các
ông Phạm Quế Dương, Trần Khuê, Trần Dũng Tiến… trước đây cũng bị kết
tội gián điệp như Nguyễn Khắc Toàn nhưng nay đều đã được thay đổi tội
danh và xử án xong là được thả về nhà. Nhiều người khác như cháu nếu
chưa được thả thì cũng được giảm án rất nhiều. Giữa tình trạng đó thì
tôi càng khấp khởi trông mong và càng đau buồn vì thấy con mình bị oan
ức quá!
Bằng đơn này tơi tha thiết yêu cầu xin các ông/bà hãy thương người mẹ
già đang mòn mỏi chờ trông đứa con mà xem xét cho Nguyễn Khắc Toàn được
ra tù, trở về với chúng tôi…
Hà Nội, ngày 14 tháng 9 năm 2004
Người viết đơn
(ký tên)
Trần Thị Quyết.
Hơn
năm mươi năm qua, hết thế hệ này đến thế hệ khác, những bà mẹ Việt Nam
đều có đủ lý do và hệ lụy để luôn luôn phải sống trong khắc khoải, mỏi
mòn và héo hắt. Cảnh đời của Mẹ Gio Linh, khi nước nhà còn bị cai trị
bởi quân xâm lược, không chừng, dám đỡ “phiền” hơn!
|