Ý tưởng
ngộ nghĩnh vừa ghi, tôi “lượm” được trong một cuốn
truyện của nhà văn Bùi Ngọc Tấn. Nếu bạn chưa bao giờ đi
cải tạo, nghĩa là chưa bao giờ bị ở tù, và tuyệt
nhiên không hề thấy giữa tự do và tốc độ có
tí ti liên hệ gì với nhau thì xin cho
tôi thêm vài phút để “diễn giải”
chuyện này. Tôi bảo đảm là sẽ làm tới nơi,
tới chốn.
Sinh hoạt trong trại
cải tạo, nói chung, cũng gần tương tự như cuộc sống
bên ngoài. Ở đâu thì chúng ta cũng đi, đứng, nằm,
ngồi, leo, trèo, ăn, uống, ca, hát, nói, cười, than,
khóc và - đôi khi - qùi, bò, lăn, lộn, lê, lết …
y hệt như nhau thôi. Chỉ riêng cái vụ chạy nhẩy
thì có khác, và rất khác.
Nhớ: đừng bao giờ mà chạy khi đang bị ở tù nha, cha nội.
Lỡ vệ binh hay quản giáo tưởng rằng bạn có
“ý đồ” chạy luôn thì bỏ mẹ, hay
nói chính xác hơn là … bỏ mạng!
Thêm một chút dị biệt
cần phải nói nữa là nhịp sống trong tù rất chậm.
Không phải “chậm như rùa”, như cách nói của đời
thường, mà “còn chậm hơn tốc độ con sên…” nữa kìa
- theo lời Bùi Ngọc Tấn.
Và đó là lý do tại sao, ngay sau khi vừa được phóng
thích (và may mắn được có người chở đi một quãng
đường), Bùi ngọc Tấn đã sung sướng reo lên:
“Tự do là tốc độ.
Ngồi trên xe đạp đi trên con đường nhỏ, hai bên
là rừng rậm, chỉ khoảng mười ki lô mét một giờ,
hắn thấy cây lá chạy vun vút về phiá sau. Gió vù
vù qua tai. Gió phạt hai bên má hắn mát rượi…”
“Các cảm giác, gió, tốc độ, di chuyển ấy hắn không
bao giờ nghĩ đến, quên hẳn đi rồi, vụt đến quen
thuộc, thân thiết và thích thú lạ thường. Cho mãi
về sau này, cứ nghĩ đến ngày được tha, hắn lại nhớ
đến cảm giác gió ùa phạt qua hai má hắn. Cảm giác
ấy gắn liền với buổi sáng hắn được ra tù nên nó
là tự do. Năm năm. Phải hiểu cái tốc độ năm năm
vừa qua của hắn. Đó là năm năm xà lim và sáu tháng
được ra buồng chung. Chỉ nằm một chỗ. Nằm trong
một hộp bê tông. Ngồi. Nằm. Đứng. Ngồi. Nằm. Đứng.
Bắt rệp. Nhìn kiến tha cơm. Nói vọng sang với Đỗ,
người tử tù xà lim bên kia chờ ngày đem bắn. Không
nhìn thấy trời. Chỉ có cảm giác trời qua những nan
chớp kéo xuống ở mái trần, có hàng song sắt to và
dầy. Không có một sự xáo động nào của không khí.
Suốt ngày nhờ nhờ, đục đục. Rồi ba năm ở hai trại
trung ương, có tốc độ đấy nhưng là tốc độ con rùa.”
“Hắn đi làm. Mọi người đi làm. Đầu cúi, lê từng
bước. Chậm chạp chỉ có lợi cho bọn hắn. Thời gian
đi đường là thời gian lao động. Đi nhanh ra chỗ
làm làm gì. Lúc làm cũng vậy. Cả bọn ngồi xổm, mân
mê từng lá cỏ và rứt. Rồi sển sang chỗ khác, còn
chậm hơn tốc độ con sên.” (Chuyện Kể Năm 2000. Văn
Nghệ, Hoa Kỳ 2000, 115).
Bây
giờ thì tôi tin rằng bạn đã hiểu ra tại sao Bùi Ngọc
Tấn lại trở nên hưng phấn quá cỡ, khi được ngồi trên
một chiếc xe đạp chạy nhanh “chỉ khoảng mười ki lô
mét một giờ”! Sự ngưỡng mộ của ông, trước một thứ
tốc độ (rất đáng đáng phàn nàn) như thế, khiến tôi
nhớ đến hai câu thơ của Nguyên Sa:
Sài Gòn phóng Solex rất nhanh
Đôi tay hoàng yến ngủ trong gants
(Tám Phố Sài Gòn)
Velo Solex là một thứ xe gắn máy
(rất) thổ tả thuờng thấy ở Sài Gòn, vào đầu thập niên
1960. Nó đen đủi, thô kệch, nặng nề, và - tất nhiên
- là chạy chậm rì à. Nhanh gì nổi, chớ nói chi đến
“rất nhanh”. Nó chỉ nhanh hơn xe đạp là hết sức.
Cũng như Bùi Ngọc Tấn, Nguyên Sa quả là một người
dễ tính.
Hai vị trí thức ưu tú
tiêu biểu của hai miền, hai chế độ mà dễ dãi cỡ
đó thì cỡ thường dân -tất nhiên- phải dễ chịu
(hay dễ dậy) hơn nhiều. Mang cộng hết sự dễ chịu (hay cam chịu) của
dân chúng cả nước với tốc độ (rất khiêm tốn) của xe
đạp và xe Solex chúng ta có một quốc gia Việt Nam
rất thiếu tự do. Tự do là tốc độ mà!
Và đó là chuyện đã qua,
khi đất nước còn phân ly, chinh chiến. Đến bây giờ
thì mọi chuyện cũng … y như vậy, hoặc - không chừng
– còn dám tệ hơn vậy nữa.
Nếu tình trạng lạc hậu hay tụt hậu
tới cỡ đó mà xẩy ra ở Miến Điện hay Lào (hai quốc
gia hoàn toàn bị bao bọc bởi núi rừng) thì
có thể giải thích được vì lý do địa
lý. Rừng núi không thích hợp cho sự di
chuyển của xe cộ nên người Miến và người Lào
(thường) phải dùng voi. Voi đi rất chậm. Bởi vậy, dân
chúng của hai xứ sở (mẹ rượt) này có rất ít
tự do. Và thiếu tự do tức là thiếu dân chủ
nên lạm quyền, tham nhũng, nghèo đói, bệnh tật, dốt
nát, lạc hậu là những hệ quả tất yếu.
Chuyện hội họp, biểu
tình, đốt cờ, đòi đất, đòi quyền đối lập có thể xẩy
ra ở Miên nhưng tuyệt nhiên không có ở Lào hay ở Miến
Điện. Ở Việt Nam - đương nhiên - cũng miễn có luôn,
dù dân Việt không mấy ai di chuyển bằng…voi.
Nước Miên chỉ có một phần
rất nhỏ đất đai tiếp xúc với biển mà còn được sống
(tương đối) tự do và thoải mái. Việt Nam có
tới…
Ba ngàn cây số biển xanh
Mà sao thiếu muối cho canh hàng ngày …
như vậy cà? Lý do - tôi trộm nghĩ
- có thể vì những người lãnh đạo đảng Cộng Sản Việt
Nam (cái đảng đang nắm toàn quyền và độc quyền cai
trị đất nước này từ hơn nửa thế kỷ qua) đều là những
kẻ có một dĩ vãng rất dài sống lẩn lút trong hang,
trong hầm hay bị nhốt ở trong tù. Nhịp sinh hoạt trong
mấy chỗ này, đương nhiên, vô cùng chậm. “Còn chậm
hơn tốc độ con sên” nữa kìa, nếu vẫn nói theo kiểu
Bùi Ngọc Tấn. Và điều này, chắc chắn, đã ảnh hưởng
không ít đến quan niệm của họ về tự do nên liên tiếp
trải qua mấy đời Tổng Bí Thư mà đất nước Việt Nam
vẫn cứ … vậy vậy - thôi hà.
Đến khi Nông Đức Mạnh
- một đảng viên cộng sản thuộc thế hệ đến sau, thế
hệ được nuôi dưỡng đàng hoàng “trong lòng cách mạng”,
chứ không phải chui rúc trong hang trong hầm nữa -
được lựa chọn làm Tổng Bí Thư thì cả thế giới (ít
nhiều) đã đặt kỳ vọng vào ông ấy. Và cả thế giới đã
thất vọng (não nề) vì ông ấyï.
Cuối năm 2001, một số
nông dân Việt Nam - phần lớn là phụ nữ - từ nhiều
nơi đã tụ tập về Hà Nội để kêu cứu về việc đất đai
của họ bị cán bộ điạ phương cướp đoạt. Đó là một việc
làm (vô cùng) can đảm nhưng (hoàn toàn) vô vọng, theo
như ghi nhận của David Brunnstrom, thuộc hãng tin
Reuter - vào ngày 7 tháng 12 năm 2001: “The women
protesters told reporters on Wednesday thay had come
to Hanoi in a fifth attempt to secure help from the
government and communists Party leaders, but had been
ignored.”
Và nếu họ chỉ bị phớt
lờ (ignored) - như đã xẩy ra nhiều lần trước đó -
thì cũng huề thôi. Lần này, chả may, giữa đám nông
dân ngơ ngác, dốt nát và những vị quan quyền cách
mạng lạnh lùng, tàn bạo “bỗng” xuất hiện một người
bàng quan tên là Nguyễn Khắc Toàn. Nhân vật này, nếu
nói theo kiểu Nguyễn Đình Chiểu (trong Lục Vân Tiên)
là một trang hảo hán. Lộ kiến bất bình, vung đao bạt
tụy. Giữa đường thấy cảnh bất bằng mà tha. Sự can
thiệp và lòng hào hiệp của ông được tường thuật như
sau - bởi phóng viên Tâm Việt, của đài Á Châu Tự Do,
vào hôm 31 tháng 12 năm 2001:
“Nhận thấy việc làm của họ mang
nhiều ý nghĩa hy sinh mà không kết quả, ông Nguyễn
Khắc Toàn, một cựu chiến binh đã từng tham gia trong
chiến dịch Hồ Chí Minh xâm chiếm Sài-gòn, lúc bấy
giờ 46 tuổi, bèn nẩy ra ý đứng ra giúp đỡ họ bằng
cách chỉ dẫn cho họ cách làm đơn, đi gõ cửa đúng
chỗ cần gõ cũng như làm theo thủ tục tố tụng…
“Để việc làm của những người nôn dân này, trong
đó có nhiều người là “mẹ liệt sĩ” hay thuộc gia
đình có công với cách mạng, có tiếng vang, ông Nguyễn
Khắc Toàn đã quay ra, bắt đầu từ hôm 16 tháng 12,
2001, làm những bản tin về những cuộc biểu tình
này và tìm cách phổ biến đi khắp nơi, kể cả hải
ngoại …”
Sự kiện này, dưói mắt
nhìn của ông Nông Đức Mạnh, bị coi là “dân chủ quá
độ” - nếu nói theo nguyên văn lời của ông ta. Bởi
vậy, những người tham dự biểu tình đều bị hăm doạ,
xách nhiễu, hành hung hoặc giam cầm. Riêng ông Nguyễn
Khắc Toàn, vào ngày 20 tháng 12 năm 2002, đã bị kết
án mười hai năm tù và ba năm quản chế vì tội làm …
gián điệp.
Cách ứng xử của ông
Nông Đức Mạnh khiến ai cũng phải cau mày. Mọi người
dường như đều quên bẵng đi rằng dù không phải sống
trong hang (trong hầm hay trong tù) như những vị TổngBí
Thư tiền nhiệm, ông Mạnh có gốc gác của một người
miền núi - nơi hoàn toàn không thuận tiện cho việc
dùng xe, kể cả xe bò. Do đó, quan niệm về tốc độ cũng
như về tự do của ông ta rất là giới hạn và rất gần
với quan niệm của những vị lãnh tụ nước Lào hay Miến
Điện.
Cũng như ông Mạnh, tôi
là một người miền núi. Dù không tán đồng quan niệm
tự do và dân chủ hẹp hòi của ông ấy, tôi tin rằng
mình hiểu và thông cảm (phần nào) cung cách hành sử
thô bạo vừa rồi.
Nhưng riêng việc ông Nông Đức Mạnh (thản nhiên)
kết án ông Nguyễn Khắc Toàn là gián
điệp thì tôi hoàn toàn (và tuyệt đối)
không thể hiểu. Tôi cũng “thông cảm”
không nổi với sự dối trá trắng trợn của ông ta,
dù đã ráng và rất ráng. Người miền
núi không nói dối, không bao giờ, nói
chi đến việc dựng chuyện hay ngậm máu phun người - một
cách thô bỉ, hạ tiện và đáng khinh - như thế.
Có người cho rằng vì
(quá) nặng tình với núi rừng nên tôi
đã (quá) nặng lời với một người đồng hương - bất xứng -
như ông Nông Đức Mạnh. Những tội danh đại loại như
“gián điệp”, “móc nối với thế lực
thù nghịch ở nước ngoài”, “làm tay sai
cho ngoại bang” …đều rất phổ biến trong mọi quốc gia cộng
sản chứ có riêng chi ở Việt Nam. Ở Cu Ba, ở Bắc Hàn
hay ở Trung Cộng (bây giờ) thiếu gì những tù
nhân bị gán cho những tội danh tương tự. Thực ra,
ông Mạnh đâu có nói láo, ông ấy
chỉ nói theo tập quán và thói quen
(chuyên môn chụp mũ) của một đảng viên cộng sản - thế
thôi. Điều cần phải quan tâm là bản án
quá dài mà ông Nguyễn Khắc Toàn vừa
phải lãnh chịu kìa.
Lo ngại như vậy, nói
xin lỗi nha, tôi e là không được thức thời đâu. Thời
buổi này không còn chỗ cho những kẻ di chuyển bằng
Solex hay xe đạp, chớ đừng nói chi đến chuyện đi voi
- như cái kiểu của ông Mạnh và đồng đảng.Tự do là
tốc độ mà, mấy cha. Và tự do là xu thế bất khả cưỡng
của thời hiện đại. Cái chế độ phản tiến hoá hiện tại
ở Việt Nam làm sao tồn tại được mười hai năm nữa mà
chúng ta phải bận tâm đến chuyện dài/ngắn trong bản
án Nguyễn Khắc Toàn.
K’ Tien
|