Kính gửi:
Bà Nhã Ca, chủ nhiệm kiêm chủ bút nhật báo Việt Báo
Bà Đỗ Mùi, chủ nhiệm nhật báo Việt Nam Tự Do
Ông Vũ Bình Nghi, chủ nhiệm kiêm chủ bút nhật
báo Việt Nam Thời Báo.
Kính
thưa qúi vị, ngày 17 tháng 3 năm 98, tờ Việt Nam Tự Do có đăng một bài
báo ngắn của ông Nguyễn Văn Chính, với tựa là " Dịch Giả 'Chế Độ Phát
Xít' Tại Bulgaria Bị Bắt". Cùng ngày, Việt Báo cũng loan tin trên, với
tựa đề hơi đổi khác: "Công An Hà Nội Sang Bulgaria Bắt Cóc Một Nhà Văn
Ly Khai V.N." Sang ngày hôm sau, ngày 18 tháng 3 năm 98, Việt Nam Thời
Báo cũng đã đi lại tin này - với tựa và nội dung y như vậy.
Bài báo
vừa dẫn, rất có thể, được phổ biến ở nhiều cơ quan truyền thông khác
nữa mà tôi không được biết. Trong trường hợp này, tôi xin chân thành tạ
lỗi vì sự thiếu sót của mình, và ước mong cũng sẽ được qúi vị hữu trách
(của những cơ quan truyền thông nói trên) lưu tâm đến sự việc mà tôi sẽ
trình bày - sau đây.
Để khỏi mất thì giờ quí vị phải tìm lại cả một chồng báo cũ, nội vụ xin
được tóm lược như sau. Vào trung tuần tháng 12 năm 97, ông Phạm Văn
Viêm - dịch giả cuốn Chế Độ Phát Xít, sau nhiều năm trốn tránh, đã bị
dẫn độ về Việt Nam. Cuốn sách nguyên văn (dường như) bằng Đức Ngữ của
Jeliu Jelev, in năm 1982, được chuyển sang tiếng Việt và xuất bản năm
1993 bởi nhà Saigon Press - ở Hoa Kỳ.
Bên trong trang bìa có in đậm những giòng chữ sau:
"Bản tiếng Việt do tác giả dịch xong từ năm 1990 tại Sofia Bulgaria,
sau đó bị sứ quán Hà Nội sử dụng công an, lùng kiếm và ngang nhiên tra
xét phòng dịch giả tại Bulgaria để tìm cách tiêu hủy và chận đứng không
cho xuất bản bằng Việt Ngữ...
"Chế độ Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam nói là chống
phát xít, vì sao phải sợ cuốn sách
này ra đời ?"
Theo lời tường thuật của ông Nguyễn Văn Chính : "Dịch giả phải lẩn
trốn, nhờ nguời dân Bulgaria che chở và giúp đỡ nên đã trốn thoát sự
giam cầm tại Sofia, và tránh khỏi sự dẫn độ về Việt Nam."
"Sau khi lánh nạn tại Bulgaria, dịch giả phải làm lại từ đầu công việc
của mình, vì tất cả tài liệu liên quan đến bản dịch lần thứ nhất đã bị
an ninh sứ quán Việt Nam tịch thu. Cuốn sách rốt cuộc đã được ra mắt
công chúng người Việt, nhờ sự tiếp tay nhiệt tình của nhà xuất bản
Sàigòn Press (Mỹ). Nó gây được tiếng vang lớn khắp trong nước lẫn ngoài
nước. Bắt hụt dịch giả... chính quyền Hà Nội vô cùng tức tối. Họ kiên
quyết dùng mọi thủ đoạn để 'giăng bẫy con mồi lớn' này."
"Và cuối năm 1997 vừa qua kế hoạch 'giăng bẫy' đã thành công. Hiện nay
anh Phạm Văn Viên đang là nạn nhân của 'Chế Độ Phát Xít Hậu Hitler '-
chính quyền Hà Nội. Sau khi bị cưỡng bức về nước, những nhân chứng
người Việt (xin được dấu tên) cho biết: an ninh sân bay Nội Bài đã dẫn
anh Viêm đi đâu không rõ."
Những giòng chữ in nghiêng (trong ngoặc kép) mà quí vị vừa đọc, được
đăng dưới hình thức của một bản tin, trên trang nhất của tờ Việt Báo -
số thượng dẫn. Có lẽ vì kỹ thuật làm tin nên tòa soạn đã lược bỏ những
chi tiết có quá nhiều cảm tính trong bài viết của ông Nguyễn Văn Chính.
Tôi xin mạo muội ghi lại và nhấn mạnh một vài chi
tiết mang nhiều cảm
xúc tính này, vì theo thiển ý,
đây không phải là một bản tin thuần túy
hay là một bài báo - như thường gặp - mà
còn là tiếng kêu cứu của đồng
hương chúng ta từ Offenbach, một thành phố bé nhỏ
thuộc miền Trung nước
Đức. "Với tư cách là nhân chứng," ông
Chính viết tiếp : « chúng tôi
buộc phải chú giải thêm vài trang ngắn ngủi để bạn
đọc có thể hình dung
ra mức độ nghiêm trọng của vấn đề..."
Ông Nguyễn Văn Chính nhắc đi nhắc lại nhiều lần sự "trùng khớp đến kinh
hoàng" về bản chất của hai chế độ phát xít và cộng sản mà cuốn sách dẫn
thượng đã nêu ra rồi kết luận:
"Và đó mới đích thực là nguồn gốc của nỗi căm ghét và sợ hãi có thật
của chế độ hiện hành ở Việt Nam đối với cuốn sách và dịch giả của nó:
anh Phạm Văn Viêm."
"Điều đó cũng có nghĩa là việc lên tiếng bảo
vệ sinh mạng cho anh Phạm
Văn Viêm của tất cả cộng đồng người Việt trong và
ngoài nước, không chỉ
còn là vấn đề ý thức chính trị mà
còn là vấn đề đạo lý nhân phẩm..."
Kính thưa qúi vị, như vừa trình bày, sự việc xảy ra vào trung tuần
tháng 12 năm 97, và ông Chính đã lên tiếng kêu cứu từ tháng 1 năm 98.
Dù chậm - ngay sau khi nhận được lời kêu cứu này - quí vị đều đã cho
phổ biến tin tức liên quan đến việc bạo hành của nhà đương cuộc Hà Nội
đối với ông Phạm Văn Viêm, cùng với lời báo động của ông Nguyễn Văn
Chính về tính cách nghiêm trọng của sự việc. Sự kiện này khiến tôi vô
cùng cảm động và thán phục sự tận tụy cũng như lương tâm chức nghiệp
của tất cả quí vị.
Tuy nhiên, vì "mức độ nghiêm trọng của vấn đề" - theo như cách kêu gọi
thống thiết của ông Nguyễn Văn Chính - sự việc nếu để chìm vào quên
lãng tôi e có điều bất ổn, nếu không muốn nói là bất nhẫn. Thưa quí vị,
sau ngày 17 tháng 3 năm 98 cho đến nay, tôi vẫn để ý nhưng không tìm
được "tin loan thêm" về trường hợp ông Phạm Văn Viêm. Ông Viêm bị cộng
sản Việt Nam "giăng bẫy" cách nào? Sự kiện "Công An Việt Nam Sang
Bulgaria Bắt Cóc Một Nhà Văn Ly Khai V.N.", như đề tựa của tờ Việt Báo,
là chuyện tự nhiên và bình thường đến độ không khiến ai trong chúng ta
thắc mắc hay bình luận gì sao?
Trong thời gian vừa qua - đọc qua một số báo chí Việt Ngữ - tôi e là
chúng ta dùng quá nhiều giấy mực chỉ để viết cho nhau những lời tàn tệ,
và quên bẵng đi lời kêu cứu cuống cuồng về mạng sống của ông Phạm Văn
Viêm. Trong một căn phòng nào đó, ở thành phố hẻo lánh Offenbach, trong
một xà lim nào đó ở Hỏa Lò Hà Nội - không chừng - cả hai ông Nguyễn Văn
Chính và Phạm Văn Viêm đều vẫn cứ còn đang thao thức ngóng trông.
Kính thưa quí vị, trong "Thư Ngỏ Của Thời Báo Kính Gửi Các Thân Chủ",
viết hôm 14 tháng 3 năm 98, ông Vũ Bình Nghi đã có đoạn đề cập đến tính
cách khách quan và trách nhiệm giới hạn của người làm báo :" Thời Báo
luôn luôn tôn trọng quyền tự do tư tưởng. Chúng tôi tường trình quí vị
thẩm định. We report - You decide."
Xin thưa, một cách tổng quát, tôi đồng ý với ông Vũ Bình Nghi về nguyên
tắc là qúi vị tường trình và chúng tôi quyết định. Tôi cũng tin rằng
đây là quan điểm làm báo dân chủ được sự đồng thuận bởi nhiều người.
Tuy nhiên, trong trường hợp của ông Phạm Văn Viêm, sau khi đọc xong
phần tường trình của quí vị, tôi đâm ra băn khoăn và bối rối.
Tôi không biết mình phải quyết định ra sao, phải
làm gì để đáp ứng lại
lời kêu gọi của ông Nguyễn Văn Chính về : "...việc
lên tiếng bảo vệ
sinh mạng cho anh Phạm Văn Viêm của tất cả cộng đồng người Việt
trong
và ngoài nước, không chỉ còn là vấn
đề ý thức chính trị mà còn là vấn
đề đạo lý nhân phẩm..."
Tôi biết lên tiếng làm sao và lên tiếng với ai đây?
Tôi đâu có thể nhờ quí vị nghị viên hay dân biểu nơi địa phương của
mình can thiệp cho ông Phạm Văn Viêm, một người mà tình trạng di trú
(immigrant status) chắc "rất mơ hồ", bị bạo hành ở tận Đông Âu và đã bị
dẫn độ về Việt Nam - nơi mà vô số những người Việt khác còn đang bị
giam cầm một cách thậm vô lý và vô thời hạn.
Tôi cũng không thể viết thư cho ông Tổng Bí Thư, ông Chủ Tịch Nước, ông
Bộ Trưởng Công An Việt Nam - hay bất cứ một ông có chức quyền mẹ rượt
nào đó tương tự - năn nỉ họ nhẹ tay cho ông Viêm vì lý do nhân đạo hay
nhân quyền gì đó. Ngoài chuyện (hơi) bị "khắc khẩu" với những người
cộng sản, tôi còn thành thực tin rằng không có loại ngôn từ nào thích
hợp với loại người này.
Hơn nữa, tôi có sự thâm tín rằng Đảng Cộng Sản Việt Nam chỉ là hiện
thân của dối trá và tội ác. Họ là tai ương và nghiệp chướng của dân tộc
Việt, thế thôi. Tôi chưa bao giờ thấy cái đảng thổ tả này, kể từ lúc nó
còn giả danh là Việt Nam Thanh Niên Cách Mạng Đồng Chí Hội, thực hiện
bất cứ điều gì vì thành tâm hay thiện ý. Mục đích duy nhất của đảng
cộng sản Việt Nam là duy trì sự hiện hữu của chính nó, bằng mọi giá,
trên đầu trên cổ người dân Việt - chấm hết!
Ngoài ra, tôi đâu được phép nhân danh ai để thỉnh cầu những kẻ đang nắm
giữ quyền bính ở Việt Nam ban bố chút ít tự do, công lý, nhân quyền hay
nhân đạo ... cho ông Phạm Văn Viêm. Tôi không tin là ông Viêm, dù đang
bị tra tấn chăng nữa, cần đến sự qụi lụy của tôi cho an nguy của bản
thân mình.
Tôi cũng không nghĩ là ông Nguyễn Văn Chính kêu gọi mọi người "lên
tiếng bảo vệ sinh mạng cho anh Phạm Văn Viên" theo cách xin sỏ đó. Sĩ
phu Việt Nam tuy không nhiều nhưng cũng chưa bao giờ thiếu, ở bất cứ
thời nào.
Trong lúc cùng quẫn, tôi cũng có (thoáng) nghĩ đến việc kêu cứu cộng
đồng người Việt ở nước ngoài. Nơi tôi cư ngụ,ï có trụ sở của một vài tổ
chức, mặt trận hay đảng phái gì đó mà sự nhờ vả can thiệp cho ông Phạm
Văn Viên chắc chắn sẽ thích hợp hơn nhưng sợ ... là không kết quả. Họ
hoạt động « âm thầm » quá, âm thầm đến độ khiến những kẻ ở ngoài tổ
chức như tôi phải lấy làm ái ngại và … nghi ngại !
Địa phương tôi tạm trú cũng có vài chục hội đoàn, với những sinh hoạt
(nhuốm vẻ) chính trị. Gọi điện thoại hay đến gõ cửa văn phòng của những
nơi này để xin họ cứu mạng cho ông Phạm Văn Viêm, tôi không ngại chuyện
không có người trả lời hay không có ai mở cửa mà chỉ sợ rằng sau khi
trình bầy vấn đề xong, tôi sẽ tự thấy mình hơi ... lố bịch - thế thôi.
Tôi chợt nhớ ra ông Phạm Văn Viên là một nhà văn, một dịch giả, một
người cầm bút và chợt nghĩ đến Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại, cùng với một
tiếng thở dài - cố nén.
Kính thưa quí vị, tôi e rằng phen này ông Phạm Văn Viêm chắc chết, chết
chắc. Mà không riêng gì cá nhân ông Viêm đâu, đời sống của cả nước đang
ở trong tình trạng chỉ mành treo chuông. Hiện trạng Việt Nam, theo như
nhận xét của một viên chức IMF, được trích dẫn nguyên văn trên trang
nhất nhật báo San Jose Mercury News ngày 17 tháng 3 năm 98 như sau:
"What is needed now is a comprehensive package of reforms. If they
continue to do nothing, the country could go off a cliff."
Mà đâu cần chờ đến hôm nay cùng với nhận xét thảng thốt của một người
ngoại quốc chúng ta mới biết đến thảm trạng của quê hương. Chúng ta
phải biết điều này hơn ai hết và biết từ lâu lắm rồi chứ. Xin đơn cử
một thí dụ, một câu chuyện gần gụi nhất.
Cách đây đã lâu, trên trang thư tòa soạn của tạp chí Thế Kỷ 21, số 103,
phát hành vào tháng 11 năm 97, ông Vương Hữu Bột đã tường thuật đôi ba
trường hợp chết đói vừa xảy ra ở Việt Nam. "Có người chết đói ngay tại
chợ Bến Thành." "Chết đói vì không có gì để ăn!" Ông ghi lại theo lời
kể của một người bạn, một doanh nhân vừa từ Sài Gòn sang Mỹ lo việc
kinh doanh.
Có lẽ sợ rằng câu chuyện viết theo lời kể như vậy thiếu căn cứ, ông chủ
bút tạp chí Thế Kỷ 21 trích dẫn thêm một câu chuyện khác, theo báo chí
- báo Thanh Niên. " Tờ báo loan tin một thiếu phụ ở Sài Gòn đã giết hai
con rồi thắt cổ tự tử. Chị ta còn đủ bình tĩnh viết lá thư để lại, giải
thích vì không có cách nào kiếm sống nên chọn cái chết."
Rồi ông Vương Hữu Bột bùi ngùi kết luận:
"Chắn mỗi người chúng ta không thể gánh trách nhiệm về hạnh phúc và an
lạc của tất cả mọi nguời khác. Nhưng tất cả chúng ta, với tính cách một
chủng loại, phải chia sẻ trách nhiệm khi còn những đồng bào khổ đau,
cùng quẫn. Một xã hội văn minh phải thu xếp với nhau đừng để cho những
cảnh cùng quẫn đó xảy ra mới phải."
Dù không có thói quen cầu nguyện hay khấn vái, tôi cũng đã nhắm mắt
thầm mong vong linh của ba mẹ con người xấu số "tìm được an lạc ở một
cõi nào đó ngoài thế gian" - như lời yêu cầu chí tình của ông Vương Hữu
Bột. Tiếc thay, tôi không thể làm một việc tương tự như vậy để đáp ứng
lại tiếng kêu cứu thống thiết (và xem chừng đã nhuốm mùi vô vọïng) của
ông Nguyễn Văn Chính, cho trường hợp của ông Phạm Văn Viêm. Tệ hơn thế,
như tôi đã thưa, tôi không biết làm gì khác và làm sao hơn nữa?
Kính thưa qúi vị, trong bài viết "Tình Hình Đất Nước Và Vai Trò Của
Đảng" của tướng Trần Độ, tôi đọc được đôi lần hai chữ "bùng nhùng".
Theo tôi, tính từ này mô tả tuyệt đúng tình trạng (hay thảm trạng) của
đảng cộng sản Việt Nam, và chắc cũng không sai nếu dùng để nói đến sinh
hoạt chính trị của khối người Việt ở nước ngoài !
Cũng trong một bài viết nào đó của qúi báo, tôi đọc được câu thơ sau
đây của Văn Cao:"Con ơi, gió đã chuyển!’’ Tôi không tin chắc là câu thơ
chấm dứt bằng một dấu chấm than nhưng nghĩ rằng nếu mình nhớ đúng thì
đây đúng là tâm trạng phấn khích, vui mừng của tác giả khi cảm được là
dân tộc Việt sắp đứng lên dành lại quê hương và quyền sống.
Tôi tiếc là ông Văn Cao không còn để
nhìn thấy gió đã chuyển thật và sẽ
chuyển mạnh ở Việt Nam. Tôi càng tiếc hơn nữa, cho
chính mình, là đang
đứng - xớ rớ, bơ vơ, lơ ngơ, lớ ngớ - ở tận một nơi thật xa, thật an
toàn, và hoàn toàn vô can đến những
biến chuyển lịch sử đang diễn ra
trên quê hương đất nước.
Cũng như Văn Cao, tôi tin là gió đã chuyển ở Việt Nam. Khác với Văn
Cao, tôi đã không lựa chọn chuyện sống và chết trên quê hương mình nên
thái độ của tôi trước những chuyển động của đất nước - xem ra - có phần
hơi lạnh nhạt. Và đây, e rằng, cũng là thái độ chung của nhiều người -
những người Việt tị nạn vì lý do (vô cùng) chính trị.
Rõ ràng, tôi vừa thốt ra đôi lời cay đắng! Kính mong được tất cả qúi vị
(hoặc bất cứ ai lỡ ghé mắt vào bức thư này) rộng lòng lượng thứ. Tôi
biết rằng mình không có tư cách gì để mỉa mai hay cay đắng với bất cứ
ai. Ở tâm trạng của một kẻ cô đơn, bơ vơ, cùng quẫn - tôi vô cùng lấy
làm tiếc là đã thiếu sự tự chế cần thiết tối thiểu.
Ngoài ra, cũng ước mong ông Nguyễn Văn Chính (nếu nhờ một phép lạ nào
đó đọc được những giòng chữ này) hiểu cho rằng là một thường dân thấp
cổ bé miệng, tôi không thể "lên tiếng bảo vệ sinh mạng cho anh Phạm Văn
Viêm" được. Tôi chỉ cố góp một tiếng kêu thương, dù biết là vô vọng -
thế thôi !
Vô cùng trân trọng và kính mến
Tưởng Năng Tiến