VI.
Tại sao trên thực tế người bán rau quả của chúng ta lại phải trưng
bày lòng trung thành của mình lên cửa sổ? Chẳng phải anh ta đã chứng tỏ
lòng trung thành đủ lắm rồi qua bao thủ tục nội bộ và bán-công khai? Ở
các cuộc họp công đoàn, cuối cùng thì anh ta vẫn luôn luôn bỏ phiếu như
anh ta cần phải làm. Anh ta cũng luôn tham gia các phong trào thi đua.
Anh ta bỏ phiếu trong các kì bầu cử như là một công dân tốt. Anh ta
thậm chí còn kí "Phản-Hiến chương”
[1]
nữa ấy chứ. Tại sao, bất chấp mọi điều ấy, anh ta vẫn phải tuyên bố
lòng trung thành một cách công khai? Cuối cùng, những người đi ngang
qua cửa sổ anh ta cũng không dừng lại mà đọc nó, và theo quan niệm của
người bán rau, vô sản toàn thế giới có thể đoàn kết lại cơ mà. Sự thật
là, họ chẳng đọc khẩu hiệu này, và thậm chí cũng đúng nếu giả định là
họ cũng chẳng nhìn thấy nó. Nếu anh hỏi một phụ nữ dừng trước cửa hàng
anh ta liệu bà ta thấy gì trong cửa sổ, bà ấy chắc chắn sẽ nói cho anh
liệu họ có khoai tây hôm nay hay không, nhưng rất ít hi vọng là bà ấy
nhìn thấy khẩu hiệu, đừng nói gì đến chuyện khẩu hiệu ấy nói gì.
Có vẻ như vô nghĩa khi đòi hỏi một người bán rau công khai tuyên bố
lòng trung thành của anh ta. Tuy thế, nó vẫn có ý nghĩa. Mọi người lờ
khẩu hiệu của anh, nhưng họ làm thế vì những khẩu hiệu như thế cũng
treo ở các cửa sổ cửa hàng khác, các bốt đèn, bảng tin, cửa căn hộ và
trên các nhà cao tầng; trên thực tế, chúng ở khắp nơi. Chúng tạo thành
một phần bức tranh toàn cảnh của cuộc sống hàng ngày. Đương nhiên,
trong khi họ phớt lờ cái chi tiết, con người nhận thức rất rõ cái toàn
cảnh trong tổng thể. Và cái khẩu hiệu của người bán rau kia còn gì hơn
là một chấm đen nhỏ điểm tô cho cái phông vĩ đại của cuộc sống đời
thường?
Vì thế, người bán rau phải đặt khẩu hiệu trong cửa sổ của anh ta,
không phải với hi vọng rằng ai đó sẽ đọc hoặc sẽ bị nó thuyết phục, mà
để góp phần, với hàng ngàn khẩu hiệu khác, vào cái toàn cảnh mà tất cả
đều nhận thức rõ. Toàn cảnh này, tất nhiên, cũng có một ý nghĩa vi tế:
nó nhắc nhở mọi người rằng họ đang sống ở đâu và cái gì được chờ đợi từ
họ. Nó nói với họ về những gì mọi người khác đang làm, và chỉ cho họ
thấy rằng họ cũng phải làm nếu không muốn bị loại bỏ, bị rơi vào cô
lập, bị xa lạ hóa khỏi xã hội, phá vỡ luật chơi, và phải chịu rủi ro
của sự mất bình yên, thanh thản và an toàn.
Người đàn bà đã phớt lờ khẩu hiệu của người bán rau rất có thể đã
treo một khẩu hiệu tương tự chỉ một giờ trước đây, trên hành lang cơ
quan nơi bà ta làm việc. Bà ta làm thế không ít thì nhiều là chẳng suy
nghĩ gì, cũng hệt như người bán rau của chúng ta, và bà ta làm được
việc ấy chính bởi vì bà đang treo cái khẩu hiệu trên nền của một toàn
cảnh, và với sự nhận thức nào đó về nó, tức là, trên cái nền của toàn
cảnh mà trong đó cái cửa sổ cửa hàng anh bán rau là một phần. Khi người
bán rau đến cơ quan của bà, anh ta cũng sẽ chẳng nhận ra khẩu hiệu của
bà, cũng hệt như bà không nhận ra khẩu hiệu của anh ta. Tuy nhiên, các
khẩu hiệu của họ phụ thuộc lẫn nhau, cả hai đều được bày ra với nhận
thức nhất định về toàn cảnh chung, và ta có thể nói, dưới
diktat
của nó. Cả hai, tuy nhiên, đã góp phần tạo
ra toàn cảnh ấy, và do đó cũng tạo thành
diktat
ấy. Anh bán rau và bà văn phòng đều phải
thích nghi với những điều kiện
mà họ đang sống, nhưng khi làm thế, họ góp phần
tạo ra những điều kiện
này. Họ làm cái gì đã từng được
làm, cái gì cần phải làm, cái
gì buộc
phải làm, nhưng đồng thời, cũng chính là vì
việc ấy, họ đã xác nhận cái
gì phải làm trên thực tế. Họ tuân thủ một
đòi hỏi cụ thể, và trong khi
tuân thủ, chính họ duy trì quy định ấy. Nói
một cách bóng bẩy, không có
khẩu hiệu của người bán rau quả thì khẩu hiệu của
bà văn phòng không
tồn tại, và ngược lại. Mỗi người đề xuất với người kia rằng
có cái gì
cần phải lặp lại, và người này chấp nhận đề nghị của
người kia. Sự bàng
quan song phương của họ đối với khẩu hiệu của nhau chỉ là một ảo
ảnh:
trên thực tế, bằng cách trưng khẩu hiệu của họ, mỗi người
buộc người
kia phải tuân thủ luật chơi, và từ đây xác
nhận chính quyền lực đã đòi
hỏi khẩu hiệu từ lúc ban đầu. Thật đơn giản, mỗi người
giúp người kia
phục tùng. Cả hai là khách thể trong một hệ thống
kiểm soát, nhưng đồng
thời là chủ thể của nó. Họ vừa là nạn nhân
của hệ thống, đồng thời là
công cụ của nó.
Nếu toàn thị trấn được trát bởi toàn khẩu hiệu mà không ai đọc, thì
một mặt đó là một thông điệp từ bí thư thị trấn gửi lên bí thư vùng,
nhưng mặt khác còn là gì hơn thế: một ví dụ nhỏ của nguyên lý của
toàn trị-tự động
xã hội đang vận hành. Một phần của cái căn bản của xã hội hậu toàn trị
là nó kéo mọi người tới lãnh địa quyền lực của nó, không để họ có thể
nhận ra họ như những con người, mà để họ có thể rút cái bản sắc cá nhân
để phục vụ cái bản sắc của tập thể, tức là để họ có thể trở thành những
nhân viên của bộ máy tự động của hệ thống và đầy tớ cho các mục đích tự
định của nó, để họ có thể tham gia trong một trách nhiệm chung cho nó,
để họ có thể bị lôi kéo vào và mắc bẫy trong đó, như Faust với
Mephistopheles
[2].
Hơn thế nữa: để họ có thể thông qua sự tham gia của họ
mà tạo ra
những quy tắc ứng xử chung, và do đó mà gây
sức ép lên các công dân anh
em của họ. Và xa hơn: để họ có thể học cách cảm
thẩy thoải mái với sự
dính líu của họ, để quen với nó như thể cái
gì đó hoàn toàn tự nhiên và
tất yếu, và cuối cùng, để họ có thể-không
với bất kì sự thúc ép bên
ngoài nào - đi đến chỗ coi mọi sự không dính
líu như là bất bình
thường, là kiêu ngạo, là một sự tấn công
vào họ, là một dạng từ bỏ xã
hội. Bằng cách kéo mọi người vào cấu trúc
quyền lực, hệ thống hậu toàn
trị biến mọi người thành phương tiện của một chế độ toàn
trị qua lại,
sự
toàn trị-tự động của xã hội.
Tuy nhiên, tất cả mọi người trên thực tế đều dính
líu và bị nô
dịch, không chỉ anh hàng rau quả mà cả các
thủ tướng. Các vị trí khác
nhau trong thang đẳng cấp chỉ đơn thuần nói lên sự mức độ
dính líu khác
nhau: anh hàng rau chỉ dính líu ở mức nhỏ, đồng
thời anh ta cũng có rất
ít quyền lực. Ngài thủ tướng, đương nhiên,
có quyền lực lớn hơn, nhưng
đổi lại, ngài ấy phải dính líu sâu hơn
nhiều. Tuy nhiên, cả hai đều
không tự do, mỗi người mỗi cách. Tòng phạm thực sự
trong sự dính líu
này, không phải là ai khác nữa, mà
chính là hệ thống. Vị trí trong
thang quyền lực quyết định mức độ trách nhiệm và tội lỗi,
nhưng nó
không cho ai trách nhiệm và tội lỗi vô
biên, mà cũng không miễn tội
hoàn toàn cho ai cả. Vì thế, xung đột giữa
các mục tiêu của cuộc sống
với các mục tiêu của hệ thống không phải là
xung đột giữa hai cộng đồng
tách biệt được xác định về mặt xã hội; và
chỉ có cách nhìn trừu tượng
hóa rất cao mới cho phép ta phân chia xã hội
thành người thống trị và
kẻ bị trị (và thậm chí như vậy thì sự cũng chỉ rất
tương đối). Tuy
nhiên, đây chính là một trong những điểm
khác biệt quan trọng nhất giữa
hệ thống hậu toàn trị với nền độc tài cổ điển - nơi
mà ranh giới của
xung đột còn có thể được vạch theo các nhóm
xã hội. Trong hệ thống hậu
toàn trị, lằn ranh này chạy qua mỗi cá nhân,
vì trong mỗi người, theo
cách riêng của họ, vừa là nạn nhân, vừa
là người ủng hộ hệ thống. Cái
chúng ta hiểu về hệ thống, do đó, không phải
là một trật tự xã hội áp
đặt bởi một nhóm lên một nhóm khác,
mà là cái gì xuyên suốt toàn
xã hội
và là một yếu tố định hình nó, cái
gì đó có vẻ như không thể nắm bắt
hay định nghĩa (bởi vì trong bản chất, nó thuần
túy là một nguyên tắc),
nhưng lại được thể hiện bởi toàn xã hội như một đặc điểm
quan trọng của
đời sống của nó.
Do đó, sự thật rằng loài người đã (và
hàng ngày đang) tạo ra hệ
thống tự định hướng này, và qua đó họ tự tước đoạt
đi bản sắc sâu kín
nhất của chính họ, không phải là kết quả của sự
hiểu nhầm không thể
tưởng tượng nổi của lịch sử, hay là vì sao đó lịch
sử đã đi chệch đường
ray. Nó cũng không phải là sản phẩm của một
ý chí hắc ám tối cao nào đó
đã quyết định, do một lý do nào không
rõ, hành hạ một bộ phận của loài
người theo cách này. Nó có thể xảy ra,
và thực tế đã xảy ra chỉ vì rõ
ràng là đã tồn tại trong nhân loại hiện đại
một xu hướng nhất định
hướng tới việc tạo ra, hoặc ít nhất là cúi đầu
chấp nhận, một hệ thống
như thế. Rõ ràng có gì đó ở
nhân loại đã lên tiếng cùng với hệ thống
này, cái gì đó họ phản ánh và
dung dưỡng, cái gì đó bên trong họ đã
làm
tê liệt mọi cố gắng của phần cái Tôi nhân bản
hơn trong họ nổi dậy.
Nhân loại bị buộc phải sống trong một sự dối trá, nhưng họ
chỉ có thể
bị buộc sống như vậy nếu như họ có thể sống như vậy trên
thực tế. Do
đó, không chỉ hệ thống tha hóa con người, mà
cùng lúc, nhân loại tha
hóa cũng ủng hộ hệ thống này như thể đó là
kế hoạch tự nguyện của họ,
như là hình ảnh suy đồi của sự suy đồi của chính
họ, như là bảng kê sự
thất bại của chính con người với tư cách là
các cá nhân.
Các mục tiêu cơ bản của cuộc sống hiển hiện tự nhiên
trong mỗi con
người. Trong mỗi con người có cái gì đó
khát khao phẩm giá chân chính
của bản chất người, khát khao sự hòa hợp đạo đức, tự do
biểu hiện sự
tồn tại, và những suy nghiệm vượt lên trên thế giới
của những sinh tồn
hàng ngày. Nhưng đồng thời, mỗi con người lại có
thể, dù ít dù nhiều,
thỏa hiệp với cuộc sống trong dối trá. Mỗi con người theo
cách nào đó
quy phục tính nhân văn trong anh ta trước sự tầm thường
hóa ô nhục và
chủ nghĩa vị lợi. Trong mỗi con người luôn có chút
sẵn lòng hòa mình
với đám đông vô danh và vui vẻ trôi
cùng với nó xuống dòng sông của
cuộc sống giả tạo. Điều này không đơn giản như xung đột
giữa hai bản
sắc. Nó là cái gì đó tồi tệ hơn rất
nhiều: nó là thách thức với chính
khái niệm bản sắc.
Theo nghĩa đơn giản hóa cao độ, có thể nói rằng hệ thống hậu toàn
trị được xây dựng trên những nền tảng được xếp đặt bởi cuộc đối đầu
lịch sử giữa nền độc tài và xã hội tiêu thụ. Khả năng thích nghi nhanh
chóng với cuộc sống lừa dối, sự mở rộng dễ dàng của nền toàn trị-tự
động trong xã hội chẳng phải đã có mối liên hệ
với sự miễn cưỡng
chung của những người tôn thờ chủ nghĩa tiêu dùng khi anh ta phải vứt
bỏ một vài giá trị vật chất để đối lấy sự hòa hợp về đạo đức và tâm
hồn?
Với sự sẵn lòng từ bỏ các giá trị cao hơn khi đối mặt với các cám dỗ tầm thường hóa của văn minh hiện đại?
Với bản chất dễ tổn thương của họ
trước sức hút của tính bàng quan tập thể? Và cuối cùng, chẳng phải màu
xam xám và trống rỗng của đời sống trong hệ thống hậu toàn trị chỉ là
một bức tranh biếm họa được thổi phồng của đời sống hiện đại nói chung
đó sao? Và chẳng lẽ chúng ta tên thực tế không phải là một thứ cảnh báo
cho phương Tây, bộc lộ cho nó thấy những xu hướng tiềm tàng của nó sao?
(mặc dù theo các tiêu chuẩn thế giới bên ngoài đang sử dụng để đo mức
độ văn minh, chúng ta còn tụt lại xa phía sau).
VII.
Bây giờ, ta hãy tưởng tượng rằng một ngày kia, điều gì đó đứt gãy
trong anh chàng bán rau nọ, và anh ngừng đặt các khẩu hiệu chỉ để cho
lòng mình thanh thản. Anh ta thôi bỏ phiếu trong các kì bầu cử mà anh
biết rõ là trò khôi hài. Anh bắt đầu nói những gì anh thực sự nghĩ
trong các cuộc mit-tinh chính trị. Anh ta thậm chí còn tìm thấy sức
mạnh nội tâm để bày tỏ sự đoàn kết với những người mà lý trí của anh ta
đòi hỏi anh phải ủng hộ. Trong cuộc nổi dậy này, người bán rau quả bước
ra khỏi cuộc sống vốn chìm trong dối trá. Anh ta phủ nhận tín điều và
phá vỡ các luật chơi. Anh ta khám phá lại bản sắc và nhân phẩm bị đè
nén của mình. Anh cho tự do của mình một tầm quan trọng cụ thể. Sự nổi
dậy của anh là một cố gắng để
sống trong sự thật.
Hóa đơn thanh toán đến không chậm trễ. Anh ta sẽ bị
đưa khỏi vị trí
quản lý cửa hàng và thuyên chuyển đến
nhà kho. Lương sẽ hạ. Hi vọng về
một kì nghỉ ở Bun-ga-ri bay hơi. Việc vào đại học của con
cái bị đe
dọa. Thượng cấp sẽ sỉ nhục anh và những người công
nhân bạn bè sẽ nghi
ngờ anh. Tuy nhiên, hầu hết những người sẽ áp dụng
các đòn trừng phạt
này làm thế không vì họ thực sự kết tội anh
trong thâm tâm, mà vì các
sức ép từ hoàn cảnh, cái hoàn cảnh
đã từng gây sức ép với anh hàng rau
quả khiến anh trưng các khẩu hiệu chính thức kia. Họ
hành hạ anh hoặc
là vì họ được kì vọng là phải làm
thế, hoặc để chứng tỏ lòng trung
thành, hoặc chỉ đơn giản là một phần của cái
toàn cảnh chung, mà đi kèm
với nó là nhận thức rằng: đây là cách
xử trí với những tình huống kiểu
này, tức là, trên thực tế, là cái
mà cách mà người ta luôn làm, đặc
biệt là nếu một người không muốn đi đến chỗ chính
mình trở thành kẻ bị
nghi ngờ. Những người thi hành bản án, do vậy, cũng ứng
xử như mọi
người khác, ở mức độ thấp hay cao: với tư cách là
các thành tố của hệ
thống hậu toàn trị, với tư cách là nhân
viên của cỗ máy tự vận hành của
nó, như là các công cụ đáng thương
của hệ toàn trị-tự động xã hội.
Như vậy, cấu trúc quyền lực, qua đại diện là những người thực thi
những đòn trừng phạt, những thành tố vô danh của hệ thống, sẽ khạc
người bán rau quả ra khỏi mồm nó. Hệ thống, qua sự hiện hữu tha hóa của
nó trong con người, sẽ trừng phạt anh ta vì sự nổi loạn. Nó phải làm
thế vì logic của sự tự vận hành và tự bảo vệ của nó quy định như thế.
Người bán rau đã không thực hiện việc công kích cá nhân, đơn lẻ và cô
lập trong sự độc nhất của nó, mà là cái gì nghiêm trọng hơn rất nhiều.
Bằng việc phá vỡ các quy tắc của luật chơi, anh ta đã làm gián đoạn
cuộc chơi. Anh ta đã lột trần rằng nó chỉ là một trò chơi. Anh ta đã
đập tan thế giới hình thức, cái trụ cột căn bản của hệ thống. Anh ta
lật đổ cấu trúc quyền lực bằng cách xé toạc cái đã cố kết các phần của
nó với nhau. Anh ta đã chứng tỏ rằng sống trong sự dối trá chính là
sống dối trá. Anh ta đã phá vỡ cái mặt tiền được thần thánh hóa của hệ
thống và vạch trần cái nền móng thực của quyền lực. Anh ta đã nói rằng
vị hoàng đế cởi truồng. Và bởi vì vị hoàng đế trên thực tế đang cởi
truồng, một điều gì cực kì nguy hiểm đã xảy ra: bằng hành động của anh
ta, người bán rau đã sửa đổi cả thế giới. Anh ta cho mọi người nhìn
chăm chú vào đằng sau sân khấu. Anh ta đã cho tất cả mọi người thấy
rằng
có thể
sống trong sự thật. Sống trong dối trá chỉ có thể
tạo thành hệ thống nếu mọi người đều làm vậy.
Nguyên lý của nó phải bao
quát và xuyên thấu tất cả. Không có
thỏa hiệp nào cho phép nó cùng tồn
tại với sống trong sự thật, và do đó tất cả những ai bước
qua vạch đều
đã phủ định hệ thống
về nguyên tắc và đe dọa nó trong tính toàn thể của nó.
Điều này dễ hiểu thôi: chừng nào mà
hình thức còn chưa đụng đầu với
hiện thực, chừng đó nó còn có vẻ
không phải hình thức. Chừng nào mà
sống dối trá còn chưa đối mặt với sống trung thực,
góc nhìn cần thiết
để vạch trần sự dối trá còn bị thiếu. Nhưng ngay khi
mà cái thay thế
xuất hiện, nó lập tức đe dọa chính sự tồn tại của thế
giới hình thức và
cuộc sống dối trá, nó cho biết chúng là
gì, cả về bản chất và tính bao
trùm của chúng. Và đồng thời, việc cái thay
thế này chiếm bao nhiêu
không gian không mảy may quan trọng: sức mạnh của nó
không nằm ở các
thuộc tính vật lý mà ở ánh sáng
nó chiếu rọi vào những trụ cột này của
hệ thống và vào nền móng bất ổn của nó. Sau
cùng thì người bán rau quả
là mối đe dọa với hệ thống không phải vì sức mạnh
vật chất hay thực tế
mà anh ta có, mà bởi vì hành động
của anh vượt lên chính nó, bởi vì nó
soi rọi xung quanh, và tất nhiên, là vì
những hậu quả khôn lường của sự
sáng rõ ấy. Trong hệ thống hậu toàn trị, do
đó, sống trong sự thật vượt
lên chiều kích hiện sinh thuần túy (trả cho con
người bản chất cố hữu
của nó), hay chiều trí tuệ (phản ánh thực tiễn như
nó vốn có), hoặc
chiều kích đạo đức (làm gương cho người khác).
Nó còn có một chiều kích
chính trị không thể chối cãi. Nếu trụ cột
chính của hệ thống là
sống giả dối thì không có gì đáng
ngạc nhiên khi đe dọa cơ bản với nó
là sống thật. Chính vì điều này mà
nó phải bị đè nén mạnh mẽ hơn bất kì
điều gì khác.
Trong hệ thống hậu toàn trị, sự thật theo nghĩa rộng nhất của từ
này có tầm quan trọng đặc biệt, không hề được biết đến trong những hoàn
cảnh khác. Trong hệ thống này, sự thật đóng vai trò lớn hơn nhiều (và
khác hẳn thông thường) vì nó trở thành một yếu tố quyền lực, hoặc một
lực lượng chính trị triệt để. Sức mạnh của sự thật vận hành như thế
nào? Sự thật với vai trò là một yếu tố của quyền lực hoạt động ra sao?
Làm thế nào để quyền lực của nó - với tư cách là quyền lực - được hiện
thực hóa?
VIII.
Các cá nhân có thể bị biến thành xa lạ với chính mình chỉ khi có
cái gì đótrong
họ để mà trở nên xa lạ. Đối tượng của sự vi phạm ấy
chính là cuộc
sống chân thật của họ. Vì vậy, sống thật luôn được
đan cài trực tiếp
vào tấm thảm sống dối trá. Chính vì
cái mục tiêu [sống] chân chính, cái
[cuộc sống] thay thế đang bị đè nén này mà
[mới tồn tại] sống giả dối
với tư cách là một sự phản ứng bất chính. Chỉ
trên cái nền sống thật ấy
mà sống dối trá mới có ý nghĩa: nó
tồn tại
vì cái nền ấy. Nó
bám rễ vào trật tự sống của con người, không gì khác hơn chỉ vì nó là
sự phản ứng lại với cái mong muốn sống thật có sẵn trong mỗi con người.
[Trong xã hội] dưới bề mặt có vẻ trật tự của cuộc sống giả dối, do đó,
luôn ẩn giấu một không gian cho đời sống thật, một cách giấu giếm, nó
cởi mở và sẵn sàng đón nhận sự thật.
Quyền lực chính trị phi thường, mãnh liệt và
khôn lường của sống
thật khởi nguồn từ chân lý rằng sống công khai trong
sự thật sẽ có một
đồng minh, đương nhiên là vô hình nhưng mạnh
mẽ vô song, đó chính là
cái không gian bị che giấu. Chính là từ
không gian này mà sống thật có
thể phát triển; chính không gian này
là cái lắng nghe sự lên tiếng của
sống thật, và chính trong đó, nó tìm
thấy sự cảm thông. Đây chính là
nơi mà tiềm năng cho trao đổi còn tồn tại. Nhưng nơi
này lại bị che
giấu, và vì thế, từ quan điểm của quyền lực, là
rất nguy hiểm. Sự sôi
sục phức tạp diễn ra trong những miền mờ tối, mà với thời gian,
khi nó
lộ ra dưới ánh mặt trời như là một chuỗi bất ngờ chấn
động toàn hệ
thống thì thường là đã quá muộn để che đậy
chúng bằng các lề thói
thường ngày. Do đó, nó làm cho chế độ bị
lúng túng, hoảng hoạn và đẩy
mình tới chỗ có những phản ứng ngu xuẩn.
Có vẻ như mảnh đất nuôi dưỡng cái có thể
được hiểu là đối lập, theo
nghĩa rộng nhất của từ này, trong hệ thống hậu toàn trị
là sống trong
sự thật. Tất nhiên, sự đối đầu giữa những lực lượng đối
kháng này và
quyền lực thống trị, rõ ràng phải có hình
thức rất khác với sự đối đầu
trong các xã hội mở hoặc trong các nền độc
tài cổ điển. Thoạt đầu, sự
đối đầu này không diễn ra trên bình diện
quyền lực thực, đo đếm được và
đã được thể chế hóa (quyền lực dựa trên những
công cụ truyền thống), mà
ở trên bình diện khác hẳn: bình diện của
nhận thức và lý trí con người,
của hiện sinh. Phạm vi hiệu lực của quyền lực đặc biệt này
không thể đo
lường được theo tiêu chuẩn số lượng tông đồ, cử tri hay
quân lính, bởi
vì nó nằm trải ra trong đội quân tình
báo của nhận thức xã hội, trong
các mục đích ngầm của cuộc sống, trong khao khát
bị đè nén của nhân
loại về nhân phẩm và các quyền cơ bản, về hiện thực
hóa những lợi ích
xã hội và chính trị của họ. Sức mạnh của
nó, do đó, không dựa trên sức
mạnh của các nhóm chính trị và xã
hội theo định nghĩa, mà chủ yếu là
sức mạnh của tiềm năng, cái ẩn giấu trong toàn xã
hội, kể cả trong cấu
trúc quyền lực chính thức của xã hội ấy. Cho
nên, sức mạnh ấy không dựa
vào những người lính của mình, mà dựa
vào những người lính của kẻ thù,
bởi vì nó ở trong tất cả mỗi con người đang sống trong
giả dối, những
người có thể bị hạ gục vào bất kì khoảnh khắc
nào (ít nhất là trên lý
thuyết) bởi sức mạnh của sự thật (hoặc những người, từ ham muốn bảo vệ
địa vị mang tính bản năng mà có thể ngả theo sức
mạnh ấy). Có thể nói,
đó là thứ vũ khí vi trùng, được sử dụng khi
các điều kiện đã chín muồi
cho một dân thường loại khỏi vòng chiến cả một sư
đoàn. Sức mạnh này
không tham gia bất kì một cuộc đấu tranh trực tiếp
giành quyền lực nào;
thay vào đó, nó gây ảnh hưởng đơn giản chỉ
bởi vì nó là chính nó. Tuy
thế, chuyển động ngầm mà nó gây nên có
thể hiện thân thành cái gì đó
hiện hữu: một sự kiện hay hành động chính trị thực, một
phong trào xã
hội, sự bộc phát những bất ổn xã hội, các xung đột
gay gắt trong trong
lòng cấu trúc quyền lực tưởng chừng thống nhất một khối,
hoặc chỉ đơn
giản là sự biến đổi không cưỡng được trong bầu không
khí xã hội và trí
thức (khi nào, ở đâu, dưới những điều kiện nào,
và ở quy mô nào thì
thật khó dự đoán). Và vì tất cả những vấn
đề và trục trặc thực sự thì
đều bị che giấu bên dưới lớp vỏ cứng dày của sự dối
trá, không bao giờ
rõ ràng khi nào thì cọng rơm rơi xuống, như
tục ngữ nói, hay cọng rơm
ấy là gì. Điều này cũng là lí do tại
sao chính quyền kết án, hầu như
một phản xạ không điều kiện có tính ngăn chặn,
những cố gắng dù khiêm
tốn nhất nhằm sống trong sự thật.
Tại sao Solzhenitsyn
[3]bị
tống ra nước ngoài? Chắc chắn không phải vì
ông đại diện cho một đơn
vị quyền lực thực sự, tức là, không phải vì một đại
diện nào đó của
chính quyền cảm thấy ông có thể lật ghế họ
và thay vị trí của họ trong
chính quyền. Trục xuất Solzhenitsyn là một điều gì
khác: một cố gắng
tuyệt vọng để nút cái suối nguồn sự thật rất đáng
sợ ấy, cái sự thật có
thể gây ra những biến đổi không tính hết được trong
nhận thức xã hội,
cái mà đến lượt nó lại có thể, một
ngày kia, gây ra tiêu vong chính trị
với những hậu quả khôn lường. Và vì thế,
chính quyền hậu toàn trị ứng
xử theo cách điển hình: nó bảo vệ sự toàn
vẹn của thế giới hình thức
nhằm bảo vệ chính nó. Bởi vì cái lớp vỏ
cứng tạo bởi đời sống dối trá
được làm từ một thứ nguyên liệu kì quái.
Chừng nào nó còn bịt kín mít
toàn xã hội, chừng đó nó còn
có vẻ như làm bằng đá. Nhưng vào thời điểm
ai đó xuyên thủng nó ở một điểm, vào
lúc ai đó kêu lên "Hoàng đế cởi
truồng kìa" - khi một người phá vỡ luật chơi, và
vì thế mà vạch rõ nó
chỉ là một trò chơi - thì tất cả đột nhiên
lộ ra dưới một ánh sáng khác
và toàn khối thạch bì từ đây dường như được
làm từ giấy mỏng, và sự tan
rã là không thể kiểm soát nổi nữa.
Khi tôi nói về việc sống trong sự thật, tất nhiên tôi không có ý
nghĩ chỉ có những sản phẩm của tư duy khái niệm, như một sự phản đối
hay một kháng thư của một nhóm trí thức. Nó có thể là bất kì phương
tiện nào mà nhờ đó cá nhân hay một nhóm nổi dậy chống lại sự giật dây:
bất kì cái gì, từ một bức thư của một nhóm trí thức, đến bãi công của
công nhân, từ một đêm nhạc rock đến biểu tình của sinh viên, từ việc từ
chối bỏ phiếu trong những màn bầu cử lố bịch hay đọc diễn văn ở một đại
hội chính thức nào đó, đến thậm chí là một cuộc tuyệt thực. Nếu đàn áp
các mục tiêu của cuộc sống là một quá trình phức tạp, và nếu sự đàn áp
này dựa trên việc phải đồng loạt giật dây mọi phương diện thể hiện của
cuộc sống, thì cũng chính vì thế mà bất cứ sự thể hiện tự do nào cũng
đều gián tiếp đe họa hệ thống hậu toàn trị về mặt chính trị, bao gồm cả
những hình thức thể hiện mà nếu ở trong các hệ thống xã hội khác thì
không ai có thể nghĩ rằng nó có một ý nghĩa chính trị tiềm tàng nào
đấy, chứ đừng nói gì đến chuyện nó có năng lượng có thể bùng nổ.
Mùa xuân Praha thường được hiểu như là sự đụng độ
giữa hai nhóm
trên bình diện sức mạnh thực chất: những người muốn duy
trì hệ thống
như nó vốn có, và những người muốn cải cách
nó. Nhưng người ta thường
xuyên quên rằng, sự đối đầu này chỉ là
hành động sau chót và là kết quả
tất yếu của của một vở kịch dài đầu tiên được công
diễn chủ yếu trong
các nhà hát của tinh thần và trong nhận
thức của xã hội. Và rằng ở nơi
nào đó vào lúc bắt đầu tấn kịch, có
những cá nhân sẵn sàng sống trong
sự thật, thậm chí kể cả khi mọi thứ ở vào lúc tồi
tệ nhất. Những người
này không có kênh tiếp cận nào với
quyền lực thực, mà cũng không khơi
dậy nó. Những lãnh địa mà họ đang sống thật thậm
chí không nhất thiết
là lãnh địa của tư tưởng chính trị. Họ có
thể là nhà thơ, họa sỹ, nhạc
sỹ, hoặc đơn giản chỉ là những công dân bình
thường, những người có khả
năng duy trì giá trị nhân văn của họ. Ngày
nay, tất nhiên là khó để
truy nguyên khi nào và qua những đường hầm rộng mở
và lộng gió nào mà
một hành động hay thái độ nào đó đã
bắt đầu gây ảnh hưởng lên hệ thống
này, mà cũng khó lần theo những siêu vi
trùng của chân lý, bởi vì nó từ
từ lan ra trong những mô tế bào của đời sống giả dối, dần
dần khiến nó
phải tan rữa. Tuy nhiên, có một điều có vẻ
rõ ràng: cố gắng cải cách
chính trị không phải là nguyên nhân
làm bừng tỉnh xã hội, mà là kết quả
cuối cùng của sự bừng tỉnh ấy.
Tôi cho rằng có thể hiểu hiện tại rõ hơn dưới
ánh sáng của kinh nghiệm này. Sự đối đầu giữa 1000
nhà Hiến chương
[4]
với hệ thống toàn trị dường như [là sự đối đầu] vô
vọng về chính trị.
Điều này đúng, đương nhiên, nếu chúng ta
nhìn nó qua những lăng kính cổ
điển của hệ thống chính trị mở, trong đó, khá tự
nhiên là mọi lực lượng
chính trị phải được đo bằng những vị trí của nó
trong thang đo quyền
lực thực tế. Với góc nhìn ấy, một tiểu-đảng như Hiến
chương hoàn toàn
không có cơ hội nào. Nhưng, nếu sự đối đầu ấy được
quan sát trên cái
nền những điều mà ta đã biết về quyền lực trong hệ thống
hậu toàn trị,
sự kiện này sẽ được soi rọi dưới ánh sáng
hoàn toàn khác. Trong thời
gian hiện tại, chưa thể nói đích xác ảnh hưởng của
sự xuất hiện Hiến
chương 77, sự tồn tại của nó, và những gì
nó đã làm trong không gian
ngầm, và liệu những cố gắng của Hiến chương nhằm nhóm
lên sự tự ý thức
và và niềm tin dân sự nên được xem xét
ở đây như thế nào. Liệu sự đầu
tư này, rốt cuộc, có tạo ra tiền lãi cổ phần theo
nghĩa những thay đổi
chính trị cụ thể hay không, vào lúc
nào và theo cách nào, lại càng
khó
dự đoán hơn nữa. Nhưng điều đó, tất nhiên,
là sống trong sự thật. Là
một giải pháp hiện sinh, nó đưa con người trở lại với nền
tảng vững
chắc của bản chất của họ; về chính trị, nó ném họ
vào một canh bạc được
ăn cả, ngã về không. Chính vì lí do
này, nó chỉ được chọn bởi những
người sẵn sàng chịu mạo hiểm, hay bởi những người đã đi
tới kết luận là
không còn cách nào khác để thực thi
nền chính trị thực chất ở Tiệp khắc
ngày nay. Điều này, tuy thế, cũng chỉ là một: chỉ
những ai không chịu
hi sinh bản chất người của mình vì chính trị, hay
những ai không tin
vào một nền chính trị đòi hỏi sự hi sinh như thế,
mới có thể đi tới kết
luận này.
Hệ thống hậu toàn trị càng ngược đãi bất kì một đối thủ nào trên
bình diện quyền lực thực tế bao nhiêu, càng đàn áp bất kì hình thức
chính trị nào độc lập với các luật vận hành tự động của nó bao nhiêu,
thì sức nặng của các mối đe dọa chính trị tiềm tàng sẽ càng chuyển tới
khu vực hiện sinh và tiền chính trị bấy nhiêu: thường là không cần tới
cố gắng có ý thức nào, sống trong sự thật trở thành điểm xuất phát tự
nhiên của mọi hoạt động chống lại sự tự vận hành của hệ thống. Và thậm
chí nếu những hoạt động như vậy cuối cùng vượt lên trên lãnh địa của
việc sống trong sự thật (có nghĩa là chúng đã chuyển thành vô số các
phong trào, tổ chức, thể chế song song, nếu chúng bắt đầu được coi là
hoạt động chính trị, mang đến sức ép thực tiễn lên cấu trúc chính thức,
và trên thực tế đã bắt đầu có ảnh hưởng ở tầng mức quyền lực thực, thì
chúng vẫn luôn mang trong mình những dấu vết đặc thù về cội nguồn của
chúng. Do đó, đối với tôi, có vẻ như là ngay cả cái gọi là phong trào
bất đồng chính kiến cũng không thể được hiểu đúng nếu không ngừng lưu ý
về cái nền đặc biệt mà từ đó nó xuất hiện.
IX.
Sự khủng hoảng nghiêm trọng của con người xuất hiện do sống trong
dối trá, một cuộc khủng hoảng mà đến lượt nó lại làm cho một cuộc sống
như vậy trở nên khả thi, chắc chắn phải mang một chiều kích đạo đức
nữa: nó bộc lộ, bên cạnh những đặc điểm khác, như là một
cuộc khủng hoảng đạo đức sâu sắc trong xã hội.
Một người đã từng bị hấp dẫn bởi hệ thống giá trị
tiêu thụ, người mà
bản sắc đã bị hòa tan trong những trang phục hỗn tạp của
nền văn minh
đại chúng, người không có gốc rễ trong trật tự của
tồn tại, không có
cảm nhận trách nhiệm về bất kì cái gì
ngoài sự sinh tồn của bản thân,
là một người bị vô đạo đức hóa. Hệ thống dựa
vào sự vô đạo đức hóa này,
khoét sâu nó, và trên thực tế hệ thống
ấy chính là sự phóng chiếu sự vô
đạo đức lên xã hội.
Ngược lại, sống trong sự thật, như là sự nổi dậy của con người
chống lại sự sắp đặt cưỡng bức, là một cố gắng giành lại
quyền kiểm
soát cảm nhận của cá nhân về trách nhiệm.
Nói cách khác, nó hiển nhiên
là một hành vi đạo đức, không chỉ vì người
ta phải trả giá đắt cho nó,
mà cơ bản là vì nó vô tư lợi: rủi ro
có thể được đền đáp dưới hình thức
chữa lành bệnh cho hiện trạng, mà cũng có thể
không. Về mặt này, như
tôi đã trình bày trước đây, nó
là một canh bạc được tất hoặc mất tất,
và thật khó mà tưởng tượng được một con người duy
lý lại bước lên con
đường chông gai ấy chỉ vì anh ta tin rằng hi sinh
hôm nay sẽ đem lại
lợi ích ngày mai - dưới hình thức sự cảm
kích của công chúng. (Nhân
tiện, những người đại diện cho quyền lực luôn vu khống những
người sống
trong sự thật bằng cách không ngừng quy kết những động cơ
vị lợi cho họ
- sự thèm muốn quyền lực, danh vọng, hay tiền tài -
và do đó chúng đã
thử, ít nhất là tìm cách dính
líu những người sống trong sự thật này
vào thế giới của chúng, thế giới của sự phi đạo đức tổng
thể).
Nếu cuộc sống chân thật trong hệ thống hậu toàn trị trở
thành mảnh
đất chính nuôi dưỡng các ý tưởng
chính trị độc lập thay thế
(alternative), thì mọi xem xét về bản chất và viễn
cảnh tương lai của
những ý tưởng này nhất thiết phải phản ánh chiều
kích đạo đức này như
là một hiện tượng chính trị. (Và nếu niềm tin
Mác-xít rằng đạo đức là
một sản phẩm của thượng tầng kiến trúc đã ngăn cản ai
đó trong số bạn
bè của chúng ta nhận thức ra ý nghĩa đầy đủ của
chiều kích này, và bằng
cách này hay cách khác đã gộp
nó [đạo đức theo quan điểm của Mác-xít]
vào trong thế giới quan của họ, thì người thiệt hại
chính là bản thân
họ: lòng trung thành khắc khoải với các
nguyên lý của thế giới quan này
không cho họ hiểu biết đầy đủ những cơ chế ảnh hưởng chính
trị của họ,
vì thế, nghịch lý thay, nó khiến họ, với tư
cách là những người
Mác-xít, lại trở nên chính xác
là cái mà họ vốn luôn nghi kỵ ở những
người khác, đó là trở thành các nạn
nhân của “nhận thức sai lầm”) Tầm
quan trọng chính trị đặc biệt của đạo đức trong hệ thống hậu
toàn trị
là hiện tượng mà ít nhất là rất hiếm
có trong lịch sử chính trị hiện
đại, một hiện tượng rất có thể có những hậu quả sâu
xa - như tôi sẽ sớm
cố gắng chỉ ra.
X.
Không thể phủ nhận rằng, sự kiện chính trị quan trọng nhất
ở Tiệp
khắc sau sự kiện Husák lên cầm quyền năm 1969 là sự
xuất hiện của Hiến
chương 77. Bầu không khí trí thức và tinh
thần bao quanh sự xuất hiện
của nó, tuy nhiên, không phải là sản phẩm của
bất kì sự kiện chính trị
trực tiếp nào. Bầu không khí ấy được tạo ra bởi
phiên tòa xét xử một số
nhạc sĩ trẻ có quan hệ với một nhóm nhạc rock gọi
là "Những người nhựa
của vũ trụ". Phiên tòa của họ không phải là
sự đối đầu của hai lực
lượng hay quan niệm chính trị khác nhau, mà
là hai quan niệm cuộc sống
khác nhau. Một bên là giáo lý khổ
hạnh khô cằn của thành tựu hậu toàn
trị, và bên kia là một nhóm người
không tên tuổi, không muốn gì hơn là
sống trong sự thật, chơi nhạc mà họ thích, hát
các bài hát thích hợp
với cuộc sống của họ, và sống tự do trong danh dự và
tình bạn. Những
người này không hề có quá khứ hoạt động
chính trị. Họ không phải là
những thành viên rất tích cực với các tham
vọng chính trị, hay là các
cựu chính trị gia bị gạt khỏi cấu trúc quyền lực. Họ
đã được cung cấp
mọi cơ hội để thích nghi với nguyên trạng, sống trong dối
trá, hưởng
thụ cuộc đời không bị chính quyền quấy nhiễu. Tuy thế, họ
vẫn quyết
định đi con đường khác. Cho dù thế, hay đúng hơn,
chính vì thế, mà
trường hợp của họ có một tác động vô cùng
đặc biệt tới những người còn
chưa tắt hi vọng. Hơn nữa, khi phiên tòa diễn ra, một cảm
xúc mới đã
cuộn lên bề mặt sau những năm chờ đợi, vô cảm và
nghi ngờ mọi hình thức
phản kháng. Con người đã "mệt mỏi vì mệt mỏi", họ
chán ghét trì trệ,
bất động, chỉ trụ hờ vào một niềm tin rằng rồi mọi thứ cuối
cùng sẽ
phải khá lên. Theo nhiều lẽ, phiên tòa
là giọt nước làm tràn bát nước.
Nhiều nhóm thuộc nhiều khuynh hướng khác nhau, mà
cho đến lúc đó vẫn
biệt lập với nhau, vẫn ngại hợp tác, hay những nhóm
đã bị ràng buộc vào
các hình thức hành động khiến hợp tác trở
nên khó khăn, bỗng nhiên bị
giáng mạnh bởi một thực tế mạnh mẽ là tự do là
không thể phân chia. Tất
cả mọi người đều chợt nhận ra rằng tấn công vào tầng hầm
âm nhạc Séc
(Czech) là tấn công vào cái cơ bản và
quan trọng nhất, cái trên thực tế
đã kết nối mọi người với nhau: nó là sự tấn
công vào chính khái niệm
"sống trong sự thật", vào mục đích đích thực của
cuộc sống. Tự do chơi
nhạc rock đã được hiểu như là quyền tự do của con người,
và do đó cũng
giống như là quyền tự do tham gia vào nhận thức
chính trị và triết học,
tự do viết lách, tự do biểu đạt và bảo bệ các lợi
ích chính trị và xã
hội khác khau trong xã hội. Con người đã được khơi
gợi để cảm thấy ý
nghĩa thực sự của việc đoàn kết với những nhạc sĩ trẻ, và
họ hiểu ra
rằng, không đứng dậy cho tự do của người khác, không
kể các phương tiện
sáng tạo của họ hay thái độ sống của họ cách xa
mình đến đâu, đều là từ
bỏ quyền tự do của chính mình. (Không có tự
do nếu không có bình đẳng
trước pháp luật, và không có bình
đẳng trước pháp luật nếu không có tự
do; Hiến chương 77 đã cho khái niệm cổ này một
chiều mới và điển hình,
cái có ý nghĩa vĩ đại với lịch sử Czech hiện đại.
Cái mà Slábecek, tác
giả cuốn
Sáu mươi tám, trong một phân
tích thiên tài đã gọi là
"nguyên tắc loại bỏ", cái luôn nằm dưới gốc rễ của
mọi khốn khổ về
chính trị và đạo đức ngày nay. Nguyên tắc
này ra đời vào cuối Thế chiến
II trong một xung đột lạ lùng giữa những người cộng sản
và những người
dân chủ, và đã được phát triển xa hơn nữa
sau đó, thẳng tới "cái đích
cay đắng". Lần đầu tiên trong bao thập kỉ, nguyên tắc
này đã bị vượt
qua, bởi Hiến chương 77: tất cả những người đoàn kết dưới Hiến
chương
77 đều, lần đầu tiên, trở thành những đối tác ngang
hàng. Hiến chương
77 không chỉ đơn thuần là một liên minh của những
người cộng sản và
không cộng sản - điều đó thì không có
gì lạ về mặt lịch sử và, từ giác
độ đạo đức và chính trị thì không có
gì là cách mạng - mà là một cộng
đồng mà
a priori là mở cho tất cả mọi người,
và không ai trong
đó bị đặt vào vị trí thấp kém một
cách tiên nghiệm). Đó chính là
không
khí mà trong đó Hiến chương 77 đã ra đời.
Ai có thể tiên đoán được rằng
việc buộc tội một hai nhóm rock lại có những hậu quả
sâu xa như thế?
Tôi nghĩ rằng những nguồn gốc của Hiến chương 77 minh họa rất
rõ
cái tôi đã đề xuất ở trên: trong hệ thống hậu
toàn trị, cái nền thực sự
cho các phong trào đang dần dần giành được
ý nghĩa chính trị thường
không bao gồm những sự kiện chính trị nổi bật như
các cuộc đối đầu giữa
các lực lượng hay quan điểm chính trị công khai.
Các phong trào này chủ
yếu bắt nguồn từ đâu đó khác, từ lãnh địa
rộng hơn rất nhiều của "tiền
chính trị", nơi mà "sống trong giả dối" đối đầu với
“sống trong sự
thật", tức là, nơi mà các đòi hỏi của hệ
thống hậu toàn trị mâu thuẫn
với mục đích chân chính của cuộc sống. Một
cách tự nhiên, những mục
đích thực sự này có khả năng mang những
hình thức vô cùng đa dạng. Đôi
lúc nó xuất hiện dưới dạng các quan tâm vật
chất và xã hội cơ bản của
một nhóm hay một cá nhân; những lúc
khác, chúng có thể xuất hiện dưới
dạng các quan tâm trí tuệ hay tinh thần; vào
những lúc khác nữa, chúng
có thể là những đòi hỏi hiện sinh cơ bản nhất,
thí dụ như thôi thúc tự
nhiên của con người được sống cuộc đời trong danh dự. Vì
vậy, xung đột
này khoác lên mình cái vẻ
chính trị không phải vì bản chất chính trị
sơ
đẳng của các mục tiêu đòi hỏi được lắng nghe,
mà đơn giản là: với một
hệ thống giật dây phức tạp mà trên đó chế độ
hậu toàn trị được xây xựng
lên và chịu lệ thuộc vào, thì mọi
hành vi hay biểu hiện tự do của con
người, mọi cố gắng sống trong sự thật không cách
nào khác hơn là mang
dáng vẻ đe dọa đối với hệ thống, và, vì thế,trở
thành những thứ
đặc biệt
chính trị. Mọi biểu đạt chính trị cuối cùng của các phong trào xuất
thân từ nền móng "tiền chính trị" này đều chỉ là thứ yếu. Nó phát triển
và chín muồi với tư cách là kết quả của chuỗi đối đầu tiếp theo với hệ
thống, chứ không phải vì nó khởi đầu đã là một chương trình, dự án hay
áp lực chính trị.
Một lần nữa, những sự kiện năm 1968 khẳng định điều này. Những nhà
chính trị cộng sản muốn cải tổ hệ thống đã xây dựng nên chương trình
cải tổ của mình không phải vì đột nhiên họ giác ngộ một cách thần bí,
mà bởi vì họ bị ép buộc phải làm như vậy do những sức ép liên tục và
ngày càng tăng từ nhiều lĩnh vực của đời sống không hề liên hệ gì với
chính trị theo nghĩa truyền thống của từ này. Trên thực tế, họ đã cố
gắng sử dụng các biện pháp chính trị để giải quyết các xung đột xã hội
(mà trên thực tế là đối đầu giữa những mục tiêu của hệ thống và những
mục tiêu của cuộc sống) đang hàng ngày diễn ra hầu như tại mọi tầng mức
xã hội, và đã nghiền ngẫm về nó trong nhiều năm với những suy tư ngày
càng cởi mở. Được hậu thuẫn bởi sự cộng hưởng sống động trên toàn xã
hội, các học giả và nghệ sĩ đã nhìn nhận vấn đề theo vô vàn cách và
sinh viên thì đòi hỏi câu trả lời.
Sự ra đời của Hiến chương 77 cũng minh họa tầm quan trọng chính trị
đặc biệt của khía cạnh đạo đức của những điều mà tôi vừa đề cập. Thật
khó tưởng tượng ra Hiến chương 77 nếu thiếu cảm nhận về sự đoàn kết
giữa các nhóm rất khác nhau, và mọi người không đột nhiên nhận ra rằng
không thể tiếp tục chờ đợi nữa, và rằng sự thật phải được nói lớn lên
và nói đồng loạt, bất kể cái chắc chắn hiển hiện về những đòn trừng
phạt và những hậu quả sờ mó được trong tương lai gần kề. "Có cái gì đó
đáng để hi sinh", Jan Patocka đã viết trước khi chết
[5]
. Tôi nghĩ rằng những nhà Hiến chương hiểu điều này không chỉ là di sản
của Patocka, mà còn là lời giải thích tốt nhất tại sao họ lại làm những
việc họ đã làm.
Nếu quan sát từ bên ngoài, và chủ yếu góc nhìn của hệ thống và cấu
trúc quyền lực của nó, Hiến chương 77 đến bất ngờ, như là sét giữa trời
quang. Tất nhiên, nó không phải là sét giữa trời quang, nhưng ấn tượng
ấy cũng thông cảm được, bởi vì sự sục sôi dẫn tới Hiến chương đã diễn
ra trong "không gian bí mật", trong vùng mờ tối nơi mà sự vật thật khó
được vẽ lại hay phân tích. Những cơ hội để dự đoán sự xuất hiện của
Hiến chương 77 cũng mỏng manh như cơ hội vào lúc này để đoán nó sẽ dẫn
tới đâu. Một lần nữa, nó quả là chấn động, rất điển hình cho những thời
khắc khi mà một điều gì từ không gian bí mật đột nhiên bùng lên xuyên
thấu bề mặt bất động của "cuộc sống trong dối trá". Càng bị mắc bẫy
trong thế giới của những vỏ hình thức, thì càng ngạc nhiên khi một cái
gì như thế xảy ra.
Bản tiếng Việt © 2006 Duy Tân Trẻ (
duytantre@walla.com)
© 2006 talawas
[1]Phản
Hiến chương: ý nói bản tuyên bố do nhà cầm quyền Tiệp Khắc dựng lên
nhằm bác bỏ Hiến chương 77. (Hiến chương 77 là một tuyên ngôn công bố
vào tháng 1 năm 1977, lên án nhà nước Tiệp Khắc vi phạm các quyền tự do
của con người, do 243 trí thức và công dân Tiệp Khắc kí tên. Theo nghĩa
rộng, đây là một phong trào dân sự phi cộng sản đã góp phần quan trọng
đưa đến sự sụp đổ của nhà nước toàn trị ở Tiệp Khắc).
[2]Faust:
nhân vật thần thoại trong văn học nghệ thuật châu Âu, người bán linh
hồn cho quỷ dữ để đổi lấy tuổi trẻ, tri thức và sức mạnh. Lần đầu tiên
chính thức xuất hiện là trong vở kịch của Christopher Marlowe ở những
năm 1590, sau đó trong một vở kinh điển của Johann Wolfgang von Goethe
ở thế kỷ 19.
Mephistopheles, Quỷ vương, chính là nhân vật tiến hành mua bán với
Faust. Cái tên này được dùng thay cho Satan hay Quỷ sứ, nhưng không có
từ ban đầu trong Kinh thánh mà chỉ được hư cấu kể từ thời Phục hưng. Từ
thế kỷ thứ 17, nhiều huyền thoại Thiên chúa giáo bắt đầu nói đến
Mephistopheles cùng với Lucifer - Ma vương/ Diêm vương - như những
thiên thần nổi loạn chống lại Thượng đế vào lúc khởi thủy, bị đuổi khỏi
Thiên đàng (talawas).
[3]Alexander
I. Solzhenitsyn: nhà văn bất đồng chính kiến Liên Xô, các tiểu thuyết
của ông tố cáo sự tàn bạo trong các trại lao động Xô viết (talawas).
[4]Hiến
chương 77: một sáng kiến công dân không
chính thức ở Tiệp Khắc những
năm 1977-1992, đóng vai trò quan trọng trong khoảng thời
gian cuối
những năm 1980, khi chủ nghĩa cộng sản đi đến sụp đổ tại nước
này.
Trong số các thành viên sáng lập hàng
đầu của Hiến chương 77 có Václav
Havel. Lần đầu tiên Hiến chương xuất hiện như một cương lĩnh
vào tháng
Giêng năm 1977, trên một tờ báo ở Tây Đức, với
chữ ký của 243 công dân
Czechoslovakia thuộc những ngành nghề, chính kiến
và tôn giáo khác
nhau. Đến giữa những năm 1980, số chữ ký lên đến 1200.
Hiến chương phê
phán nhà nước Tiệp Khắc thất bại trong việc thực thi
các điều khoản về
nhân quyền như đã được ghi trong các văn kiện
mà nhà nước này đã ký
kết, trong đó có cả chính Hiến pháp Tiệp
Khắc, Hiệp ước An ninh và Hợp
tác châu Âu, các điều khoản của Liên
hợp quốc về các quyền chính trị,
dân sự, kinh tế, văn hóa… Nó mô tả
những người tham gia ký Hiến chương
như một liên hiệp không cố kết, không chính
thức và để mở, thống nhất
với nhau do cùng chung ý chí phấn đấu, về mặt
cá nhân và tập thể, cho
sự tôn trọng nhân quyền và dân quyền
trên đất nước Tiệp Khắc và khắp
thế giới. Nó cũng nhấn mạnh đây không phải là
một tổ chức, một quy chế
hay một cơ chế vĩnh viễn, và không phải là
hình thức làm cơ sở cho hành
động đối lập chính trị. Phản ứng của nhà nước Tiệp
là bôi nhọ và đàn
áp. Họ dùng truyền thông chính quyền, kể cả
trong truyền thông đối
ngoại, để mô tả Hiến chương là “chống nhà
nước”, “chống chủ nghĩa xã
hội”, là “mị dân” và “phần
xỉ nhục của viết lách”. Họ gọi những người
ký vào Hiến chương là “những kẻ phản bội
và nổi loạn”, là “đầy tớ trung
thành và gián điệp của chủ nghĩa đế quốc”,
những kẻ “phá sản về chính
trị” và “phiêu lưu quốc tế”…
Tháng Mười năm 1979, sáu nhà lãnh đạo của
nhóm, trong đó có Václav Havel bị đưa ra xử
vì tội lật đổ và bị kết án
với những mức tù đến năm năm (talawas).
[5]Jan
Patocka là một triết gia có ảnh hưởng lớn và là môn đồ của Edmund
Husserl. Ông cũng là một trong những phát ngôn viên đã sáng lập ra Hiến
chương 77. Ông bị cảnh sát quấy rối nghiêm trọng, bị gọi thẩm vấn triền
miên, và theo đúng nghĩa, đã bị cảnh sát săn lùng cho đến tận giường
bệnh viện nơi ông trút hơi thở cuối cùng. Trích đoạn trên được lấy từ
diễn văn cuối cùng của ông, được dịch ra tiếng Anh là “Political
testament” (Di chúc chính trị),
Telos, 31 (mùa xuân 1977), trang 151-2. (Chú thích của biên dịch)