|
Khi
xem phim “Saving Private Ryan”, thỉnh thoảng, mấy đứa
bé lại quay sang “tham khảo” với tôi về
tên các loại vũ khí của “bên
mình” và “bên nó”.
“Nó” đây là lực luợng quân đội
Đức (đang chiếm đóng nước Pháp) và
“mình” là một tiểu đội lính Mỹ, được
lệnh phải đi tìm một binh sĩ - có tên là
James Ryan - đang bị kẹt trong lòng địch.
Vì
ba người anh của James Ryan cũng đều tham chiến, và
đã cùng lượt hy sinh nên đồng đội buộc phải đi tìm
cho được kẻ sống sót còn lại, để mang cậu út về “trả
lại” cho bà mẹ - trước khi quá muộn. Cuốn phim dài
2 giờ 46 phút, do Steven Spielberg làm đạo diễn, Tom
Hanks là tài tử chính, và nghe đâu đã được đề nghị
(tới) một tỉ giải Oscar mà sao tôi coi không “đã”
mấy. Tôi cứ bị lọng cọng và lấn cấn về chuyện “phe
mình” và “phe nó”.
Dù
khi Thế Chiến Thứ Hai chấm dứt, tôi chưa ra đời nhưng
tôi vẫn sẵn sàng “đứng” về phe Đồng Minh để chống
lại phe Trục. Tôi cũng hoàn toàn tán đồng với quyết
định của quân đội Hoa Kỳ, về chuyện phải giải cứu
binh nhì James Ryan - bằng mọi giá.
Tuy thế, tôi e
rằng mình không được phép nhận (đại) những
quân nhân Mỹ thuộc … “phe mình” -
một cách tự nhiên và hồn nhiên - như lũ con
tôi. Tôi không sinh ra và lớn lên ở
California như chúng nó. Tôi chỉ là một
người tị nạn, một di dân. Tôi đến từ Việt Nam,
I came from VietNam, nếu nói theo kiểu Mỹ. Và
rất nhiều đêm, gần như là hàng đêm, tôi vẫn cứ lần
mò trở về nơi chốn cũ.
Tôi vẫn cứ hân hoan và hăm
hở đến trường, từ lúc sáng tinh mơ, dù không mấy
khi vào lớp. Chúng tôi chỉ tụ tập ở ngoài sân để
tính chuyện đi câu cá, đi bắn chim, hay đi ăn cắp
mận (nếu vào mùa mận chin) rồi ra Bờ Hồ tắm cho
đến giờ … tan học! Về nhà, tôi chơi tạt lon. Cơm
tối xong thì chúng tôi chơi năm mười, chơi rượt
bắt cú tù hoặc cả đám rù nhau đi bắt dế, cho đến
mãi khuya. Khi thì “tôi đi giữa hoàng hôn, khi nắng
còn vương” để nhìn “chiều rơi trên đường vắng” và
để thấy “có tôi rơi giữa chiều”. Mà Đà Lạt của tôi
thì có rất nhiều những con đường vắng. Cứ thế, tôi
mải mê thơ thẩn đi hết con đường tĩnh lặng này,
đến con đường êm ả khác trong suốt quãng đời niên
thiếu và hoa mộng của mình. Khi thì tôi trở về thăm
rừng núi cũ, đứng bơ vơ giữa trăng rừng hoang vu.
Có lúc tôi về thăm lại căn nhà biệt giam của trại
cải tạo Tân Rai, ở ngoại ô tỉnh Lâm Đồng, giữa những
trưa nóng hầm hập. Tôi nằm trơ trọi một mình, chân
ở trong cùm, nguời hâm hấp sốt. Cũng có lúc tôi
trở về Rạch Giá, đi loanh quanh trong chợ Nhà Lồng,
mắt láo liên nhìn quanh những bàn ăn, và chỉ chờ
thực khách buông đũa là nhào vào húp vội phần ăn
còn lại - nếu như bên cạnh không có một đứa bé hay
một cụ già, cũng đang “rình” phần cơm thừa hay canh
cặn ấy.
Tôi
không tin là đất nước Hoa Kỳ hãnh diện và vui vẻ chấp
nhận một công dân “part - time” (cứ ngày ở/ đêm về)
và thuờng trực sống trong trạng thái mộng mị như thế.
Tôi chưa bao giờ thực sự sống hết lòng mình, ở phần
đất mới nên không khỏi cảm thấy ngại ngần - khi cùng
với lũ con thơ - nhận rằng những người lính Mỹ trong
Thế Chiến Thứ Hai (cũng) thuộc … phe mình.
Rồi chiến tranh giữa
Hoa Kỳ và Irakq xẩy ra. Quân đội Mỹ vừa chiếm xong Baghdad
thì ngay ngày hôm sau người ở kế bên hớn hở
mang sang một phần thịt quay và mấy gắp bánh hỏi,
“để anh Tư nhậu sương sương vài ly”. Tuy
chúng tôi đều là người Việt và là
láng giềng hàng xóm với nhau (đã nhiều năm)
nhưng quà cáp, biếu xén như thế là một
chuyện rất bất thường - ở Mỹ.
- Ý Trời, vụ gì đây cô Sáu? Bộ mới trúng lô
tô hả?
- Đâu có, bữa trước em vái ông Địa cho tụi nó thua
lẹ lẹ, chớ thấy lính mình qua bên đó nóng bức và
nắng nôi tội nghiệp quá sức - anh à! Bữa nay nó
thua thiệt nên em cúng tạ vậy thôi mà.
“Nó”
đây là lính Iraq và
“mình” đây (tất nhiên) là
quân đội Hoa Kỳ. Rồi cô Sáu say mê kể lại
chuyện lính Mỹ đã phải liều mạng ra sao trong chuyện giải
cứu tù binh và cứu được môt cô binh
nhì tên Jessica Lynch nào đó. Nghe cũng
hào hùng và cảm động y như chuyện … phim
“Saving Private Ryan” vậy.
Cô
Sáu không phải là người duy nhất đã tỏ lộ sự quan
tâm và cảm mến của mình đối với những quân nhân Mỹ
đã tham dự vào cuộc chiến giữa Hoa Kỳ và Irak. Ở thành
phố San Jose, California, người Việt tị nạn đã chuyển
tới Hội Hồng Thập Tự gần 30, 000 đô la ủng hộ cho
tiền tuyến.“Người cho 1 đồng, người cho 5, 10 đồng
có người đến 2,000. Chúng tôi đi từng cơ sở thương
mại, từng tư gia để nhăc nhở trách nhiệm mọi người
khi đất nước đang phải đối phó với chiến tranh” (Đức
Hà.“Tấm Lòng Người Di Dân GốcViệt.” Viet Mercury,
11 Apr. 2003: B1).
Còn
ở miền Đông Hoa Kỳ, “… một phái đoàn phụ nữ người
Mỹ gốc Việt dưới sự hướng dẫn của bà Nguyễn Thị Lễ
đã tháp tùng Dân Biểu Bob Hull đại diện tiểu bang
Virginia đến viếng Quân Y Viện Walter Reed tại Thủ
Đô Hoa Thịnh Đốn để ủy lạo các thương binh trong trận
chiến với Iraq… Phái đoàn trao tấm chi phiếu trị giá
$8,010.00 …, đồng thời phái đoàn cũng trao gần 80
tấm thiệp chúc mau lành bệnh mà các em nhi đồng, thế
hệ sau của người Mỹ gốc Việt, đã thiết kế và gửi đến
cho từng thương binh. .. [“Phái Đoàn Phụ Nữ Việt Nam
Thăm Viếng Ủy Lạo Thương Bệnh Binh Tại Y Viện Walter
Reed,” Lê Thuỳ Lan tường trình từ Hoa Thịnh Đốn (http://www.geocities.com/hoangmaidat/press/0519thamvieng.html).
Những
nghĩa cử cao qúi và hồn nhiên như thế của đồng bào
mình ở khắp nơi khiến tôi bùi ngùi, cảm động. Tôi
chợt nhiên cảm thấy xấu hổ vì lối suy nghĩ hẹp hòi
của mình đối với phần đất mới - nơi đã bao dung để
cho tôi và cả triệu người Việt khác nữa có một cuộc
sống an bình.
Bữa
đó, sẵn có thịt quay bánh hỏi, tôi nhậu cho tới khi
xỉn luôn. Và cũng bữa đó, tôi quyết định cởi bỏ cái
mặc cảm “công dân part - time” nơi quê hương mới.
Kể từ nay, như mọi người khác, tôi cũng sẽ coi lính
Mỹ thuộc “phe mình” luôn - cho nó khoẻ!
Chớ còn chờ
gì nữa đây, đây Trời? Tôi dã sống ở Hoa
Kỳ nửa cuộc đời rồi, đã nhâp tịch và tuyên
thệ “sẵn sàng cầm súng bảo vệ tổ quốc khi
cần” rồi. Hãy tưởng tượng ra một cô dâu,
đã làm lễ cưới, đã tuyên bố “I
Do” mà đêm tân hôn thì nằm quay
mặt vào tường thút thích khóc và
nhất định từ chối không chịu cởi quần… Đâu có
ăn ở cư xử kỳ cục như vậy hoài được, phải không? Mà
cái thứ di dân sồn sồn, thất cơ lỡ vận như tôi
thì “danh giá” cái con mẹ (ruợt)
gì mà còn bầy đặt làm cao (cho chúng
ghét) chớ?
Nói
giản dị theo kiểu thường dân là như thế. Nói cách
khác, văn nghệ văn gừng hơn chút đỉnh, tôi xin mượn
thơ của T.T.K.H. để diễn tả tâm trạng “khắc khoải”
của mình - như sau:
Tôi vẫn đi bên cạnh cuộc đời.
Ái ân lạnh lẽo của chồng tôi.
Và từng thu chết, từng thu chết.
Vẫn giữ trong tim một bóng người!
Hai
mươi mấy thu qua, tôi đã giữ trong tim cả đống (bóng)
người chứ đâu phải một. Dĩ vãng của tôi nặng nề quá
khiến tôi đâm ra rất lề mề khi xoay trở với hiện tại,
và thấy ái ngại (hết sức) khi nhìn về tương lai -
nếu cái tương lai này không có đồng bào và đất nước
(Việt Nam) “của mình” trong đó! Mà nghĩ cho cùng thì
đó cũng chỉ là chuyện bầy đặt “ôm rơm (cho) nặng bụng”
thôi. Xót thương xuông như thế, cho dù có quay quắt
chăng nữa, để làm gì cơ chứ? Cố hương ơi, thôi vĩnh
biệt!
* * *
“Tình ngỡ đã quên đi nhưng tình bỗng lại về!” Và
nó về rất là không đúng lúc.
“Sáng nay mở e-mail ra đọc, tôi nhận được từ
một người không hề quen biết, không kèm theo một
giòng chữ nào, bức hình một người đàn ông mà tôi
cũng chưa gặp bao giờ. Hình chụp người đàn ông đang
ngồi trên giường có trải chiếu, đằng sau là bức
tường loang lổ, hoen ố những vết đen mốc. Ông có
một bộ ria, tóc dầy và đen, một mắt to, một mắt
nhỏ mà tôi nghĩ là bị hư, chỉ còn một con. Ông không
còn chân tay. Hai chân bị cụt trên đầu gối. Và hai
tay cụt ở trên khuỷu tay, gần nách.”
 |
“Trong hình có
ghi tên ông. Ông tên là Thìn,
Nguyễn Văn Thìn. Năm sinh được ghi là 1952. Hàng
chữ phía dưới cho biết ông là thương phế binh Việt
Nam Cộng Hòa. Đơn vị cuối của ông là Trung
Đoàn 49, Sư Đoàn 25 Bộ Binh. Cấp bậc của của ông
là Trung Sĩ Nhất. Ông sinh năm 1952, tuổi Thìn
nên tên cũng là Thìn. Ông không
còn chân tay. Từ 30 năm nay, ông không
có chân, cũng không có tay.”
“ Ông làm sao sống nổi
qua bằng ấy năm không có hai chân mà cũng không
có cả hai tay. Tôi tưởng tượng, không khó khăn
lắm, cũng vẫn thấy ra được những khó khăn của
ông.
|
Trong một chế độ thân thiện
với ông, ông cũng đã vô cùng bất hạnh vì thiếu con
mắt, thiếu hai tay, lại thiếu luôn cả hai chân.
Huống chi trong một khung cảnh không thân thiện
nếu không muốn nói là thù nghịch, thì ông còn khổ
biết là bao nhiêu nữa. Tôi không dám tưởng tượng
thêm ra những chuyện khác trong đời sống hàng ngày
của ông, nếu đó có thể gọi được là một đời sống.”
Người
viết những giòng chữ mà bạn vừa đọc là ký giả Bùi
Bảo Trúc. Ông không biết tại sao bức hình như thế
đã đến tay mình, còn tôi, tôi không hiểu tại sao bức
thư của ông viết ngày 24 tháng Giêng năm 2003 mà mãi
đến bây giờ mới có người chuyển đến cho tôi.
Tôi
không đọc hết bức “Thư Gửi Bạn Ta” lần này vì tôi
không rời mắt được khỏi tấm hình của ông Thìn. Tôi
cũng tuổi thìn, Nhâm Thìn, và cũng là một kẻ chiến
bại trong cuộc chiến vừa rồi - ở Việt Nam. Sao ông
ấy mất hết cả tứ chi và đui luôn một mắt mà tôi lại
còn được nguyên vẹn cả hình hài như thế? Tự dưng sao
tôi thấy chân tay của mình thừa thãi quá? Lẽ ra, ít
nhất, tôi cũng phải mất bớt một cánh tay để chia sẻ
với anh Thìn - để anh ấy có thể “đánh răng rửa mặt
buổi sáng, ôm mấy đứa con, xoa đầu chúng, cầm tay
chúng, hay thậm chí gãi một chỗ ngứa” chứ.
Hơn
một phần tư thế kỷ qua, có phái đoàn nào ghé thăm
ông Thìn không? Có tấm thiệp nào gửi đến số nhà 9/8
đường Bông Sao, ở phường 5, quận 8, Sài Gòn cho ông
ấy không? Có ai “đi từng cơ sở thương mại, từng tư
gia để nhắc nhở trách nhiệm của mọi người” đối với
những phế binh còn ở lại quê nhà - như người ta đã
làm để đền ơn đáp nghĩa đối với những chiến binh ở
Irak - không?
Trước
tình cảnh thảm thiết của ông Thìn thì mọi niềm đau
và nỗi hận của những ông “chiến binh một đời lưu lạc”
(không biết “còn lang thang xứ lạ đến bao giờ?”) có
vẻ đều nhỏ bé và - xem chừng- hơi phù phiếm. Liệu
trong những bài diễn văn sẽ được đọc nhân dịp Ngày
Quân Lực 19 tháng 6 năm nay, ở rất nhiều thành phố
trên thế giới, có dòng chữ nào nhắc đến những phế
binh - như ông Nguyễn Văn Thìn - không nhỉ?
Trung Sĩ I Nguyễn Văn
Thìn, rõ ràng, là lính
“bên mình” mà. Còn
“lỡ” đơn vị cuối cùng của ông ấy không
phải là Sư Đoàn 25 mà là Sư Đoàn Sao
Vàng hay Sao Đỏ gì đó thì sao? Trời, chớ
bạn muốn làm sao? Bạn nhìn kỹ ông Thìn lần
nữa đi. Người phế binh đui mắt, mất hết cả hai chân, lẫn hai tay
như thế làm sao có thể móc túi lấy
“thẻ căn cước quân nhân”, “chứng chỉ tại
ngũ” hay “chứng minh thư nhân dân” để
chứng minh là ông ta “thuộc diện” nào?
Đồng đội hay đồng chí? Bên ta hay bên địch? Trong
khi chờ đợi “bên an ninh xác minh lý lịch của
đối tượng”, xin bạn (ráng) tạm thời coi ông ta (nếu
không phải là một đồng bào) như một ngườiø
đồng loại -được không? Chuyện này, đối với những người
đang cầm giữ quyền bính ở Việt Nam thì chắc chắn
là “không” rồi. Không lẽ chúng ta
cũng giống y trang như tụi nó?
(*) Tựa mượn từ một soạn phẩm chung của Nguyễn
Văn Huy và Phan Văn Hiển về cuộc sống của những thương
binh ở Việt Nam. Bài viết ngắn ngủi và vụng về này
xin được trân trọng gửi đến tất cả những ai, từ nhiều
năm qua, vẫn âm thầm và nhẫn nại làm những công việc
từ thiện để trợ giúp những phế binh Việt Nam ở quê
nhà - đặc biệt là qúi vị điều hành Hội Thiện Nguyện
Cứu Trợ Thương Phế Binh Bị Lãng Quên Ở Việt Nam, có
trụ sở đặt tại NSW, Australia. Địa chỉ liên lạc của
Hội Thiện Nguyện Cứu Trợ Thương Phế Binh Bị Lãng Quên
Ở Việt Nam như sau: 42 Cardwell St – Canley Vale.
NSW, Australia. Điện thoại: (02) 9728 3640, điện thư
(02) 9726 5003 Ngoài ra chúng tôi cũng được biết thêm
một số địa chỉ khác, của những hội đoàn khác đang
có những hoạt động tích cực tương tự, xin được ghi
lại nơi đây:
- Khối Thương Phế Binh LHCCS, P.O. Box 5055 Springfield,
VA 22150, U.S.A.
- Hội Thương Phế Binh Việt Nam 183 Senter Road,
San Jose, CA 95111. ĐT: (408) 365 1743
- Hội Giúp Đỡ Thương Phế Binh
C/O Bác Sĩ Phan Minh Hiển
215 avenue Pierre Brossolette
94170 Le Perreux Sur Marne, France. ĐT: 00.33.1.43.24.47.64
|