Lời giới thiệu cho bản dịch tiếng Việt
Václav Havel
sinh ngày 5 tháng Mười năm 1936 tại Praha, trong một gia đình trí thức
tư sản nổi tiếng của Tiệp Khắc. Sau Thế chiến II, sự nghiệp học hành
của ông gặp trắc trở vì lý lịch. Havel tự học và trở thành nhà văn, nhà
viết kịch. Sau khi cách mạng Mùa xuân Praha bị Hồng quân Liên Xô đàn áp
(1968), ông bị cấm viết kịch và bắt đầu hoạt động chính trị. Là người
đề xướng tuyên ngôn Hiến chương 77, ông phải ngồi tù 5 năm. Tư tưởng
chính trị và đạo đức của Havel có ảnh hưởng to lớn đến phong trào dân
chủ ở Đông Âu. Havel là lãnh tụ của cuộc Cách mạng Nhung của Tiệp khắc
năm 1989, sau đó là người đứng đầu Diễn đàn dân sự (Civic Forum), tổ
chức chính trị đã giành thắng lợi vang dội trong cuộc tuyển cử tự do
đầu tiên sau chế độ cộng sản. Ông trở thành tổng thống đầu tiên của
nước Tiệp Khắc dân chủ, sau đó được bầu là tổng thống đầu tiên của Cộng
hòa Czech. Sau khi rút lui khỏi chính trường, dù bệnh tật, Havel vẫn
ủng hộ các phong trào bất bạo động chống chế độ toàn trị ở các nước như
Cuba, và cả Việt Nam.
“
Quyền lực của không quyền lực”
[1]
(1978) là tác phẩm kết tinh tư tưởng của Havel. Tiểu luận này đã ảnh
hưởng đến các phong trào chống toàn trị ở Đông Âu, định hướng lại lý
thuyết chính trị về chế độ cộng sản, và góp phần tạo ra một làn sóng
đương đại về xã hội dân sự.
Tiểu luận mở đầu bằng một phân tích chính trị xuất sắc: định danh
thực trạng Đông Âu thời kì hậu Stalin bằng cái tên “hậu toàn trị”
[2]
. Havel đã vạch ra đặc điểm cơ bản nhất của hệ thống hậu
toàn trị: xã hội bị tha hóa thành một
hệ thống tự động vận hành. Hệ thống này nô dịch và điều khiển
tất cả
mọi người - từ giới lãnh đạo chóp bu cho đến từng người dân. Không có
ai đứng trên hay đứng ngoài hệ thống ấy: mỗi người vừa là tù nhân, vừa
là cai ngục cho hệ thống.
Trong hệ thống hậu toàn trị, “sống đời dối trá” (living a lie) bao
trùm xã hội như một định mệnh. Havel đã lột tả từng chiều cạnh của bi
kịch này. Havel - nhà văn - đã đúc kết sự dối trá ý thức hệ qua hình
ảnh: người bán rau quả treo trước quầy hàng, cùng với những lô hành và
cà-rốt, khẩu hiệu “Vô sản thế giới đoàn kết lại!”. Havel - nhà đạo đức
- đã chỉ ra tình trạng mất nhân phẩm của cá nhân, và vai trò của ý thức
hệ như là mạng che cho các cá nhân đỡ bị trần truồng trước thực trạng
ấy. Havel -nhà chính trị học - giải phẫu sự dối trá ý thức hệ với tư
cách là dung dịch điều hòa hoạt động của các cá nhân bị nô dịch và tự
nô dịch trong hệ thống, để đảm bảo cho hệ thống toàn trị vận hành nhịp
nhàng.
Nhưng, sự vĩ đại của Havel không nằm ở việc mô tả hệ thống hậu toàn trị
[3],
mà ở việc vạch ra cái mâu thuẫn đặc thù tất
yếu dẫn đến sự sụp đổ của
nó: mâu thuẫn giữa nhu cầu tự nhiên, sống động
và chân thực của đời
sống dân sự, với những đòi hỏi phi tự nhiên, chết
cứng và dối trá của
hệ thống hậu toàn trị. Trong thời kì toàn trị,
cá nhân đột ngột bị lột
khỏi các tổ chức dân sự truyền thống (gia đình, bạn
bè, các hội đoàn,
tôn giáo v.v.), để lắp vào các guồng
máy nhân tạo: nhà nước-đảng và các
đoàn thể bù nhìn. Đến thời kì hậu
toàn trị, các cỗ máy ấy dần xơ cứng,
bị giả hóa dưới mặt nạ ý thức hệ; con người phải sống đời
dối trá.
Havel, với niềm tin sắt đá vào nhu cầu được sống thật của
con người,
cho rằng đời sống dân sự chắc chắn sẽ phục hưng.
Nhìn thấy mâu thuẫn chính, riêng biệt của hệ
thống hậu toàn trị,
Havel đã không đề ra bất kì một cuộc
“cách mạng” hay “cải cách”
nào về
kinh tế, chính trị hay quân sự. Ông kêu gọi
một chiến lược hoàn toàn
mới: hãy bắt đầu từ việc giải phóng đời sống dân sự
khỏi sự dối trá
đang bao trùm. Chiến lược ấy được dệt nên từ những
hành vi thường nhật:
người bán rau đừng treo cái khẩu hiệu mà anh
không hề tin tưởng. Hãy
ngừng tham gia những trò hề bầu cử, những màn mit-tinh lố
bịch. Hãy nói
những gì mình nghĩ. Hãy làm những gì
mà hệ thống giả đò là cho phép anh
làm. Tức là, hãy sống trong sự thật.
Đương nhiên, tất cả đều hiểu mỗi hành động cá
nhân ấy có ý nghĩa gì
với một hệ thống chỉ có thể vận hành nhờ sự dối
trá tập thể: nó hô lên
rằng “Hoàng đế cởi truồng!” Chính vì
thế mà toàn bộ hệ thống sẽ ra sức
bịt miệng, đàn áp và vu khống các cá
nhân ấy. Thế là một số người, do
những lựa chọn rất riêng tư về cách sống, đột nhiên
thấy mình trở thành
các “nhà bất đồng chính kiến”. Tất
nhiên, thiểu số này chẳng là các nhà
cách mạng. Họ không có học thuyết, chẳng
dùng bạo lực, cũng không phủ
định hệ thống trên lý thuyết. Họ chỉ sống đúng
những gì mà hệ thống hứa
hẹn cho họ: quyền tự do ngôn luận, tự do lập hội, tự do đi lại
v.v., và
vì thế trong mỗi hành động thực tiễn, lại không
ngừng vạch mặt hệ
thống. Họ chỉ là những người dũng cảm hơn một chút, sống
trong sự thật
sớm hơn một chút, và chỉ có ý nghĩa khi
đằng sau họ là một không gian
của những người sống trong sự thật.
Trong không gian công toàn trị, nơi mà dối trá được đảm bảo bằng
bạo lực, đời sống trong sự thật của số đông sẽ bắt đầu một cách tự
nhiên từ trong những không gian công không chính thức: các nhóm không
chính thức, văn học ám chỉ, báo chui (hay ngày nay là Internet) v.v.
Nhu cầu sống trong sự thật, khi được thỏa mãn trong các mảnh đất ngầm
của xã hội dân sự, sẽ làm cho biên cương của nó mở rộng mãi sang các
địa hạt khác như kinh tế, tôn giáo v.v., với những đòi hỏi được thừa
nhận, được thể chế hóa ngày một tăng. Cho đến khi nó đụng lớp vỏ cứng
của hệ thống toàn trị cứng nhắc, và những chấn động trên địa hạt chính
trị bắt đầu... Có thể là hệ thống toàn trị (giờ đây bị thu hẹp vào các
thể chế quyền lực chính thức: đảng, bộ máy quan liêu, cảnh sát, quân
đội) sẽ thích ứng và nhường bước cho một trật tự xã hội mới tự hình
thành. Hoặc là nó sẽ bị cuốn trôi.
1978, trong đêm dày của chủ nghĩa toàn trị, Havel từ chối đoán mò
những diễn biến chính trị tiếp theo một khi không gian công không chính
thức đã lớn mạnh. Một thập kỉ sau, các cuộc cách mạng ở Đông Âu đã hoàn
tất chương cuối cùng của kiệt tác
Quyền lực của Không Quyền lực.
Ngày nay, được gợi hứng một phần bởi hình dung của Havel về một xã hội
dân sự sống động và tự trị, Đông Âu và nhiều nơi khác trên thế giới vẫn
đang thử làm giàu chế độ dân chủ truyền thống.
*
Ở Việt Nam, hệ thống hậu toàn trị đã thích ứng vừa kịp lúc, và nó
chưa bị cuốn trôi. Đời sống dân sự đang trỗi dậy mãnh liệt từ địa hạt
kinh tế. Trong văn hóa, không gian công phi/bán chính thức vượt trên ý
thức hệ chết cứng vẫn đang âm thầm lan rộng. Nhưng liệu Việt Nam có còn
đang trong khoảng kéo dài của chế độ hậu toàn trị, hay đã chuyển sang
một hình thái mới? Có thể phép thử của Havel sẽ cho ta một lời gợi ý:
liệu chúng ta có đang sống trong dối trá tràn lan không? Chúng ta có
đang ẩn núp dưới ý thức hệ, đang làm những thứ mà ta không tin, và bằng
cách đó tự nô dịch và bị nô dịch không?
Xin dành bản dịch kiệt tác chính trị, văn chương, và hơn hết là
kiệt tác đạo đức này cho tất cả những người Việt Nam, những người vẫn
tự hào là một dân tộc giàu đạo lý. Xin hãy tìm thêm sức mạnh từ lương
tri thời đại qua Havel, để tự tìm đường đi cho mình. Xin hãy thử kiểm
chứng và nắm lấy “quyền lực của không quyền lực”.
1/1/2006
Khải Minh
I.
Một bóng ma đang ám ảnh Đông Âu: bóng ma của cái mà phương Tây gọi
là "bất đồng chính kiến". Bóng ma ấy không xuất hiện từ hư vô. Nó là
kết quả tự nhiên và tất yếu của giai đoạn lịch sử hiện tại của cái hệ
thống mà nó đang ám ảnh. Nó được sinh ra vào thời điểm mà hệ thống ấy,
vì trăm ngàn lý do mà không còn khả năng dựa vào cách thực thi quyền
lực tùy tiện, bạo tàn và suy đồi, tận diệt mọi biểu hiện của sự bất
phục tùng. Hơn thế nữa, hệ thống đã bị xơ cứng hóa về chính trị đến mức
không còn phương cách nào khả dĩ để thể hiện sự bất phục tùng ấy trong
khuôn khổ những cấu trúc hợp pháp của nó.
Những người được gọi là "nhà bất đồng chính kiến"
này là ai? Quan
điểm của họ đến từ đâu, và nó quan trọng tới mức
nào? Tầm quan trọng
của các "sáng kiến độc lập" mà những "nhà
bất đồng chính kiến" hợp tác
trong đó, và đâu là cơ hội thành
công thực sự của những sáng kiến ấy?
Coi những "nhà bất đồng chính kiến" là đối lập
có phù hợp không? Nếu
có, thì sự đối lập ấy chính xác là
gì trong cái khung của hệ thống này?
Nó làm gì? Nó đóng vai trò
gì trong xã hội? Các hi vọng của nó
là gì và
những người này dựa vào đâu? Liệu các
nhà bất đồng chính kiến - với tư
cách là một nhóm công dân hạng hai nằm
ngoài quyền lực được thiết lập -
có chút ảnh hưởng nào lên xã hội
và hệ thống xã hội hay không? Liệu họ
có thực sự thay đổi được gì không?
Tôi nghĩ rằng việc khảo sát các câu hỏi này - một khảo sát về tiềm
năng của "không quyền lực" - chỉ có thể được bắt đầu bằng việc khảo sát
bản chất của quyền lực trong môi trường mà những người không quyền lực
này hoạt động.
II.
Hệ thống của chúng ta thường hay được mô tả như là nền độc tài, hay
chính xác hơn, là chế độ độc tài của hệ thống quan liêu chính trị trong
một xã hội đã trải qua sự cào bằng về kinh tế và xã hội. Tôi sợ rằng
khái niệm "độc tài", bất kể dễ hiểu đến mức nào trong những ngữ cảnh
khác, có xu hướng làm lu mờ hơn là làm sáng tỏ bản chất thực sự của
quyền lực trong hệ thống này. Chúng ta thường gắn thuật ngữ này với
khái niệm về một nhóm nhỏ giành chính quyền của một nước bằng bạo lực;
quyền lực của họ được sử dụng công khai, sử dụng các công cụ trực tiếp
của quyền lực họ nắm trong tay, và có thể phân biệt dễ dàng về mặt xã
hội với số đông mà họ đang thống trị. Một trong những mặt cơ bản của
khái niệm mang tính truyền thống hay cổ điển này về độc tài là giả định
rằng nó là nhất thời, tạm bợ và không có những gốc rễ lịch sử. Sự tồn
tại của nó thường gắn liền với cuộc sống của những kẻ tạo dựng nên nền
độc tài của họ. Nó thường là cục bộ về quy mô và tầm quan trọng, và bất
kể nó sử dụng ý thức hệ để khoác cho mình tính chính đáng (legitimacy),
quyền lực của nó từ sâu xa vẫn bắt nguồn từ quân số và sức mạnh vũ
trang của binh lính và cảnh sát của nó. Đe dọa cơ bản đối với sự tồn
tại của chế độ độc tài được cảm nhận là khả năng ai đó được trang bị
tốt hơn về mặt này xuất hiện và lật đổ nó.
Thậm chí xem xét khái lược và phiến diện
vừa rồi cũng đã chỉ rõ
rằng hệ thống mà chúng ta đang sống có rất
ít điểm chung với một chế độ
độc tài cổ điển. Trước tiên là, hệ thống của
chúng ta không hạn chế
theo nghĩa cục bộ, địa lý; thay vì thế, nó nắm
quyền sinh sát trong một
khối quyền lực khổng lồ được kiểm soát bởi một trong hai
siêu cường. Và
mặc dầu, khá tự nhiên là nó phải thể hiện
một số sự biến thái nhất định
về địa phương và lịch sử, phạm vi của những biến thái
này về cơ bản
được khoanh lại bởi một khung thống nhất và duy nhất trong
toàn khối
quyền lực. Không những nền độc tài ở mọi nơi [trong
khối-ND] đều dựa
trên cùng một hệ nguyên lý và được
kiến trúc theo cùng một cách (là
theo cách mà siêu cường thống trị đã tiến
hóa), mà mỗi nước đã và đang
bị xuyên thấu bởi một mạng lưới các công cụ giật
dây điểu khiển từ
trung tâm siêu cường, và hoàn toàn
nô lệ cho các lợi ích của siêu cường
ấy. Trong một thế giới bế tắc của sự cân bằng hạt nhân,
đương nhiên, so
với các nền độc tài cổ điển, tình trạng này
tạo cho hệ thống một độ an
toàn với bên ngoài chưa từng có. Nhiều cuộc
xung đột địa phương, mà nếu
xảy ra trong một quốc gia cô lập có thể dẫn tới thay đổi
về hệ thống,
nay có thể giải quyết thông qua can thiệp trực tiếp bằng
quân sự của
phần còn lại trong khối.
Hai là, nếu như một đặc tính của các nền độc
tài cổ điển là sự
thiếu gốc rễ lịch sử (thường thì họ chỉ xuất hiện không
hơn là những
quái thai lịch sử, một kết quả tình cờ từ các
quá trình xã hội ngẫu
nhiên hay từ các xu hướng [vận động của] quần
chúng), thì không thể kết
luận một cách vội vã như thế với hệ thống của
chúng ta. Vì mặc dù nền
độc tài của ta đã từ lâu hoàn toàn xa
lạ hóa mình với các phong trào xã
hội tiền thân của nó, tính hiển nhiên của
các phong trào này (tôi đang
nghĩ đến các phong trào công nhân và
xã hội chủ nghĩa của thế kỉ 19) đã
cho nó tính lịch sử không thể chối cãi.
Những nguồn gốc này cho nó một
nền tảng vững chãi đến mức nó có thể xây
dựng trên đó mãi cho đến khi
trở thành một thực tế chính trị và xã hội
hiển nhiên như nó ngày nay,
cái đã trở nên một phần không thể tách
rời được của thế giới hiện đại.
Một đặc điểm của những cội nguồn lịch sử này là "nhận
thức đúng đắn" về
các xung đột xã hội trong giai đoạn mà những phong
trào gốc này nổi
lên. Trong chính hạt nhân của "nhận thức đúng
đắn" này đã tồn tại sẵn
một khuynh hướng tất yếu dẫn tới những biến đổi kỳ quặc trong
các giai
đoạn phát triển tiếp theo của nó; tuy nhiên
đây không phải là vấn đề
thiết yếu. Và dù gì thì yếu tố này
cũng phát triển hữu cơ từ
không khí thời đại của giai đoạn đó và do vậy cũng có thể được xem là có nguồn gốc từ [thời kỳ] đó.
Một di sản của "nhận thức đúng đắn" nguyên thuỷ ấy là nét khác
thường thứ ba, cái đã khiến cho hệ thống của chúng ta khác với các nền
độc tài hiện đại khác: nó điều hành một ý thức hệ cực kì linh hoạt,
được kiến tạo một cách lo-gic, chính xác hơn, và nhìn chung là dễ hiểu,
mà trong sự toàn vẹn và chi tiết của nó, thì gần như một tôn giáo được
thế tục hóa. Nó cung cấp lời giải đáp có sẵn cho mọi câu hỏi - bất kể
là gì; nó hầu như không thể được chấp nhận từng phần, và việc chấp nhận
nó có những hệ quả vô cùng nghiêm trọng với đời sống con người. Trong
một kỉ nguyên mà sự chắc chắn siêu hình và hiện sinh đang trong trạng
thái khủng hoảng, khi con người bị quật gốc và tha hóa, đang mất dần
cảm nhận về thế giới này có nghĩa gì, không thể khác được là ý thức hệ
này có sự hẫp dẫn an thần nhất định. Với loài người đang lưu lạc, nó
hứa hẹn ngay lập tức có một mái ấm đủ đầy: tất cả những gì người ta cần
làm là chấp nhận nó, và đột nhiên mọi thứ một lần nữa trở nên rõ ràng,
cuộc sống đón nhận ý nghĩa mới, và mọi điều bí hiểm, mọi câu hỏi không
lời đáp, sự phân vân và cô đơn biến mất. Tất nhiên, con người cũng phải
trả giá đắt cho căn nhà thuê giá rẻ này: cái giá là việc anh ta phải từ
bỏ các suy nghĩ duy lý, nhận thức, và trách nhiệm, vì một đặc điểm
thiết yếu của ý thức hệ này là sự phó thác suy lý và nhận thức cho
quyền lực cao hơn. Nguyên tắc ở đây là trung tâm của quyền lực đồng
nghĩa với trung tâm của chân lý. (Trong trường hợp của chúng ta, mối
quan hệ với chính trị thần quyền kiểu La Mã phương Đông là trực tiếp:
quyền lực trần tục cao nhất trùng với quyền lực tinh thần cao nhất).
Nhưng hiển nhiên là, bên cạnh tất cả những điều này, ý thức hệ không
còn có ảnh hưởng to lớn nào lên con người, ít nhất là trong khối chúng
ta (có thể với một ngoại lệ là nước Nga, nơi mà tinh thần nô lệ, với sự
mù quáng của nó, sự sùng bái chết người đối với những người thống trị
và sự chấp nhận ngay lập tức mọi tuyên bố của họ, vẫn còn áp đảo, kết
hợp với chủ nghĩa yêu nước siêu cường - vốn có truyền thống đặt lợi ích
của đế chế cao hơn các lợi ích của con người). Nhưng điều này cũng
không quan trọng, bởi vì ý thức hệ đóng vai diễn của nó trong hệ thống
chúng ta một cách tuyệt hảo (một chủ đề mà tôi sẽ trở lại), chính vì nó
là chính nó.
Bốn là, kĩ thuật thực thi quyền lực trong các nền độc tài cổ điển
bao gồm một yếu tố cần thiết là sự ứng biến. Các cơ chế dùng quyền lực
phần lớn không được thiết lập chặt chẽ, và có khoảng không đáng kể dành
cho sự thực thi quyền lực một cách ngẫu nhiên, tùy tiện và không bị
giới hạn. Về mặt xã hội, tâm lý và vật chất, những điều kiện cho sự thể
hiện một dạng đối lập nào đó vẫn tồn tại. Một cách ngắn gọn, có nhiều
vết nối trên bề mặt có thể tách ra trước khi toàn bộ hệ thống đã tìm
được cách ổn định hóa. Trái lại, hệ thống của chúng ta được phát triển
trong hơn sáu mươi năm ở Liên bang Xô Viết, và trong khoảng ba mươi năm
ở Đông Âu; hơn nữa, nhiều trong số các đặc điểm cấu trúc cổ nhất của nó
đã bắt nguồn từ chế độ chuyên chế Nga hoàng. Trên khía cạnh vật chất
của quyền lực, điều này đã dẫn tới việc hình thành các cơ chế được xây
dựng khéo léo và tinh tế để phục vụ cho nhiệm vụ giật dây toàn bộ công
chúng một cách trực tiếp và gián tiếp, mà với tư cách là nền tảng quyền
lực vật chất, nó đại diện cho một cái gì đó rất mới. Cùng lúc đó, không
nên quên rằng hệ thống này lại được nâng cao hiệu quả một cách đáng kể
bằng sở hữu nhà nước và điều khiển từ trung ương mọi tư liệu sản xuất.
Điều này tạo cho cấu trúc quyền lực một tiềm lực chưa từng có và không
thể kiểm soát nổi để đầu tư cho chính nó (ví như trong các lĩnh vực
hành chính quan liêu và cảnh sát) và tạo thuận lợi cho cấu trúc này,
trong vai người tuyển dụng duy nhất, điều khiển sự tồn tại hàng ngày
của mọi công dân.
Cuối cùng, nếu như một bầu không khí ngập
tràn nhiệt tình cách
mạng, chủ nghĩa anh hùng và bạo lực thẳng tay trong mọi
mặt đã từng là
biểu trưng cho chế độ độc tài cổ điển, thì các vết
tích cuối cùng của
một bầu không khí như thế đã biến mất khỏi khối
Xô viết. Từ lâu, khối
này không còn là một ốc đảo bị cô lập
khỏi thế giới phát triển và miễn
nhiễm với mọi tiến trình diễn ra trong đó. Ngược lại,
khối Xô viết đã
là một phần hữu cơ của một thế giới rộng lớn hơn, chia sẻ
và định hình
số phận của thế giới. Cụ thể hơn, điều này có nghĩa
là trật tự của các
giá trị tồn tại trong các nước phát triển phương
Tây, theo một nghĩa
nào đó, đã xuất hiện trong xã hội
chúng ta (thời gian dài cùng tồn tại
với phương Tây chỉ thúc đẩy nhanh tiến trình
này mà thôi). Nói cách
khác, cái mà chúng ta đang có
đây chỉ là một dạng khác của xã hội
tiêu
thụ và công nghiệp, với tất cả những hậu quả tâm
lý, tri thức và xã hội
kèm theo. Sẽ không thể hiểu nổi bản chất của quyền lực
trong hệ thống
của chúng ta mà không tính đến điều
này.
Sự khác biệt cơ bản giữa hệ thống của chúng ta -
trên phương diện
bản chất của quyền lực - với cái chúng ta vẫn thường hiểu
là nền độc
tài, sự khác biệt mà tôi hi vọng là
đã rất rõ ràng dù chỉ từ các so
sánh phiến diện vừa qua, đã khiến tôi phải
tìm thuật ngữ thích hợp cho
hệ thống của chúng ta, hoàn toàn chỉ để phục vụ
cho tiểu luận này. Nếu
sau đây tôi gọi nó là hệ thống
hậu-toàn trị, thì tôi hoàn toàn hiểu
rằng đây có thể không phải là thuật ngữ chuẩn
xác nhất, nhưng tôi không
thể tìm ra một từ nào khả dĩ hơn. Tôi không
định ám chỉ tiền tố
hậu
(post-) có nghĩa rằng hệ thống không còn là
toàn trị nữa. Ngược lại,
tôi muốn nói rằng nó là toàn trị theo
cách hoàn toàn khác với nền độc
tài cổ điển, khác với chủ nghĩa toàn trị mà
chúng ta vẫn thường hiểu.
Tuy nhiên, những bối cảnh mà tôi vừa đề cập chỉ tạo ra một
tập hợp các yếu tố mang tính điều kiện, và một
khung hiện tượng
cho kết cấu quyền lực thực tế của hệ thống hậu toàn trị,
mà bây giờ tôi sẽ cố gắng nhận diện một số mặt.
III.
Người quản lý một cửa hàng rau quả đặt trong cửa sổ, bên cạnh những
lô hành và cà-rốt, khẩu hiệu: "Vô sản toàn thế giới, đoàn kết lại!".
Anh ta đang gắng truyền đạt gì với thế giới vậy? Có đúng là anh ta thực
lòng hào hứng với ý tưởng đoàn kết giữa những người vô sản trên thế
giới? Có thực lòng nhiệt thành của anh ta lớn đến mức anh ta cảm thấy
không cưỡng được nhu cầu khiến công chúng phải làm quen với lý tưởng
ấy? Liệu anh ta đã thực sự dành một giây phút nào nghĩ về sự đoàn kết
ấy có thể diễn ra như thế nào hay liệu nó có ý nghĩa gì không?
Tôi nghĩ, ta có thể yên tâm mà giả định rằng tuyệt đại bộ phận
người quản lí cửa hàng không bao giờ nghĩ về khẩu hiệu họ đặt trong cửa
sổ, hay dùng nó để thể hiện quan điểm thực sự của họ. Cái
poster
đó được cấp cho họ từ trụ sở doanh nghiệp, cùng với hành và cà-rốt. Anh
ta đặt nó lên cửa sổ vì đã làm như vậy trong nhiều năm, vì mọi người
đều làm thế, và vì đó là việc phải làm. Nếu anh ta từ chối, hẳn đã có
rắc rối xảy ra. Anh ta có thể bị phiền hà vì không có "vật trang trí"
thích hợp trong cửa sổ; ai đó thậm chí còn có thể tố cáo anh là không
trung thành. Anh ta làm vậy bởi vì những điều ấy là cần phải làm nếu
muốn yên thân. Đó là một trong hàng ngàn tiểu tiết đảm bảo cho anh ta
một cuộc sống tương đối yên ổn, hay "hòa hợp với xã hội", như họ vẫn
thường nói.
Tất nhiên, người bán rau bàng quan với nội dung chữ
nghĩa của khẩu
hiệu được trưng ra; anh ta chẳng đặt khẩu hiệu trong cửa sổ vì
thôi
thúc cá nhân muốn công chúng
làm quen với lý tưởng mà nó kêu gọi.
Nhưng
hiển nhiên, điều này không hề có nghĩa
là hành động của anh ta không hề
có động cơ, hoặc chẳng có ý nghĩa gì, hoặc
khẩu hiệu đó không truyền
đạt tới ai thông tin nào hết. Cái khẩu hiệu
chính là một
tín hiệu,
và theo đó nó bao hàm một thông điệp
tuy vi tế nhưng rất dứt khoát. Nói
nôm na, nó là thế này: "Tôi, người
bán rau quả XY, sống ở đây và tôi
biết việc tôi phải làm. Tôi hành xử theo
cách người ta trông đợi. Tôi
đáng tin và tôi đứng ngoài mọi rắc rối.
Tôi phục tùng và vì thế, tôi có
quyền được yên thân". Thông điệp này, tất
nhiên có người nhận: nó được
gửi lên trên, tới những người cao hơn anh bán rau,
và đồng thời nó là
lá chắn bảo vệ anh khỏi những kẻ hớt lẻo rình rập.
Vì thế, ý nghĩa thực
của khẩu hiệu bám rễ sâu vào sự tồn tại của anh
hàng rau. Nó phản ánh
lợi ích sống còn của anh ta. Vậy những lợi ích
sinh tồn ấy là gì?
Hãy dừng lại để ghi chú là: nếu người bán rau được hướng dẫn bày
khẩu hiệu: "Tôi sợ và vì thế phục tùng vô điều kiện", anh ta sẽ không
bàng quan với nội dung của nó, cho dù tuyên bố ấy là đúng sự thật.
Người bán rau sẽ cảm thấy xấu hổ và nhục nhã vì cái tuyên bố thẳng
thừng về sự mất phẩm cách của anh ta trong cửa sổ cửa hàng, và cũng tự
nhiên thôi, bởi anh là con người và vì thế mà có cảm nhận về phẩm giá
của mình. Để vượt qua sự rắc rối này, sự thể hiện lòng trung thành của
anh ta phải dưới dạng một dấu hiệu mà, ít nhất trên bề mặt từ ngữ, biểu
hiện một mức độ tin tưởng không tư lợi. Nó phải cho phép người bán rau
biện bạch: "Có gì sai với chuyện vô sản toàn thế giới đoàn kết đâu?" Vì
thế mà dấu hiệu này giúp cho người bán rau che giấu lương tâm anh ta về
cái cơ sở mong manh của sự phục tùng của mình, và cùng lúc, che giấu
nền tảng yếu ớt của quyền lực. Nó giấu chúng dưới mặt tiền của một cái
gì đó cao xa. Và cái gì đó ấy chính là
ý thức hệ.
Ý thức hệ là một cách ngụy tạo để liên hệ với thế giới. Nó ban cho
loài người ảo ảnh về một bản sắc, một phẩm giá, và một đạo đức trong
khi tạo điều kiện cho họ
từ giã
chúng. Như là một kho chứa của
một cái gì đó "siêu cá nhân"
và khách quan, nó cho phép con người
đánh
lừa nhận thức của mình, che giấu vị trí thực và
modus vivendi
[tạm dịch là “cách sống”] không vinh
quang của họ, cả với thế giới và
với chính mình. Đó là một cách, vừa
thực dụng nhưng đồng thời lại có vẻ
thần thánh, để hợp lý hóa cái gì
trên, cái gì dưới và cho mỗi bên.
Nó
hướng tới con người và hướng tới Thượng đế. Nó là
bức màn mà đằng sau
đó con người có thể che giấu sự tồn tại sa sút, sự
tầm thường hóa và
thích nghi của họ với nguyên trạng. Nó là sự
biện minh ai cũng có thể
dùng, từ người bán rau quả, người che giấu nỗi sợ
hãi mất việc làm đằng
sau cái cớ là sự quan tâm tới việc đoàn kết
của vô sản toàn thế giới,
cho đến những cơ cấu cao nhất, những người quan tâm đến việc ở
lại ngôi
cao có thể núp dưới những mệnh đề phục vụ giai cấp
công nhân. Chức năng
biện bạch cơ bản của ý thức hệ, do đó, là cho
người ta, cả với tư cách
là nạn nhân, và với tư cách là trụ
cột của hệ thống hậu toàn trị, một
ảo giác rằng hệ thống đang hòa hợp với trật tự con người
và trật tự của
vũ trụ.
Nền độc tài càng nhỏ và xã hội bên
dưới nó càng ít phân tầng do
hiện đại hóa thì ý chí của nhà độc
tài càng được thực thi một cách trực
tiếp. Nói cách khác, nhà độc tài
có thể sử dụng các nguyên tắc hầu như
trần trụi, tránh các quá trình phức tạp gắn
với ý thức hệ nhằm liên hệ
hắn với thế giới và để tự biện minh. Nhưng nếu các cơ chế
quyền lực
ngày càng phức tạp, và xã hội mà
chúng cai trị càng trở nên rộng rãi
và
bị phân hóa hơn, nếu bề dày lịch sử vận hành
của nền độc tài càng lớn,
thì các cá nhân ngày càng bị
buộc phải liên hệ với chúng từ bên ngoài,
và các biện minh ý thức hệ ngày càng
quan trọng hơn. Nó đóng vai trò
như thể là cầu nối giữa chế độ và nhân dân,
qua đó chế độ tiếp cận nhân
dân và nhân dân tiếp cận chế độ. Điều
này giải thích tại sao ý thức hệ
đóng vai trò quan trọng đến thế trong hệ thống hậu
toàn trị: thật không
thể tưởng tượng nổi nếu cơ cấu phức tạp của các đơn vị, trật tự
đẳng
cấp, vô số van an toàn, và các công cụ
gián tiếp đủ loại để giật dây -
vốn đã đảm bảo cho sự hòa hợp của hệ thống bằng vô
số cách khác nhau,
không chừa chỗ cho ngẫu nhiên - lại có thể thiếu
ý thức hệ trong vai
trò như là biện minh chung cho hệ thống, đồng thời
là biện minh của
từng bộ phận.
IV.
Giữa các mục tiêu của hệ thống hậu toàn trị
và các mục tiêu của
cuộc sống có một vực thẳm luôn ngoác ra: trong khi
cuộc sống, trong bản
chất của nó, dịch chuyển tới đa cực, đa dạng, tự tổ chức
và tự thiết
chế, và tóm lại là tới sự thực hiện quyền tự do
của nó, thì hệ thống
hậu toàn trị đòi hỏi phục tùng, thống nhất
và kỉ luật. Trong khi cuộc
sống mãi mãi đòi hỏi tạo ra các cấu
trúc mới và "khó đoán trước", hệ
thống hậu toàn trị mưu toan trói buộc cuộc sống
vào các trạng thái định
trước. Các mục tiêu của hệ thống bộc lộ đặc điểm cơ bản
nhất của nó là
tính hướng nội, một chuyển dịch dần tới [việc phục vụ]
hoàn toàn cho và
không thể đảo ngược tới chính bản thân nó,
cũng tức là bán kính ảnh
hưởng của nó cũng phải không ngừng được mở rộng. Hệ thống
này chỉ phục
vụ con người trong chừng mực vừa đủ để con người phục vụ lại nó.
Bất kì
điều gì hơn thế, tức là bất kì điều gì dẫn
con người tới việc vượt lên
các vai trò định trước của họ, đều bị hệ thống coi
là tấn công vào nó.
Và trên phương diện này, nó đã
đúng: bất kì ví dụ nào của sự lấn lướt
như thế đều là sự phủ định hệ thống một cách thực sự.
Vì thế, có thể
nói rằng, mục tiêu nội tại của hệ thống hậu toàn
trị không chỉ đơn
thuần là sự bảo tồn quyền lực trong tay bè lũ thống trị,
như mới nhìn
thoáng qua thì có vẻ thế. Thay vào
đó, hiện tượng xã hội của tự bảo tồn
phải phục tùng cái gì đó cao hơn, phục
tùng một kiểu
tự vận hành máy móc
mù quáng đang điều khiển hệ thống. Bất kể vị trí nào mà cá nhân nắm giữ
trong trật tự đẳng cấp của hệ thống, họ không được hệ thống coi là có
giá trị tự thân nào hết, mà chỉ là các vật nhằm bơm năng lượng và phục
vụ sự
tự vận hành máy móc này. Vì lý do đó, khát vọng quyền
lực của một cá nhân chỉ có thể chấp nhận được nếu định hướng của nó
trùng hợp với định hướng của cỗ máy tự động của hệ thống.
Ý thức hệ, khi đóng vai trò là cây cầu bào chữa nối giữa hệ thống
và cá nhân, đã bắc dọc qua cái vực thẳm nối hai bờ mục tiêu của hệ
thống và mục tiêu của cuộc sống. Nó giả như là các yêu cầu của hệ thống
bắt nguồn từ các yêu cầu của cuộc sống. Nó là một thế giới hình thức
đang tìm cách vượt qua hiện thực.
Hệ thống hậu toàn trị đụng chạm đến con người trong mỗi bước đi,
nhưng nó làm thế với cái găng tay ý thức
hệ. Chính vì điều này mà cuộc
sống trong hệ thống mới thấm đẫm đạo đức giả tạo và những điều
dối trá
như thế: nhà nước của quan liêu thì lại được gọi
là chính quyền nhân
dân; người lao động bị nô dịch dưới cái tên
giai cấp lao động; sự thoái
hóa hoàn toàn của cá nhân thì
được trình bày như là sự giải phóng tột
bậc; bưng bít thông tin được gọi là cung cấp
thông tin cho quần chúng,
sử dụng quyền lực để giật dây thì được gọi là kiểm
soát công cộng về
quyền lực; lạm dụng quyền lực tùy tiện thì được gọi
là tôn trọng luật
pháp, đè nén văn hóa thì được gọi
là phát triển văn hóa; sự mở rộng ảnh
hưởng đế chế thì được trình bày như thể là
giúp đỡ người bị áp bức; mất
tự do ngôn luận trở thành hình thức cao nhất của tự
do; các kì bầu cử
lố bịch trở thành hình thức dân chủ cao nhất; cấm
suy nghĩ độc lập
thành thế giới quan khoa học nhất; chiếm đóng quân
sự trở thành giúp đỡ
anh em. Vì chế độ bị nhốt chặt trong những lời dối trá
của nó, nó phải
xuyên tạc tất cả. Nó xuyên tạc quá khứ.
Nó bóp méo hiện thực và nó bịa
đặt tương lai. Nó xuyên tạc thống kê. Nó giả
đò như không nắm giữ các
cơ quan an ninh có quyền lực vô hạn và đốn mạt.
Nó vờ vĩnh tôn trọng
các quyền con người. Nó giả đò như không kết
án ai. Nó làm như không sợ
bất kì điều gì.
Nó giả vờ như không giả vờ gì cả.
Các cá nhân không cần phải tin vào tất cả những điều thần bí hóa
này, nhưng họ phải hành xử như thể là họ tin, hoặc ít nhất họ phải nhân
nhượng chúng trong im lặng, hoặc phải tử tế với những ai làm việc cho
chúng. Tuy thế, bởi lí do này mà họ phải
sống trong dối trá.
Họ
không cần chấp nhận sự dối trá. Chỉ cần họ chấp nhận sống
cùng với nó
và sống trong nó là đủ. Cũng chính
vì sự thật này, mà chính các
cá nhân
đã xác nhận hệ thống, thành toàn cho hệ
thống, làm nên hệ thống, và
là hệ thống.
V.
Chúng ta đã thấy rằng ý nghĩa thực của khẩu hiệu
của anh hàng rau
quả chẳng liên quan gì đến cái mà những từ
ngữ trong khẩu hiệu nói đến.
Dù vậy, cái ý nghĩa thực này thật rõ
ràng và nói chung là dễ hiểu, bởi
vì mật mã thật giống nhau: anh hàng rau
tuyên bố sự trung thành của anh
ta (và anh cũng chẳng thể làm cách nào
khác nếu muốn tuyên bố của mình
được chấp nhận) theo cách duy nhất mà chính quyền
có khả năng nghe
thấy; tức là, bằng cách chấp thuận các
giáo điều (ritual) định
trước, bằng cách chấp nhận rằng cái vỏ bề ngoài chính là hiện thực,
bằng cách chấp nhận các luật đã định của trò chơi. Tuy nhiên, trong khi
làm việc đó, chính anh ta đã trở thành người tham gia trò chơi, và vì
thế làm cho trò chơi có khả năng tiếp tục, và trước hết là làm cho nó
có thể tồn tại.
Nếu ý thức hệ vốn khởi đầu chỉ là chiếc cầu bắc giữa hệ thống và cá
nhân với tư cách là cá nhân, thì vào khoảnh khắc mà anh ta bước lên
cầu, nó đã trở thành cây cầu nối giữa hệ thống và cá nhân ấy - với tư
cách là bộ phận của hệ thống. Tức là, nếu ý thức hệ, vốn chỉ có thể tạo
điều kiện (bằng hoạt động hướng ngoại) cho sự hình thành quyền lực với
tư cách là một biện minh về mặt tâm lý, thì từ thời điểm mà sự biện
minh ấy được chấp nhận, ý thức hệ lại tạo ra quyền lực hướng nội, trở
thành một bộ phận năng động của quyền lực ấy. Nó đã bắt đầu hoạt động
như là công cụ chính của việc truyền đạt tín điều bên trong hệ thống
của quyền lực.
Toàn bộ cấu trúc quyền lực (và chúng ta đã thảo luận về sự thể hiện
vật chất của nó) không thể tồn tại nếu không có một trật tự "siêu hình
học" ràng buộc các bộ phận với nhau, kết nối chúng và quy phục chúng
vào một phương pháp đồng nhất xác định tính khả tín, đặt ra các luật
chơi cho sự vận hành hiệp đồng giữa tất cả những bộ phận này, tức là
với các quy tắc, giới hạn và pháp lý nhất định. Trật tự siêu hình học
này là căn bản và chuẩn mực của toàn bộ cấu trúc quyền lực; nó tích hợp
hệ thống thông tin của nó và làm cho việc trao đổi và lưu chuyển các
thông tin và mệnh lệnh trở nên khả thi. Nó cũng tương tự như một tập
hợp các đèn hiệu giao thông và biển chỉ đường, tạo cho tiến trình một
hình dạng và cấu trúc. Trật tự siêu hình học này đảm bảo sự cố kết bên
trong của cấu trúc quyền lực toàn trị. Nó là chất keo gắn kết toàn bộ
cấu trúc, là nguyên tắc bản lề, là phương tiện của kỉ luật hệ thống.
Thiếu chất keo này, toàn bộ hệ thống với tư cách là cấu trúc toàn trị
sẽ sụp đổ; nó sẽ tan vỡ thành các hạt nhân cá nhân va chạm hỗn loạn với
nhau trong các quyền lợi và thiên hướng không được kiểm soát của họ.
Toàn bộ kim tự tháp của quyền lực toàn trị nếu thiếu bộ phận gắn kết sẽ
sụp đổ vào trong chính nó, như thể là một co rút vật chất [của các ngôi
sao dưới trọng lực của chính nó -ND]
Là sự
giải thích hiện thực mà cấu
trúc quyền lực sở hữu, ý
thức hệ luôn phục tùng những lợi ích của cấu
trúc ấy trên hết. Vì thế,
nó có xu hướng tự nhiên là li khai hiện
thực, để tạo ra một thế giới
của hình thức và trở thành giáo điều. Trong
các xã hội có cạnh tranh
quyền lực một cách công khai (và do đó
có kiểm soát công khai về quyền
lực), cũng tồn tại một cách khá tự nhiên [cơ chế]
kiểm soát công khai-
là cách mà quyền lực dùng để chính
đáng hóa bản thân nó về mặt ý thức
hệ. Hệ quả là, trong các điều kiện ấy, luôn tồn tại
các cơ chế hiệu
chỉnh nhất định ngăn chặn một cách hiệu quả việc ý thức
hệ thoát ly
hiện thực hoàn toàn. Nhưng dưới chế độ toàn trị,
những cơ chế hiệu
chỉnh này biến mất, và không có gì
ngăn cản ý thức hệ ngày càng bị tách
khỏi thực tiễn, dần tự biến mình thành cái như
ngày nay trong hệ thống
hậu toàn trị: một thế giới của vỏ hình thức, hoàn
toàn giáo điều, một
ngôn ngữ kinh viện đã bị tước đi những liên hệ nội
dung với hiện thực
và hoán cải mình thành một hệ thống biểu
tượng giáo điều, hệ thống thay
thế hiện thực bằng giả-hiện thực.
Tuy nhiên, như ta đã thấy, cùng lúc ấy,
ý thức hệ lại biến thành
thành tố ngày càng quan trọng của quyền lực, một
trụ cột hứng đỡ cho nó
cả tính chính đáng và sự nhất quán
nội tại. Khi phương diện này trở nên
quan trọng, khi mà nó ngày càng mất đi cảm
nhận về hiện thực, thì nó
lại thu được một sức mạnh tuy thế tục nhưng rất thực. Nó
hóa thân thành
hiện thực, thậm chí một hiện thực hoàn toàn độc
lập. Một hiện thực mà
thậm chí ở những tầng mức nhất định (chủ yếu là trong cấu
trúc quyền
lực) còn có trọng số cao hơn cả hiện thực ngoài
đời. Cái tinh xảo của
giáo điều ngày càng trở nên quan trọng hơn
cả hiện thực ẩn đằng sau nó.
Tầm quan trọng của hiện tượng không còn xuất phát
từ bản thân hiện
tượng nữa, mà từ vị trí của nó với tư cách
là các khái niệm trong văn
cảnh ý thức hệ. Hiện thực không quy định lý thuyết,
mà ngược lại. Do
đó, quyền lực dần dần xích lại với ý thức hệ hơn
là với hiện thực; nó
rút ra sức mạnh của mình từ lý thuyết và
trở nên hoàn toàn lệ thuộc vào
lý thuyết. Điều này không thể tránh khỏi dẫn
tới một kết quả nghịch lý:
thay vì lý thuyết hay ý thức hệ phục vụ quyền lực,
quyền lực bắt đầu
hầu hạ ý thức hệ. Như thể là ý thức hệ đã
chiết tách quyền lực từ quyền
lực, như thể là chính nó đã trở
thành nhà độc tài rồi vậy. Vì thế,
có
vẻ như là chính lý thuyết, chính tín
điều, chính ý thức hệ ra các quyết
định tác động vào con người, chứ không phải ngược
lại.
Nếu như ý thức hệ là đảm bảo chính cho sự nhất quán nội tại của
quyền lực, thì cùng lúc ấy, nó càng trở nên là đảm bảo quan trọng cho
sự
liên tục của quyền lực. Trong khi sự kế nhiệm quyền lực ở
các nền độc tài cổ điển thường xuyên là một biến cố khá phức tạp (những
kẻ tranh đoạt ngôi vị không có gì để khoác cho những tuyên bố của chúng
một sự chính đáng nhất định, và vì thế buộc chúng phải dùng đến hình
thức đụng độ quyền lực trần trụi), trong hệ thống hậu toàn trị, quyền
lực được truyền từ người này sang người khác, từ nhóm này sang nhóm
khác, từ thế hệ này sang thế hệ khác theo những phương cách về cơ bản
là ổn định hơn. Khi chọn lựa những người kế nhiệm, một [cơ chế] "tạo
vua" khởi động: chính là tính chính đáng do giáo điều mang lại, khả
năng dựa vào giáo điều, thực hiện giáo điều và sử dụng nó, sẽ quyết
định ai sẽ được sinh ra ở ngôi cao. Đương nhiên, tranh giành quyền lực
tồn tại trong cả hệ thống hậu toàn trị nữa, và phần lớn chúng đều tàn
bạo hơn so với các xã hội mở, vì sự tranh giành không công khai, không
bị các quy tắc dân chủ kiềm chế, mà đều diễn ra sau hậu trường. (Thật
khó kể ra được một dẫn chứng về việc thay thế Bí thư thứ nhất của một
Đảng Cộng sản đang cầm quyền mà không có sự triển khai hàng loạt các
đơn vị an ninh và vũ trang, ít nhất là đặt dưới tình trạng báo động).
Tuy nhiên, sự giành giật này không bao giờ có khả năng đe dọa nền tảng
của hệ thống và tính liên tục của nó (như nó có thể làm trong các nền
độc tài cổ điển). Cùng lắm, nó cũng chỉ khuấy đảo cấu trúc quyền lực
trong chốc lát - cái rồi sẽ phục hồi rất nhanh, chính bởi lẽ cái chất
kết dính là ý thức hệ đã hoàn toàn không bị khuấy động. Không kể ai
thay thế ai, sự kế tục chỉ khả thi khi nó diễn ra trước phông hậu cảnh
đã dàn sẵn, trong khuôn khổ của giáo điều chung. Nó không bao giờ diễn
ra theo cách phủ nhận giáo điều ấy.
Tuy nhiên, chính vì nền độc tài của giáo điều mà quyền lực trở nên
vô danh.
Các cá nhân hầu như tan biến trong giáo điều. Họ cho phép mình bị cuốn
đi trong đó, và thường thì sự thể có vẻ như chính tín điều đã đem con
người từ u tối đến ánh sáng của quyền lực. Chẳng phải đó chính là đặc
trưng của hệ thống hậu toàn trị, là trên mọi tầng nấc của trật tự quyền
lực, cá nhân ngày càng bị đẩy sang bên lề bởi những con người không cá
tính, những bù nhìn, những tên hầu mặc đồng phục của những tín điều và
thông lệ của quyền lực đó sao?
Sự vận hành máy móc của cấu trúc quyền lực bị phi nhân hóa và vô
danh hóa là một đặc điểm của tính tự động của hệ thống này. Dường như
chính là các mệnh lệnh (
diktats) của cỗ máy tự động này là cái
đã chọn ra những người không có chí nguyện cá nhân cho cấu trúc quyền
lực. Và cũng có vẻ như chính là các
dicktats của các sáo ngữ đã
triệu tập đến cho quyền lực các cá nhân biết sử dụng sáo ngữ làm [công
cụ] hữu hiệu nhất để bảo đảm sự tự vận hành của hệ thống hậu toàn trị
vẫn tiếp tục.
Các nhà Xô viết học phương Tây thường
phóng đại vai trò của các cá
nhân trong hệ thống hậu toàn trị và bỏ qua sự thật
là các nhân vật lãnh
đạo, bất chấp quyền lực to lớn họ có từ cấu trúc tập
trung quyền lực,
thường không hơn là người thực thi mù quáng
các quy luật nội tại của hệ
thống - các quy luật mà chính họ không bao
giờ có khả năng hiểu, mà
cũng không bao giờ suy nghĩ đến. Trong bất cứ trường hợp
nào, kinh
nghiệm đã dạy đi dạy lại chúng ta rằng sự tự vận
hành này mạnh mẽ hơn
nhiều lần ý chí của bất cứ cá nhân
nào, và nếu ai đó có chút suy nghĩ
độc lập thì anh ta buộc phải che giấu nó sau cái
mặt nạ vô danh về giáo
điều mới hòng có cơ hội vào được hệ thống đẳng cấp
quyền lực. Khi cá
nhân ấy cuối cùng giành được một vị trí
trong đó, và cố gắng thực hiện
hoài bão của mình, thì cái cỗ
máy tự vận hành ấy (với sức ỳ vĩ đại) sớm
muộn sẽ chiến thắng, và hoặc là cá nhân sẽ
bị đào thải bởi cấu trúc
quyền lực như là sinh vật lạ, hoặc là anh ta sẽ bị buộc
phải dần dần từ
bỏ cá tính của mình, để một lần nữa hòa
trộn với cỗ máy, trở thành nô
lệ của nó, hầu như không phân biệt nổi với những
người đi trước và
những người tiếp sau anh ta (cho phép chúng tôi
nhắc lại, ví dụ, sự
phát triển của Husák
[4] hay Gomulka
[5]
). Sự cần thiết phải luôn náu mình dưới giáo điều và liên hệ với nó có
nghĩa là thậm chí các thành viên sáng giá của cấu trúc quyền lực cũng
bị ám ảnh bởi ý thức hệ. Họ không bao giờ có khả năng lặn xuống đáy sâu
của hiện thực trần trụi, và họ luôn nhầm lẫn nó, trong những kết luận
cuối cùng, với các
giả-hiện thực của ý thức hệ. (Theo quan điểm
của tôi, một trong những lý do ban lãnh đạo của Dubcek mất kiểm soát
tình hình năm 1968 chính là vì, trong những tình huống gay cấn và trong
những vấn đề quyết định, thành viên của nó chưa bao giờ đủ sức giải
phóng họ khỏi thế giới của các vỏ bọc hình thức.)
Do đó, có thể nói, trong hệ thống hậu toàn trị, ý thức hệ (với vai
trò là công cụ truyền đạt nội bộ, bảo đảm sự nhất quán nội tại cho cấu
trúc quyền lực) là cái gì đó vượt lên các khía cạnh vật chất của quyền
lực, một cái gì đó thống trị quyền lực ở mức độ đáng kể, và do đó có xu
hướng đảm bảo sự liên tục của quyền lực. Nó là một trong những trụ cột
của sự ổn định bên ngoài của hệ thống. Trụ cột này, tuy thế, được xây
dựng trên nền đất yếu. Nó được dựng trên những lời dối trá. Nó chỉ dùng
được chừng nào mà con người còn sẵn sàng sống trong sự dối trá ấy.
Bản tiếng Việt © 2006 Duy Tân Trẻ (
duytantre@walla.com)
© 2006 talawas
[1]Tiêu
đề bản tiếng Anh: “Power of the Powerless”, được Bác sỹ Phạm Hồng Sơn
chuyển ngữ thành “Quyền lực của không quyền lực” (phụ lục bản dịch
Thế nào là dân chủ?).
Chúng tôi dùng cách dịch của Sơn để tỏ lòng ngưỡng mộ anh, người trí
thức trẻ đã bắt đầu việc truyền tải tư tưởng dân chủ của nhân loại
trước chúng tôi.
[2]Tư
tưởng của Havel đã vạch đường cho lý thuyết chính trị học về chế độ
toàn trị sau này. Xem một phân về hậu toàn trị trong “Chế độ hậu toàn
trị-so sánh với độc tài” của Juan Linz và Alfred Stepan do nhóm Duy Tân
trẻ dịch, đăng trên
talawas.
[3]Để mô tả hệ thống
hậu toàn trị, nhiều nhà kinh tế, nhà chính
trị học ưu tú của Đông Âu cũng đã làm.
Xem, ví dụ:
Hệ thống kinh tế XHCN của Janos Kornai, do Nguyễn Quang A dịch; hoặc
Giai cấp mới của Milovan Djilas do Phạm Minh Ngọc dịch.
[4]Gustav
Husák (1913-1991): gia nhập đảng Cộng sản năm 1933, tham gia
lãnh đạo
chống sự chiếm đóng của Đức trong Thế chiến II. Sau chiến tranh,
nắm
giữ các chức vụ trong đảng và nhà nước. Năm 1951,
trong chiến dịch
thanh lọc của đảng, bị bắt và bỏ tù. Được thả năm 1960,
được tái gia
nhập đảng năm 1963, kêu gọi tự do hóa chính trị
và tự trị cho Slovakia.
Sau khi Antonín Novotný từ chức năm 1968, Husák
trở thành Phó Thủ
tướng, và là một kiến trúc sư của cải cách
năm 1968. Sau khi Liên Xô
đưa quân vào Tiệp, Husák trở nên ngày
càng thân Sô-viết. Tháng Tư 1969,
trở thành Bí thư đảng.Trong thời gian cai trị của
Husák, Tiệp Khắc đã
trở thành một nhà nước cảnh sát. Năm 1975
Husák hợp nhất chức vụ Bí thư
đảng với Chủ tịch nước, và rồi từ chức Tổng Bí thư năm
1987 nhưng giữ
vị trí Chủ tịch đến năm 1989, khi chủ nghĩa cộng sản sụp đổ ở
Czechoslovakia. Thay vào vị trí của Husák
chính là Václav Havel, ở
cương vị Tổng thống, vào ngày 29.12.1989 (talawas.)
[5]Vladyslaw
Gomulka (1905-1982): gia nhập đảng Cộng sản Ba Lan năm 1926, sống
sót
qua cuộc đại thanh lọc năm 1938 dưới bàn tay của Stalin. Từ năm
1943,
góp phần phục hồi lại đảng này với danh xưng Đảng
Công nhân Ba Lan, và
trong những năm đầu sau chiến tranh đã trở thành
nhân vật quan trọng
hàng đầu của đảng (chính ông tự gọi mình
là “người bá quyền lãnh đạo
của Ba Lan”). Nhưng trong những năm 1951-1954, do đấu đá
phe phái trong
đảng, bị lên án là “cánh hữu”,
“phản động”, và bị bỏ tù. Năm 1956, khi
bắt đầu tiến trình “giải Stalin”, ông được
phục hồi và được bầu lãnh
đạo Đảng Công Nhân Thống nhất Ba Lan, dần dần chống lại sức
ép của Liên
Xô một cách mềm mỏng. Tuy nhiên, với tư cách
thành viên của khối Hiệp
ước Warsaw, ông đã đưa quân vào Tiệp Khắc năm
1968. Gomulka cũng chịu
trách nhiệm cho việc ngược đãi sinh viên và
giới trí thức, cùng một chế
độ kiểm duyệt ngặt nghèo đối với truyền thông.
Tháng 12 năm 1970, sau
vụ xung đột đẫm máu với công nhân đóng
tàu, Gomulka bị buộc phải từ
chức, Edward Gierek nắm quyền lãnh đạo đảng. Dù sao, sau
khi chết, một
số đóng góp có tính xây dựng của
Gomulka cũng đã được nhìn nhận
(talawas).