XI.
Trong các xã hội dưới hệ thống hậu
toàn trị, mọi
đời sống chính trị
theo nghĩa truyền thống đều đã bị xoá sổ. Con
người
không có chút cơ
hội nào biểu đạt quan điểm chính trị của
mình nơi
công cộng chứ đừng
nói đến hình thành tổ chức
chính trị.
Khoảng trống được tạo ra bị lấp
đầy bởi giáo điều ý thức hệ. Trong
hoàn cảnh như
vậy, quan tâm của con
người về các vấn đề chính trị tự nhiên
teo lại
và tư tưởng chính trị
độc lập, nếu có chăng nữa, cũng bị số đông coi
là
không hiện thực, viển
vông, một trò lạc thú, xa
cách thảm hại với
quan tâm hàng ngày của họ;
một cái gì đó đáng
tôn trọng,
có thể, nhưng khá vô bổ, bởi
vì một mặt
hoàn toàn không tưởng, mặt
khác lại
quá nguy hiểm, [nó tồn tạị] trong
quan điểm của những người nhiệt tình thái
quá,
và mọi hành động theo
hướng này đều bị chế độ trừng phạt.
Dù vậy, thậm chí trong những xã hội
như thế, vẫn tồn tại các cá
nhân và nhóm, không từ bỏ
chính trị với tư cách là nghiệp của
họ, và
những người, bằng cách này hay cách
khác, vẫn cố gắng suy nghĩ độc lập,
thể hiện [lập trường của] mình, và trong một số
trường hợp thậm chí còn
hình thành tổ chức chính trị, bởi
vì đó là một phần trong nỗ lực sống
trong sự thật của họ.
Chính tự thân việc những người này tồn
tại
và lao động đã vô cùng
quan trọng và có giá trị. Thậm
chí trong
những thời điểm đen tối nhất,
họ vẫn duy trì sự liên tục của tư tưởng
chính trị.
Nếu có một cuộc bùng
phát chính trị thực sự nào
đó xuất hiện từ
những đụng chạm "tiền chính
trị" này hay khác, và được
làm rõ đủ
sớm (vì thế làm tăng cơ hội thành
công một cách tương đối), thì
nó thường
xuyên là do công lao của những
"vị tướng không quân đội" đơn độc này.
Bởi vì
họ đã duy trì sự liên tục
về tư tưởng chính trị trong những lúc
khó khăn
nhất, có thể ngay lập
tức làm giàu [tính lý luận
và kinh
nghiệm] cho các cuộc bùng phát
này
này với những thành quả của tư tưởng
chính trị của
họ. Một lần nữa, lại
có những ví dụ phong phú cho tiến
trình
này ở Tiệp khắc. Không thể khác
hơn, hầu hết những người từng là tù
chính trị
trong đầu những năm 70
(những người tưởng như bị hành hạ vô
ích vì
những hoạt động chính trị
Đông-ki-sốt của họ bên cạnh một xã hội
đã
hoàn toàn vô cảm và mất đạo
đức) chính là những nhà Hiến chương
năng nổ nhất.
Trong Hiến chương 77,
di sản đạo đức của những hi sinh trước đây của họ được
đánh giá cao, và
họ đã làm giàu cho phong
trào với kinh
nghiệm và tư tưởng chính trị của
mình.
Dù vậy, tôi có cảm giác
là tư tưởng
và hoạt động của những người
bạn này của chúng ta (những người không
bao giờ từ
bỏ sự nghiệp chính
trị trực tiếp, và luôn sẵn sàng
gánh
vác trách nhiệm chính trị trực
tiếp) rất hay mắc phải một sai lầm kinh niên: sự hiểu biết
không đầy đủ
về đặc thù lịch sử của hệ thống hậu toàn trị như
là một thực tế chính
trị và xã hội. Họ có ít
hiểu biết về bản
chất đặc thù của quyền lực, là
cái tiêu biểu cho hệ thống này,
và vì
thế họ đánh giá quá cao tầm quan
trọng của các công việc chính trị trực
tiếp theo
nghĩa truyền thống.
Hơn nữa, họ không đánh giá được tầm
quan trọng
chính trị của các sự
kiện và quá trình "tiền
chính trị"
đã cung cấp đất mùn mà từ
đó các
thay đổi chính trị thực sự sẽ bắt rễ. Với tư cách
là những nhà hoạt
động chính trị - hay, như những người có tham
vọng
chính trị - họ
thường xuyên cố gắng bắt đầu ở điểm đời sống chính
trị tự
nhiên dừng
lại. Họ duy trì các mô hình
hành vi
có thể đã từng phù hợp trong những
môi trường chính trị bình thường hơn,
và do
đó, vô tình đã đem những
lối suy nghĩ lạc hậu, thói quen, khái niệm,
phân
loại và quan niệm cũ
áp đặt vào những môi trường
khá mới
và rất khác, mà không
cân nhắc đủ
mức về ý nghĩa và bản chất của những thứ như thế
trong
môi trường mới,
về cái kiểu chính trị như thế giờ đây
có
nghĩa gì, về kiểu sự kiện nào
sẽ có ảnh hưởng và tiềm năng chính
trị, và
[nếu có thì] theo cách nào.
Vì những người như thế đã bị loại ra khỏi
các cấu
trúc của quyền lực và
không còn khả năng ảnh hưởng cấu trúc
ấy một
cách trực tiếp (và vì họ
vẫn trung thành với các quan niệm truyền thống về
chính trị, được xác
lập ở những xã hội ít nhiều dân chủ hay
trong
các nền độc tài truyền
thống), họ thường xuyên, theo một nghĩa nào
đó, mất
liên hệ với hiện
thực. Tại sao phải nhượng bộ với thực tiễn, họ nói, nếu đằng
nào thì
cũng chẳng có đề xuất nào của chúng
tôi được
chấp nhận? Do dó, họ thấy
mình ở trong một thế giới của tư duy hoàn
toàn
không tưởng.
Tuy nhiên, như tôi đã cố gắng chỉ ra,
những sự kiện
chính trị có
tầm ảnh hưởng thực sự rộng rãi trong hệ thống hậu
toàn
trị không nổi
lên từ những nguồn gốc và theo những
cách giống như
ở nền dân chủ. Và
nếu như một phần lớn dân chúng thờ ơ, thậm
chí nghi
ngờ các mô hình và
chương trình chính trị thay thế, [thậm
chí] họ
nghi nghờ cả việc ra đời
của các chính đảng đối lập, thì
đó
không đơn thuần vì người ta vô cảm
với các vấn đề công cộng và
đã đánh
mất cảm giác về "trách nhiệm cao
hơn"; nói cách khác, nó
không chỉ
là hậu quả của sự phi đạo đức hóa. Nó
cũng là một chút bản năng xã hội
lành mạnh
đang thức dậy trong thái độ
này. Nó như thể là quần
chúng đã
nhận thức được bằng cảm tính là "không
có gì là cái mà
nó
trông có vẻ nữa", như người ta vẫn nói,
và
rằng từ
nay, do đó, mọi thứ cần phải làm theo
cách
hoàn toàn khác.
Nếu một vài đợt bùng phát
chính trị quan
trọng nhất trong khối các
nước Xô viết trong những năm gần đây đã
đến trước
hết (trước khi được
cảm nhận trên bình diện sức mạnh vật chất) từ
các
nhà toán học, triết
học, vật lý, nhà văn, nhà sử học,
các
công nhân bình thường và
vân vân;
và nếu động lực đằng sau vô số những "phong
trào
bất đồng chính kiến"
này đến từ rất nhiều người trong các nghề "phi
chính trị", thì không
phải vì những người này thông minh hơn
những người
tự coi mình là nhà
chính trị. Đó là vì những
người
này,vì không phải là
nhà chính
trị, nên
không bị trói buộc quá chặt
vào những tư
tưởng chính trị truyền thống
và những thói quen chính trị,
và vì
thế, thật nghịch lí là, họ nhận
thức được hiện thực chính trị đúng đắn,
và nhạy
cảm hơn về cái gì có
thể làm và cần làm dưới những điều
kiện như vậy.
Không có cách nào
vòng qua nó:
bất kể mô hình chính trị thay thế
có
đẹp đến đâu, nó không còn
có thể
nói chuyện được với "không gian bí
mật", khích động dân chúng
và xã hội,
gợi lên sự sôi sục chính trị thực
sự. Không gian thực sự của chính trị tiềm
tàng
trong hệ thống hậu toàn
trị là ở chỗ khác: ở căng thẳng thường
xuyên
và nghiệt ngã giữa những
đòi hỏi phức tạp của hệ thống và những mục
tiêu của
đời sống, tức là,
những nhu cầu căn bản của nhân loại đòi được sống,
ít nhất là ở mức độ
nào đó, hòa hợp với chính
họ, tức
là, sống theo cách có thể chịu đựng
được, không bị các quan chức và cấp
trên
xúc phạm nhân phẩm, không phải
bị cảnh sát theo dõi thường xuyên,
có thể tự
do bộc lộ bản thân, có thể
tìm một nơi cho sáng tạo của họ, để hưởng an ninh
luật
pháp và vân vân.
Bất kì điều gì động chạm đến mảng này
một
cách cụ thể, bất kì điều gì
liên quan đến căng thẳng cơ bản và phổ biến/tồn
tại khắp
nơi này, sẽ
tất yếu đánh động con người. Những dự án trừu
tượng về
các trật tự kinh
tế và chính trị chẳng khiến họ quan tâm
như thế,
và đúng vậy-không chỉ
bởi vì tất cả đều biết rõ cơ hội thành
công
của chúng mỏng manh đến mức
nào, mà còn vì
ngày nay, con người
cảm thấy rằng các chính sách
chính
trị mà càng ít bắt nguồn từ
cái "ở
đây và bây giờ" rất con người
và rất
cụ thể, và nếu chúng càng tập trung
vào một
"ngày nào đó" trừu tượng,
thì họ càng dễ bị thoái hóa
vào
những dạng nô lệ mới.
Những con
người sống trong hệ thống hậu toàn trị hiểu quá
rõ rằng câu hỏi liệu
một hay nhiều chính đảng cầm quyền, và
các đảng này sẽ định nghĩa và
dán nhãn cho mình ra sao là
ít quan trọng hơn nhiều câu hỏi: liệu
có
thể sống như một con người hay không.
Trút bỏ gánh nặng của các
thói quen và cách phân loại
chính trị
truyền thống và mở hết mình ra thế giới sinh tồn
của con người, và sau
đó rút ra những kết luận chỉ sau khi
đã phân tích nó: điều
này không
chỉ thực tiễn hơn về mặt chính trị mà
cùng lúc, từ quan điểm của "trạng
thái lí tưởng của vấn đề", cũng hứa hẹn hơn về
mặt chính trị. Một sự
thay đổi cơ bản, lâu dài và thực sự để
tốt lên - như tôi sẽ cố gắng
chứng minh ở một chỗ khác - không còn
có thể bắt nguồn từ những chiến
thắng (nếu những chiến thắng ấy là có thể) của
bất kì quan niệm chính
trị truyền thống cụ thể nào đó, cái
mà rốt cuộc vẫn chỉ là ngoại sinh,
tức là, một quan niệm có tính cấu
trúc hay hệ thống. Hơn bao giờ hết,
một thay đổi như vậy sẽ phải bắt nguồn từ sự tồn tại của con người, từ
việc cấu trúc lại căn bản vị trí của con người
trong thế giới, mối quan
hệ của họ với bản thân và người khác,
và với vũ trụ. Nếu một mô hình
kinh tế và chính trị tốt đẹp hơn có
được tạo ra, thì có lẽ hơn bao giờ
hết nó phải xuất phát từ những thay đổi đạo đức
và hiện sinh căn bản
trong xã hội. Nó không phải
là cái gì có thể thiết kế
và giới thiệu như
một cái ô tô mới. Nếu nó muốn
hơn là một biến tướng từ sự xuống cấp cũ,
nó phải trên hết là sự thể hiện của
cuộc sống trong quá trình tự biến
đổi. Một hệ thống tốt hơn không tự động đảm bảo một cuộc sống
tốt hơn.
Trên thực tế, ngược lại mới đúng: chỉ bằng
cách tạo ra một cuộc sống
tốt hơn, một hệ thống tốt hơn mới được phát triển.
Một lần nữa tôi lặp lại rằng tôi không
đánh giá thấp tầm quan trọng
của tư tưởng chính trị và các
công trình chính trị mang
tính khái niệm.
Ngược lại, tôi nghĩ rằng những tư tưởng chính trị
chân chính và những
công trình thực sự chính trị phải
chính là cái mà
chúng ta vẫn luôn
luôn không đạt được. Tuy nhiên, nếu
tôi nói "chân chính",
tôi đang nghĩ
trong đầu về một dạng tư tưởng và khái niệm
đã giải phóng nó khỏi mọi
sơ đồ chính trị truyền thống đã được nhập khẩu
vào hoàn cảnh của chúng
ta từ một thế giới sẽ không bao giờ trở lại (và sự
trở lại của nó, nếu
có thể, cũng không cung cấp giải pháp
lâu dài cho những vấn đề quan
trọng nhất).
Đệ nhị và đệ tứ quốc tế, cũng như bao tổ chức và
quyền lực chính
trị khác, có thể cung cấp một cách tự
nhiên những hỗ trợ đáng kể cho
những cố gắng đa dạng của chúng ta, nhưng không
cái nào có thể giải
quyết vấn đề thay cho chúng ta. Chúng vận
hành trong một thế giới khác,
và là sản phẩm của những môi trường
khác. Các khái niệm lí
thuyết của
chúng có thể thú vị và đem
đến gợi ý cho ta, nhưng có một điều chắc
chắn là: chúng ta không thể giải quyết
các vấn đề của mình chỉ bằng
cách nhận/gắn mình vào những tổ chức
này. Và cố gắng trong nước ta đặt
cái ta đang làm vào bối cảnh
các thảo luận đang thống trị các xã
hội
dân chủ thường có vẻ vô cùng
ngu ngốc. Ví dụ, liệu có thể nói
chuyện
một cách nghiêm túc về việc
chúng ta nên thay đổi hệ thống hay chỉ cải
cách nó? Trong những hoàn cảnh
mà ta đang sống, đây là một giả-vấn đề,
bởi vì trong thời gian hiện tại, đơn giản là
chúng ta chẳng thể thực
hiện được bất kì mục tiêu nào trong
đó. Chúng ta thậm chí còn
chưa rõ
cải cách sẽ dừng ở đâu và thay đổi sẽ
bắt đầu từ chỗ nào. Chúng ta biết
rõ từ những kinh nghiệm cay đắng rằng cải cách
hay thay đổi, tự thân nó
đều chẳng phải là bảo đảm cho bất kì điều
gì. Chúng ta biết rằng cuối
cùng thì đối với chúng ta, việc liệu
hệ thống mà chúng ta đang sống,
dưới ánh sáng của một học thuyết nào
đó, có vẻ được "cải cách" hay bị
"thay đổi" cũng chẳng khác gì nhau. Quan
tâm của chúng ta là liệu ta
có
thể sống trong danh dự trong một hệ thống như vậy không, liệu
nó có
phục vụ con người thay vì buộc con người phải phục vụ
nó không. Chúng
ta đang đấu tranh để đạt được điều này với những phương tiện
sẵn có, và
những phương tiện đáng được sử dụng. Các
nhà báo phương Tây, ngập
chìm
trong những tầm thường chính trị mà họ đang sống
cùng, có thể dán nhãn
cho cách tiếp cận của ta là quá hợp
hiến, hay quá mạo hiểm, cải lương,
phản cách mạng, tư sản, cộng sản hay quá
cánh tả hoặc cánh hữu. Nhưng
đó là điều cuối cùng hấp dẫn
chúng ta.
XII.
Một khái niệm vẫn luôn luôn
là nguồn hiểu nhầm, cơ bản là vì
nó
được nhập khẩu vào hoàn cảnh của chúng
ta từ những hoàn cảnh hoàn toàn
khác, là khái niệm về đối lập. Đối lập
thực sự là gì trong một hệ thống
hậu toàn trị?
Trong các xã hội dân chủ với hệ thống
nghị viện
truyền thống, đối
lập chính trị được hiểu như là một lực lượng
chính
trị trên bình diện
quyền lực thực (thường thấy nhất là một chính
đảng hoặc
một liên minh
các đảng phái) mà không phải
là một
phần của nhà nước. Nó cung cấp một
cương lĩnh chính trị khác, nó
có các
tham vọng lãnh đạo, và nó được
nhà
nước nắm quyền thừa nhận và tôn trọng như
là một
thành tố tự nhiên của
đời sống chính trị nước đó. Nó
tìm
cách mở rộng ảnh hưởng bằng các biện
pháp chính trị, và cạnh tranh
giành quyền
lực trên cơ sở các quy định
pháp luật đã được thừa nhận.
Cùng với hình thức đối lập này,
còn tồn tại hiện tượng "đối lập
ngoài nghị viện", cái mà cũng lại bao
gồm các lực lượng ít nhiều được
tổ chức trên bình diện quyền lực thực, nhưng vận
hành ngoài những quy
tắc được tạo ra bởi hệ thống, và thực thi các
biện pháp khác với thông
thường trong khung đó.
Trong các nền độc tài cổ điển, khái
niệm đối lập chính trị được
hiểu là các lực lượng chính trị cũng
có cương lĩnh chính trị riêng. Họ
hoạt động hoặc hơp pháp hoặc bên ngoài
các giới hạn của tính hợp pháp,
nhưng trong bất kì trường hợp nào họ cũng
không thể cạnh tranh giành
quyền lực trong những khuôn khổ các quy định được
thỏa thuận trước.
Hoặc khái niệm đối lập có thể được áp
dụng với những lực lượng chuẩn bị
cho một cuộc đối đầu bằng bạo lực với quyền lực thống trị, hoặc những
người tự cảm thấy đã ở trong trạng thái đối đầu
này, như là các nhóm du
kích hoặc các phong trào giải
phóng.
Đối lập trong hệ thống hậu toàn trị không tồn tại
trong bất kì hình
thái kể nào trên. Vậy, thuật ngữ
này có thể được dùng theo nghĩa
nào?
- Đôi khi, thuật ngữ "đối lập" được áp
dụng, chủ yếu bởi các
nhà báo phương Tây, cho những người
hoặc nhóm trong cấu trúc quyền lực,
những người thấy mình đang trong trạng thái
mâu thuẫn ngấm ngầm với
quyền lực cao nhất. Những lí do cho mâu thuẫn
này có thể khác nhau đôi
chút về mặt khái niệm (nhưng tất nhiên
cũng không quá khác biệt), nhưng
thường thì chỉ là sự thôi
thúc về quyền lực hoặc sự thù ghét
cá nhân
với người đang đại diện cho quyền lực ấy.
- Đối lập cũng có thể được hiểu là bất
kì thứ gì có thể có
tác động chính trị gián tiếp theo
nghĩa đã kể trên, tức là bất
kì cái
gì mà hệ thống hậu toàn trị cảm thấy
là mối đe dọa, và trên thực tế
cũng chính là cái đang đe dọa hệ
thống. Theo nghĩa này, đối lập là mọi
cố gắng sống trong sự thật, từ việc người bán rau quả từ
chối đặt khẩu
hiệu trong cửa sổ, cho đến một bài thơ viết tự do;
nói cách khác, bất
kì điều gì trong đó các mục
tiêu của cuộc sống vượt lên trên
các giới
hạn do các mục tiêu của hệ thống áp đặt
lên chúng.
- Tuy nhiên, thông thường hơn, đối lập
thường được hiểu
(một
lần nữa, chủ yếu là các nhà
báo phương
Tây) như là các nhóm người
công
khai thái độ bất phục tùng và
có quan điểm
phê phán, những người không
hề giấu giiếm những suy nghĩ độc lập của mình, và
là những người, ở mức
độ ít hay nhiều, coi họ như là một lực lượng
chính
trị. Theo nghĩa này,
khái niệm "đối lập" ít nhiều trùng lặp
với
khái niệm "bất đồng chính
kiến", mặc dù hiển nhiên là,
có nhiều sự
khác nhau to lớn về mức độ mà
cái nhãn này được chấp nhận hay
bác bỏ.
Nó phụ thuộc không chỉ vào phạm
vi mà những người này hiểu quyền lực của họ như
là
một lực lượng chính
trị độc lập, và liệu họ có tham vọng tham dự
vào
quyền lực thực hay
không, mà còn vào
cách mỗi người
trong số họ hiểu về khái niệm một lực
lượng"đối lập".
Một lần nữa, đây lại là ví dụ: trong
tuyên bố
gốc của
nó, Hiến chương 77 nhấn mạnh rằng nó
không phải
là đối lập vì nó không
có ý định trình bày một
cương lĩnh
chính trị thay thế. Nó coi nhiệm vụ
của nó là một cái gì
đó tương đối
khác, vì nó đã
không trình
bày những
cương lĩnh như thế. Trên thực tế, nếu việc trình
bày một cương lĩnh
thay thế được coi là bản chất của đối lập trong
các
nhà nước hậu toàn
trị, thì [phong trào] Hiến chương không
thể được
coi là đối lập.
Chính phủ Czecholovak, tuy thế, đã coi Hiến
chương 77 như
là một tổ
chức đối lập công nhiên ngay từ đầu, và
đã
đối xử với nó theo cách ấy.
Điều này có nghĩa là nhà
nước - và
điều này là tất nhiên thôi -
hiểu từ
"đối lập" ít nhiều giống với cách tôi
đã
định nghĩa ở điểm 2, tức là,
như là bất kì cái gì cố
gắng tránh
khỏi sự giật dây hoàn toàn
và vì thế
đã phủ nhận nguyên lí rằng hệ thống
có quyền
sở hữu tuyệt đối các cá
nhân.
Nếu ta chấp nhận khái niệm đối lập này,
thì tất nhiên chúng ta
phải, cùng với nhà nước, coi Hiến chương
là đối lập thực sự, bởi vì nó
đại diện cho một thách thức nghiêm trọng sự
toàn vẹn của quyền lực hậu
toàn trị, được xây lên như nó
vốn thế trong thế giới của "sống trong
dối trá".
Tuy nhiên, sẽ là một vấn đề khác, nếu
chúng
ta nhìn vào mức độ mà
những người kí tên trong Hiến chương 77 nghĩ về họ
như
là đối lập. Ấn
tượng của tôi là cách hiểu của phần lớn
trong số họ
dựa vào nghĩa
truyền thống của từ này, bởi vì cái
nghĩa ấy
đã được thừa nhận trong
các xã hội dân chủ (hay trong
các nền độc
tài cổ điển). Vì thế, họ hiểu
"đối lập", thậm chí ở Tiệp khắc, như là lực lượng
được
định danh về
chính trị mà, mặc dù nó
không vận
hành ở tầng mức quyền lực thực, và
thậm chí còn ít hơn trong
khuôn khổ của
các quy tắc nhất định được nhà
nước tôn trọng, vẫn sẽ không phủ nhận cơ hội tham
gia quyền
lực thực,
bởi vì theo một nghĩa nào đó
nó có
một cương lĩnh chính trị mà những
người đề đạt cương lĩnh này đã được chuẩn bị để
gánh vác trách nhiệm
chính trị trực tiếp cho nó. Với khái
niệm về đối
lập này, thì một số -
[thực ra là] tuyệt đại đa số - nhà Hiến chương
không nhìn nhận họ theo
cách này. Những người khác -thiểu số -
thì
có, mặc dù họ hoàn toàn
tôn
trọng thực tế là không có chỗ trong
Hiến chương 77
cho các hoạt động
"đối lập" theo nghĩa này. Nhưng cùng
lúc,
có thể là tất cả mọi nhà Hiến
chương đều khá quen thuộc với bản chất cụ thể của
các
điều kiện của hệ
thống hậu toàn trị để nhận ra rằng không chỉ sự
đấu tranh
cho quyền con
người mới có sức mạnh chính trị, mà
còn cả
những hoạt động "vô tư" hơn
rất nhiều, và do đó chúng
có thể được hiểu
như là một mặt của đối lập.
Không một nhà Hiến chương nào
có thể thực sự
phủ nhận là sẽ bị coi là
"đối lập" theo nghĩa này.
Tuy nhiên, còn một hoàn cảnh
khác nữa làm phức tạp hóa vấn đề một
cách tương đối. Trong nhiều thập kỉ, lực lượng cầm quyền
trong các xã
hội thuộc khối Xô viết đã coi cái
mác "đối lập" như là lời buộc tội ghê
gớm nhất, đồng nghĩa với từ "kẻ thù". Dán
nhãn ai đó là "phần tử thuộc
phe đối lập" cũng tương đương với việc nói rằng anh ta đang
cố gắng lật
đổ chính quyền và đặt dấu chấm hết cho chủ nghĩa
xã hội (tất nhiên là
vì mua chuộc của bọn tư bản). Đã có
những lúc mà cái mác
này đưa thẳng
tới giá treo cổ, và tất nhiên điều
này không khuyến khích mọi người
áp
dụng một cái nhãn như thế lên họ. Hơn
nữa, đó chỉ là một từ, và chuyện
thực sự làm được gì bao giờ cũng quan trọng hơn
là nhãn mác.
Lí do cuối cùng tại sao nhiều người phủ nhận một
khái niệm như vậy
là vì có một cái
gì đó tiêu cực về khái niệm
"đối lập". Nhưng người tự
định nghĩa như vậy về mình làm như thế trong quan
hệ với "lập"
[1]
nào đó có trước. Nói
cách khác, họ đặt mình trong mối quan
hệ với quyền
lực đang thống trị xã hội, và qua đó
mà định nghĩa mình, rút ra "lập"
của họ từ vị trí của chính quyền. Với những người
chỉ đơn giản là quyết
định sống trong sự thật, nói lên những điều họ
nghĩ, biểu thị sự đoàn
kết với những công dân anh em của họ,
sáng tạo như họ muốn, và chỉ đơn
giản là sống hòa hợp với cái
Tôi tốt đẹp của mình, thì thật tự
nhiên là
mâu thuẫn với cảm giác phải đinh nghĩa
cái "lập" chân chính và
tích cực
của mình bằng một cách tiêu cực,
thông qua một cái gì khác,
và nghĩ về
mình như là đang chống lại cái
gì đó, mà không phải đơn
giản là con
người đúng với cái thực sự là họ.
Rõ ràng, cách duy nhất để
tránh hiểu nhầm là nói rõ -
trước khi
người ta dùng chúng - là theo nghĩa
nào các từ "đối lập" và
"thành viên
thuộc phe đối lập" đang được dùng và
chúng phải được hiểu như thế nào
trong hoàn cảnh của ta.
XIII.
Nếu thuật ngữ "đối lập" đã được du nhập từ các
xã hội dân chủ vào
hệ thống hậu toàn trị mà thiếu sự thống nhất về
việc từ này có nghĩa gì
trong từng hoàn cảnh vốn rất khác nhau,
thì thuật ngữ "bất đồng chính
kiến" lại ngược lại, được các nhà báo
phương Tây chọn và bây giờ được
chấp nhận rộng rãi như là nhãn cho một
hiện tượng thông thường của hệ
thống hậu toàn trị và không bao giờ xảy
ra-ít nhất là không dưới
hình
thức ấy - trong các xã hội dân chủ.
Những "nhà bất đồng chính kiến" này
là ai?
Có vẻ như là thuật ngữ này được
áp dụng với các công dân
thuộc khối
Xô viết, những người đã quyết định sống trong sự
thật, và những người
mà thêm vào đó, thỏa
mãn các tiêu chí sau:
- Họ thể hiện quan điểm bất phục tùng
và quan điểm phê phán
một cách công khai và có hệ
thống, trong những giới hạn rất hẹp sẵn có
đối với họ, và vì thế, họ được biết tới ở phương
Tây.
- Bất chấp việc không thể xuất bản ở trong nước
và bất chấp
mọi hình thức hành hạ của chính quyền,
họ, bằng thái độ của mình, đã
giành được sự kính trọng nhất định, cả từ
công chúng và từ chính
quyền,
và do đó họ có thể hưởng một mức độ
quyền lực thực gián tiếp, hết sức
hạn chế và lạ lùng trong môi trường của
họ. Điều này hoặc là bảo vệ họ
khỏi các hình thức hành hạ tồi tệ
nhất, hoặc ít nhất đảm bảo rằng nếu
họ bị áp bức, thì điều đó sẽ
gây ra những rắc rối chính trị nhất định
cho chính quyền.
- Phạm vi tập trung phê phán
và những cam kết của họ phải
vượt qua khung cảnh chật hẹp của môi trường sát
cạnh họ hay các lợi ích
đặc biệt để hướng tới các hoài bão lớn
hơn; và do đó, công việc của họ
trở nên có tính chính trị
ngay trong bản chất, mặc dù có sự khác
biệt
đáng kể trong mức độ họ tự nghĩ về bản thân như
là một lực lượng chính
trị.
- Họ là những người nghiêng về
các đích tri thức, có nghĩa
là, họ là những người “viết”.
Đối với họ, những từ ngữ được viết ra là
phương tiện trực tiếp - và thường là duy nhất-
mà họ nắm giữ, và điều
này có thể đem lại cho họ sự chú
ý, đặc biệt là từ nước ngoài.
Các cách
khác mà theo đuổi nhằm sống trong sự thật
thì, hoặc là các nhà quan
sát
nước ngoài không nhìn thấy được
[vì chúng ở] trong môi trường địa
phương khó nắm bắt, hoặc nếu chúng vượt được qua
cái khung địa phương
này thì cũng chỉ xuất hiện như là
những phụ gia mờ hơn bổ sung cho
những cái mà họ đã viết.
- Bất kể nghề nghiệp của họ là gì,
những người
này được nói
đến ở phương Tây vì những hoạt động của họ với tư
cách những công dân
tận tụy, hoặc theo các mặt chính trị hay
phê
phán của các tác phẩm của
họ hơn là các công việc thực tế họ
đã thực
hiện trong lĩnh vực của
mình. Từ kinh nghiệm các nhân,
tôi biết rằng
có một lằn ranh vô hình mà
nếu bạn vượt qua - mà thậm chí dù
không muốn
hay không nhận ra - thì họ
sẽ không còn coi bạn như là một
nhà văn
và tình cờ lại là một công
dân
quan tâm [đến thời cuộc]; họ sẽ bắt đầu nói về bạn
như
là một "nhà bất
đồng chính kiến" tình cờ cũng thích
viết kịch
(có thể, trong thời gian
nhàn rỗi?) .
Hẳn nhiên, có nhiều người đạt được tất cả những
tiêu
chí
này. Cái có thể gây tranh
cãi
là liệu chúng ta có nên
dùng một
thuật
ngữ riêng cho một nhóm được định nghĩa theo
cách
hầu như ngẫu nhiên như
vậy không, và đặc biệt là họ
có nên bị
gọi là "nhà bất đồng chính kiến"
hay không. Tuy nhiên, rõ ràng
là ta
chẳng thể làm gì khác được. Thi
thoảng, để khởi động đối thoại, chúng ta thậm chí
còn dùng cái nhãn
này, mặc dù, điều đó được
làm với ác
cảm, hơi hài hước và luôn trong
ngoặc kép.
Có lẽ đây là thời điểm thích
hợp để liệt kê một vài lí do tại sao
chính các "nhà bất đồng
chính kiến" lại không thích bị gọi như
vậy. Một
là, cách gọi này có vấn đề
về gốc từ học (etymology). Những "người bất
đồng chính kiến", như báo chí
chúng ta vẫn giảng giải, là cái
gì đó từa
tựa "kẻ phản bội" hay "tái phạm". Nhưng những người bất đồng
chính kiến
không coi họ là phản bội, vì một lẽ đơn
giản là họ chẳng phủ định hay
từ chối điều gì. Ngược lại, họ đang cố gắng khẳng định bản
chất nhân
văn của chính họ, và nếu họ có phủ
nhận điều gì đó chăng nữa, thì
đó
chỉ là những thứ sai lầm và xa lạ trong cuộc đời
họ, cái khía cạnh của
"sống trong dối trá"
[2]
.
Nhưng đó không phải là điều quan trọng
nhất.
Cái từ "nhà bất đồng
chính kiến" thường ám chỉ một nghề đặc biệt
nào
đó, như thể, cùng với
những nghề tầm thường hơn, có một nghề đặc biệt nữa
là
gầm gừ với các
hiện trạng của đời sống. Thực tế là, một "nhà bất
đồng
chính kiến" chỉ
đơn giản là một nhà vật lí,
nhà xã
hội học, nhà thơ, các cá
nhân chỉ
đơn thuần làm cái việc mà họ cho
là phải
làm, và vì thế, họ nhận ra họ
trong một cuộc mâu thuẫn công khai với
chính thể.
Mâu thuẫn này không
xuất hiện từ bất kì nhận thức duy lí
nào về phần
họ, mà chỉ đơn giản từ
logic nội tại trong tư tưởng, hành vi hay công
việc của họ
(mà thường
sự đối đầu với ngoại cảnh này ít nhiều vượt
quá sự
kiểm soát của họ).
Nói cách khác, họ không
quyết định một
cách duy lí như là một kẻ phản
động chuyên nghiệp, như cách người ta vẫn quyết
định trở
thành một cô
thợ may hay anh thợ khóa.
Tất nhiên, trên thực tế họ thường không
phát
hiện ra là mình là
những "nhà bất đồng chính kiến" cho đến khi họ
thực sự
trở thành người
ấy. "Bất đồng chính kiến" khởi nguồn từ những động cơ
hoàn toàn khác
với lòng hám danh vọng và địa vị
tên tuổi.
Tóm lại, họ không quyết trở
thành "nhà bất đồng chính kiến",
và thậm
chí nếu họ có dành hai bốn giờ
một ngày cho nó, nó vẫn
không phải là
một nghề, mà cơ bản là một thái
độ nhân sinh. Hơn nữa, thái độ đó
hoàn
toàn không phải là độc quyền của
những người nhận cái danh hiệu "nhà bất đồng
chính
kiến" chỉ vì họ ngẫu
nhiên đáp ứng được các điều kiện chắp
vá
và mang tính hình thức kể
trên. Có muôn ngàn người
không
tên tuổi khác đang cố gắng sống trong sự
thật, và hàng triệu người muốn mà chưa
thể, đơn
giản vì có lẽ làm như
thế trong điều kiện của họ cần can đảm lớn gấp mười lần cái
can
đảm của
những người đã bước trước một bước kia. Nếu vài
chục
người ngẫu nhiên
được nhấc ra trong số ấy và đặt vào một hạng đặc
biệt,
thì điều này sẽ
hoàn toàn bóp méo bức tranh
chung.
Nó bóp méo theo nhiều cách.
Hoặc là
nó gợi ý rằng những "nhà bất đồng
chính
kiến" ấy là những người lỗi
lạc, như là các "loài thú
được bảo vệ",
người được phép làm những điều
mà người khác không được
làm, là
những người mà chính quyền thậm chí
còn nuôi dưỡng để thể hiện sự khoan dung
nhân từ của
nó; hay nó che
chắn cho một ảo ảnh rằng: vì số những kẻ phản động vốn chưa
làm được gì
nhiều này không đếm đủ đầu ngón tay,
thì
chắc là số còn lại là người
phục tùng, bởi vì nếu họ không phục
tùng
thì chắc là đã bị liệt là
"nhà
bất đồng chính kiến" rồi.
Nhưng đó không phải là tất cả.
Cách
phân loại này vô tình
đã tô đậm
ấn tượng rằng quan tâm cơ bản của những "nhà bất
đồng
chính kiến" này
là lợi ích thiết thân (vested interest)
nào
đó mà họ cùng chia sẻ với
tư cách là một nhóm, như thể
toàn bộ cuộc
cãi lộn của họ với nhà nước
chẳng có gì hơn là xung đột
khó hiểu giữa
hai nhóm đối lập, một cuộc
xung đột chẳng liên quan tí gì đến
xã hội.
Nhưng ấn tượng ấy mâu thuẫn
về cơ bản với tầm quan trọng thực sự của thái độ "bất đồng
chính kiến",
thái độ mà dù vùng
lên hay ngã
xuống đều vì quyền lợi của người khác,
vì cái đang gây ra nỗi đau cho
toàn
xã hội, hay nói cách khác,
vì sự
quan tâm tới những người còn chưa dám
nói.
Nếu các "nhà bất đồng chính
kiến" có một thứ uy quyền nào đó,
và nếu họ
còn chưa bị tiêu diệt từ
lâu như những con côn trùng
kì cục xuất hiện
không đúng chỗ, thì không
phải vì nhà nước muốn giữ lại một nhóm
đặc biệt
này và tư tưởng đặc
biệt của họ trong một niềm phấn khích, mà
vì
nó hoàn toàn hiểu rõ quyền
lực chính trị tiềm tàng của "sống trong sự thật"
bắt rễ
từ "không gian
bí mật", và cũng nhận thức rõ
cái loại thế
giới mà "bất đồng chính
kiến" được sản sinh ra và cái thế giới
mà
nó tác động: thế giới của đời
sống thường ngày, thế giới của mâu thuẫn
hàng
ngày giữa những mục tiêu
của cuộc đời với mục tiêu của hệ thống. (Còn
gì
minh chứng tốt cho điều
này hơn là hành động của
chính quyền sau
khi Hiến chương 77 xuất hiện,
khi nó khai hỏa một chiến dịch buộc toàn
dân tộc
phải tuyên bố rằng
Hiến chương 77 là sai? Hàng triệu chữ
kí đã
chứng tỏ, bên cạnh những
điều khác, rằng điều ngược lại mới đúng).
Các bộ
máy chính trị và cảnh
sát không phung phí một sự quan
tâm to lớn
đến những "nhà bất đồng
chính kiến" (cái có thể gây
ấn tượng
là chính quyền sợ họ như thể sợ
một tập đoàn quyền lực khác vậy) bởi
vì họ
chính là một tập đoàn quyền
lực khác; mà bởi vì họ là
những người
bình thường, với những mối quan
tâm thường nhật, và chỉ khác với số
đông ở
chỗ họ nói lớn điều mà những
người khác không thể hoặc vì sợ
mà
không dám nói. Tôi
đã từng đề cập
đến ảnh hưởng chính trị của Slzhenitsyn: nó
không
nằm trong một quyền
lực chính trị riêng biệt mà
ông có với
tư cách là một cá nhân,
mà ở
trải nghiệm của hàng triệu nạn nhân Gulag
mà
ông chỉ đơn giản là tăng
âm và truyền đạt tới hàng triệu người
có
lương tri khác.
Chọn ra một nhóm các "nhà bất đồng
chính kiến" lỗi lạc cũng có
nghĩa là phủ nhận khía cạnh đạo đức cốt
lõi nhất trong hoạt động của
họ. Như ta đã thấy, "phong trào bất đồng
chính kiến" phát triển từ
nguyên tắc bình đẳng, đặt trên quan niệm
rằng quyền con người và tự do
là không chia tách được. Cuối
cùng, chẳng phải những "nhà bất đồng
chính kiến nổi tiếng" trong KOR
[3]đã
bảo vệ những người lao động không tên tuổi hay sao?
Và chẳng phải
chính vì lí do này
mà họ trở
thành "những nhà bất đồng chính kiến
nổi
tiếng"? Và chẳng phải "những nhà bất đồng
chính
kiến nổi tiếng" trong
Hiến chương 77 đoàn kết lại dưới Hiến chương 77 sau khi họ
đã đến cùng
nhau để bảo vệ những nhạc sĩ vô danh, và họ trở
nên
"các nhà bất đồng
chính kiến nổi tiếng" chính vì lẽ
đó? Thật
là một nghịch lí tàn nhẫn
là
càng nhiều công dân đứng lên
bảo vệ các
công dân khác, thì họ lại
càng
bị dán bởi một từ ngăn cách họ với
"các công
dân khác".
Cách giải thích này, tôi hi
vọng, sẽ làm rõ tầm quan trọng của các
dấu ngoặc kép mà tôi đặt
ngoài từ nhà bất đồng chính kiến trong
suốt
tiểu luận này.
XIV.
Vào thời gian các vùng đất Czech
cùng với
Slovackia là một phần của
Đế chế Áo-Hung, và khi mà
không tồn tại cả
những điều kiện xã hội, tâm
lí, chính trị lẫn lịch sử cho phép
những người
Czech và Slovack tìm
kiếm bản sắc của mình bên ngoài
cái khung đế
chế này, thì T. G. Masaryk
đã xác lập một cương lĩnh dân tộc
Czechoslovak dựa
vào khái niệm "công
việc quy mô nhỏ" (drobná práce). Theo
đó,
ông hàm ý rằng các
công việc
có trách nhiệm và trung thực trong
những mặt
vô cùng khác nhau của đời
sống nhưng nằm trong trật tự xã hội hiện thời sẽ
kích
thích sự sáng tạo
và tự tin quốc gia. Đương nhiên, ông đặt
trọng
tâm vào sự khai sáng và
giáo dục, và vào các mặt
đạo đức và
nhân văn của cuộc sống. Masaryk tin
rằng điểm bắt đầu khả thi duy nhất cho một tương lai quốc gia
sáng lạn
hơn là ở chính con người. Nhiệm vụ đầu
tiên của con
người là tạo ra các
điều kiện cho một cuộc sống nhân văn hơn: và theo
Masaryk,
nhiệm vụ
chuyển biến tầm vóc của quốc gia bắt đầu từ chuyển biến con
người.
Khái niệm "làm việc vì lợi
ích dân tộc" bám rễ trong
lòng xã hội
Czechoslovak và theo nhiều khía cạnh,
nó đã thành công
và còn sống đến
ngày nay. Cùng với những người khai
thác khái niệm này như là
biện minh
tinh tế cho việc hợp tác với chính quyền, vẫn
còn nhiều người khác,
ngay cả ngày nay, vẫn ấp ủ lý tưởng
và, ít nhất trong một số lĩnh vực,
có thể dẫn tới những thành quả không
chối cãi được. Rất khó nói sự thể
sẽ còn tồi tệ đến đâu nếu không
có những người làm việc cật lực, những
người chỉ đơn giản là không chịu từ bỏ
và cố gắng không ngừng làm mọi
việc có thể, trả một cái giá tối thiểu
cho "sống trong dối trá" để họ
có thể cống hiến tới mức cao nhất cho những nhu cầu
chân chính của xã
hội. Nhưng người này coi, một cách
đúng đắn , rằng mọi việc tốt đều là
một sự phê phán gián tiếp nền
chính trị tồi tệ, và rằng có những
điều
kiện khiến cho con đường này đáng để đi theo, cho
dù nó có thể có nghĩa
rằng họ phải từ bỏ quyền tự nhiên được phê
phán trực tiếp.
Tuy nhiên, ngày nay, có những giới hạn
rất rõ ràng cho thái độ
này,
thậm chí khi so sánh với tình huống
những năm 60. Ngày càng thường
xuyên có những người đang cố gắng thực hiện phương
châm "làm những việc
nhỏ" cuối cùng đã phải đối mặt với hệ thống hậu
toàn trị và thấy mình
đứng trước một thế lưỡng nan: hoặc họ phải rút bỏ vị thế ấy,
từ bỏ sự
ngay thẳng, trách nhiệm và nhất quán
mà vị thế ấy dựa vào và
thích nghi
với hoàn cảnh (cách mà đa số
đã lựa chọn), hoặc là phải đi tiếp con
đường đã đi và không thể
tránh khỏi rơi vào xung đột với chế độ
(có một
thiểu số đã chọn cách này).
Nếu ý tưởng về "công việc quy mô nhỏ"
không bao giờ có chủ đích -
như là mệnh lệnh phải tồn tại bên trong cấu
trúc chính trị và xã hội
hiện có,
bằng bất kì giá
nào
(trong trường hợp đó, những người
tự cho phép mình bị cách li khỏi hệ
thống tất yếu
sẽ phải thôi "làm
việc cho dân tộc") - thì ngày nay
nó thậm
chí càng ít quan trọng.
Không
có mô hình chung nào cho
phép ứng xử,
tức là, không có cách tổng
quát
và ngắn gọn nào quyết định cái điểm
mà
các "công trình quy mô nhỏ"
không còn là "vì lợi
ích dân
tộc" và trở thành "gây hại cho
dân tộc".
Tuy nhiên, hiển nhiên là cái
mối nguy của sự
đảo ngược chiều ngày càng
sâu sắc, và các công việc quy
mô nhỏ ấy
(với tần suất ngày càng thường
xuyên hơn) trở nên chống lại cái giới
hạn mà
nếu vượt qua đó, tránh
xung đột có nghĩa là tự gây tổn thương
tới
chính bản chất của nó.
Trong năm 1974, khi tôi được nhận vào
nhà máy bia, cấp trên trực
tiếp của tôi là ông S, người rất
sành sõi trong nghệ thuật làm bia.
Ông
tự hào về nghề và ông muốn
nhà máy làm bia ngon. Ông
dành phần lớn thời
gian cho công việc, không ngừng cải tiến,
và ông thường xuyên làm
chúng
tôi khó chịu vì ông nghĩ
chúng tôi cũng yêu nấu bia như
ông. Kẹt giữa
sự thờ ơ với công việc mà chủ nghĩa xã
hội tạo ra, thật khó tưởng tượng
một người lao động có thinh thần xây xựng hơn
ông.
Nhà máy bia được quản lí bởi những
người làm việc ít hơn và cũng
không yêu thích nó lắm, nhưng
lại có ảnh hưởng lớn hơn về chính trị. Họ
khiến nhà máy bia sụp đổ và
không chỉ không đáp lại bất
kì đề xuất nào
của S, mà họ còn ngày càng
thù địch với ông và bằng mọi
cách cản trở
những nỗ lực làm việc tốt của ông. Cuối
cùng, tình huống trở nên quá
tồi tệ đến nỗi S cảm thấy buộc phải viết một lá thư
dài cho cấp trên
của ban giám đốc, trong đó ông cố gắng
phân tích những khó khăn của
nhà
máy. Ông giải thích tại sao
nó kém nhất trong quận và chỉ ra những
người phải chịu trách nhiệm.
Tiếng nói của ông không bao giờ được
lắng nghe.
Giám đốc, người có
quyền lực chính trị nhưng mù tịt về bia, một
người
thù công nhân và đầy
mưu mô, giả thử có thể bị thay thế và
những điều
kiện trong nhà máy bia
giả thử có thể được cải thiện - từ những đề nghị của S. Nếu
điều
đó xảy
ra, nó đã có thể là
ví dụ
hoàn hảo cho "công việc quy mô nhỏ"
trên thực
tiễn. Không may, điều ngược lại đã xảy đến:
giám
đốc nhà máy, một ủy
viên Quận ủy, có bạn bè ở
các vị trí
cao hơn và ông ta đã thấy sự việc
kết thúc có lợi cho mình.
Phân tích
của S được coi là "tài liệu vu
khống" và S bị chụp mũ là "gián điệp
chính
trị". Ông bị đuổi khỏi nhà
máy bia và chuyển sang làm một nghề
chẳng
đòi hỏi kĩ năng gì. Ở đây,
khái niệm "công việc quy mô nhỏ"
đã đụng phải
bức tường của hệ thống
hậu toàn trị. Vì nói lên sự
thật, S
đã bước qua lằn ranh, phá vỡ luật
lệ, loại mình ra, và ông kết cục
thành
công dân hạng hai, bị bêu rếu
như kẻ thù. Giờ đây, ông có
thể nói
bất kì điều gì ông muốn, nhưng
ông
sẽ không bao giờ kì vọng là sẽ được
lắng nghe - như
là vấn đề nguyên
tắc. Ông đã trở thành một
"nhà bất đồng
chính kiến" của Nhà máy bia
Đông Bohemia.
Tôi cho rằng đây là trường hợp điển
hình mà, từ một góc nhìn
khác,
minh họa cái tôi vừa nói ở phần
trên: anh không trở thành một
"nhà bất
đồng chính kiến" chỉ vì trong một ngày
đẹp trời, anh chọn sự nghiệp bất
bình thường nhất này. Anh bị ném
vào trong đó vì cảm nhận cá
nhân về
trách nhiệm của anh, cộng với một phức hợp ngoại cảnh. Anh
bị loại khỏi
cấu trúc hiện thời và bị đặt vào vị
trí đối lập với nó. Nó bắt đầu bằng
cố gắng làm việc tốt của anh, và kết
thúc bằng biệc bị dán nhãn
là kẻ
thù của xã hội. Đây là
lí do tại sao hoàn cảnh của chúng ta
không thể
đem so được với Đế chế Áo-Hung, khi mà
dân tộc Czech, trong giai đoạn
tồi tệ nhất của nền chuyên chế Bach, chỉ có mỗi
một "nhà bất đồng chính
kiến" thực sự, Karel Havlícek, người bị bỏ tù ở
Brixen. Ngày nay, nếu
không hợm hĩnh [việc chúng ta là những
nhà bất đồng chính kiến], chúng
ta buộc phải thừa nhận rằng các "nhà bất đồng
chính kiến" có thể tìm
thấy ở mọi góc phố.
Phê phán các "nhà bất đồng
chính kiến" vì họ từ bỏ "công việc quy
mô nhỏ" thì thật là kì quặc.
"Bất đồng chính kiến" không phải là một
sự
thay thế cho ý tưởng của Masaryk, mà
nó thường xuyên là kết quả tất yếu
[của ý tưởng ấy]. Tôi nói "thường
xuyên" để nhấn mạnh rằng không phải
lúc nào cũng vậy. Tôi còn
lâu mới tin rằng những người có trách
nhiệm
và tử tế không ai khác ngoài
những ai đã nhận ra mình lạc lõng
trong
cấu trúc chính trị và xã
hội hiện thời. Cuối cùng thì, nghệ nhân
bia S
có thể đã chiến thắng trận đánh của
ông. Nguyền rủa những người vẫn giữ
vị trí của họ chỉ vì họ đang giữ vị
trí ấy, hay nói cách khác,
vì họ
không phải là "nhà bất đồng
chính kiến" thì cũng kì cục như
là dựng họ
lên như những "nhà bất đồng chính
kiến". Trong bất kì tình huống nào,
sẽ là mâu thuẫn với toàn bộ
thái độ "bất đồng chính kiến" - được xem
như một cố gắng sống trong sự thật - nếu người ta đánh
giá hành vi con
người không như nó vốn có và
liệu nó tốt hay không, mà lại theo
những
tình cảnh cá nhân mà những
cố gắng như thế đã đưa họ đến chỗ đó.
XV.
Cố gắng sống trong sự thật của người bán rau quả
có thể
được giới
hạn trong việc không làm một số điều nhất định.
Anh quyết
định không
đặt cờ trong cửa sổ khi động cơ duy nhất cho việc đặt cờ lên
cửa
sổ chỉ
là để tránh bị gã công an
khu phố
sách nhiễu; anh không bỏ phiếu trong
những kì bầu cử mà anh cho là giả tạo;
anh
không giấu ý kiến của mình
với cấp trên. Nói cách khác,
anh có
thể không làm gì hơn là từ
chối
phục tùng những đòi hỏi nhất định của hệ thống
đối với
anh (vốn đương
nhiên không phải là một bước tiến nhỏ).
Điều
này, tuy thế, có thể thành
cái gì đó lớn hơn. Người
bán rau quả
có thể bắt đầu làm cái gì
đó cụ
thể, cái gì đó vượt lên
hành động tự
vệ cá nhân cấp thời chống lại sự
giật dây, cái gì đó
có thể thể hiện
cảm nhận mới tìm ra của anh về
trách nhiệm cao hơn. Ví dụ, anh có thể
tổ chức
những người đồng nghiệp
bán rau quả hành động chung để bảo vệ lợi
ích của
mình. Anh có thể viết
thư cho các cơ quan, kêu gọi sự chú
ý của họ
về các ví vụ mất trật tự
và bất công xung quanh anh. Anh có thể
tìm
sách báo chui, copy chúng
và
cho bạn bè mượn.
Nếu cái tôi gọi là sống trong sự thật
là điểm khởi đầu về mặt sinh
tồn (và đương nhiên là tiềm ẩn cả mặt
chính trị) căn bản cho mọi hiện
tượng như "sáng kiến của các công
dân độc lập" và "bất đồng chính kiến"
hay "đối lập" sẽ được làm rõ trong tiểu luận
này, thì điều này không
có
nghĩa là mọi cố gắng sống trong sự thật đều ngay lập tức
thuộc về những
phong trào này. Ngược lại, trong ý
nghĩa rộng nhất và nguyên bản nhất
của nó, sống trong sự thật bao trùm một
lãnh địa rất rộng mà ranh giới
rất mờ nhạt và khó vạch rõ, một
lãnh địa gồm đầy những biểu hiện khiêm
tốn của ý hướng nhân văn, thì tuyệt đại
đa số những biểu hiện ấy vẫn vô
danh và những ảnh hưởng chính trị của
chúng có lẽ sẽ không bao giờ được
cảm nhận hay mô tả rõ ràng hơn
là một phần của không khí hay cảm
xúc xã
hội. Hầu hết những biểu hiện này vẫn chỉ là những
sự nổi dậy sơ đẳng
chống lại sự giật dây: bạn chỉ đơn giản là đứng
thẳng và sống trong
nhân phẩm hơn, như một cá nhân.
Ở đâu đó, nhờ tự nhiên, các
giả định
và nghề nghiệp của một số
người, cũng nhờ những biến số ngẫu nhiên, thí dụ
các đặc thù của một
bối cảnh cục bộ, các bạn bè và v.v...,
mà
một sáng kiến hữu hình và
thống nhất hơn có thể xuất hiện từ những vùng đất
xa
xôi vô danh và bao
la này, một sáng kiến cao hơn hẳn những "cuộc nổi
loạn"
cá nhân và
chuyển thành những công việc tự giác,
có tổ
chức và hướng đích hơn. Cái
điểm mà ở đó sống trong sự thật không
còn
là một sự phủ định đơn thuần
cuộc sống dối trá và được cụ thể hóa
theo một
cách nhất định, là điểm
mà có cái gì đó
được sinh ra,
có thể gọi là "đời sống chính trị,
xã hội
và tinh thần độc lập của xã hội". Đời sống độc
lập
này không tách rời
phần còn lại của cuộc sống ("cuộc sống phụ thuộc") bằng một
ranh
giới
được phân định rõ ràng. Cả hai thường
xuyên
cùng tồn tại trong một con
người. Tuy thế, tiêu điểm quan trọng nhất của nó
được
đánh dấu bởi mức
độ tương đối cao của giải phóng nội tâm.
Nó bơi
trên đại dương mênh
mông của đời sống bị giật dây như những chiếc
thuyền con,
bị sóng dập
vùi nhưng luôn nhấp nhô như
là sứ giả hiện
hữu của sống trong sự thật,
nói lên những mục tiêu đang bị
đàn áp
của cuộc sống.
Đời sống độc lập này của xã hội là
gì? Dải tần của các biểu hiện và
hoạt động của nó dĩ nhiên là phải rất
rộng. Nó bao gồm mọi thứ, từ tự
giáo dục và nghĩ về thế giới, từ các
hoạt động sáng tác tự do và truyền
tải nó tới người khác, đến cách phong
phú tự do bày tỏ thái độ
công
dân, bao gồm cả những tổ chức xã hội độc lập
hình thành tự phát. Tóm
lại, nó là một khu vực mà trong
đó sống trong sự thật được chi tiết hóa
và vật chất hóa theo cách
nhìn thấy được.
Vì thế, cái sau này sẽ được nhắc đến
như là "sáng kiến công dân",
"phong trào bất đồng chính kiến", thậm
chí đối lập, nổi lên như là một
phần mười hiển hiện nhô khỏi mặt nước của tảng băng, từ khu
vực đó - từ
đời sống độc lập của xã hội. Nói cách
khác, cũng hệt như đời sống độc
lập của xã hội bắt rễ từ sống trong sự thật theo nghĩa rộng
nhất của từ
này, như là cách biểu hiện chi tiết
và tách biệt của đời sống đó, "bất
đồng chính kiến" cũng dần trỗi dậy từ "đời sống độc lập của
xã hội".
Tuy vậy, vẫn có một khác biệt đáng kể:
nếu "đời sống độc lập của xã
hội", ít nhất là bề ngoài
có thể được hiểu như là một dạng cao hơn của
sống trong sự thật, thì sẽ kém rõ
ràng hơn nhiều rằng "các phong trào
bất đồng chính kiến" lại nhất thiết là dạng cao
hơn của "đời sống độc
lập của xã hội". Chúng chỉ đơn giản là
một biểu hiện của nó, và mặc dù
có thể chúng dễ nhận ra nhất nhất, và
mới nhìn thoáng qua, là biểu hiện
chính trị nhất (và được chi tiết hóa
rõ nhất) của nó, chúng còn
lâu mới
là trưởng thành nhất, thậm chí quan
trọng nhất, không về mặt xã hội nói
chung, mà thậm chí về mặt ảnh hưởng
chính trị trực tiếp. Sau rốt, "bất
đồng chính kiến" đã bị bứt khỏi ngọn nguồn của
nó một cách giả tạo,
bằng việc đặt cho nó một cái tên đặc
biệt. Tuy nhiên, trên thực tế, khó
có thể nghĩ về nó biệt lập khỏi toàn
bộ cái nền chung mà từ đó
nó phát
triển lên, cái mà nó
là một phần hữu cơ và là
cái cung cấp nguồn sức
mạnh cho nó. Dù gì đi nữa, từ những
gì trình bày ở trên về những
dị
biệt của hệ thống hậu toàn trị, rõ
ràng là cái
tưởng chừng như
là có tính chính trị nhất
trong các lực lượng tại một thời điểm cho
trước, cái vẫn tự nghĩ về mình theo lối ấy,
trên thực tế lại không nhất
thiết
là một lực lượng như vậy. Phạm vi
mà nó trở thành một lực
lượng chính trị thực sự hoàn hoàn phụ
thuộc vào bối cảnh tiền-chính trị
của nó.
Cái gì sẽ tiếp sau mô tả
trên? Không
nhiều hơn và không ít hơn điều
này: không thể nói về cái
mà
các "nhà bất đồng chính kiến" đang
làm
trên thực tế, và ảnh hưởng của những việc họ
làm
mà lại không trước hết
nói về những việc của tất cả những người, bằng
cách
này hay cách khác,
tham gia vào cuộc sống độc lập của xã hội, những
người
hoàn toàn không
nhất thiết phải là "nhà bất đồng chính
kiến". Họ
có thể là các nhà văn
viết theo ý thích mà không
thèm để
ý đến kiểm duyệt hay những mệnh lệnh
chính thức, những người truyền bá tác
phẩm của họ
- trong trường hợp
các nhà xuất bản chính thức từ chối in
chúng - với tư cách là
samizdat
(văn chương bí mật, văn chương “không
chính thống”)
.
Họ cũng có thể là các nhà
triết học, sử học, xã hội học, hay tất cả
những nhà nghiên cứu độc lập, mà nếu
như không thể qua các kênh
chính
thức hoặc bán chính thức, lưu truyền
tác phẩm của mình trong
samizdat,
hay những người tổ chức các cuộc đàm luận, thuyết
giảng và hội thảo tư
nhân. Họ có thể là các
giáo viên, những người kín
đáo dạy thanh niên
những điều vốn bị "cấm kị" trong các trường công,
những linh mục đang
tại vị, hoặc đã bị [chính quyền] phế truất, vẫn
cố gắng thực hành đời
sống tôn giáo tự do; các họa sĩ, nhạc
sĩ và ca sĩ, những người đang lao
động nghệ thuật mặc cho nhà cầm quyền nhòm
ngó thế nào; những người,
bằng mọi phương tiện sẵn có, cố gắng thể hiện và
bảo vệ các lợi ích xã
hội thực sự của người lao động, trả lại ý nghĩa
đích thực cho các công
đoàn, hay sáng lập các công
đoàn độc lập; những người không sợ thu
hút
sự chú ý của các quan chức tới những
trường hợp bất công, những người
đấu tranh để được thấy luật lệ đang được bảo vệ; và những
nhóm thanh
niên khác nhau đang gỡ bở những sự giật
dây và sống theo chính cách
của
mình, theo tinh thần của hệ giá trị của
mình. Bảng liệt kê vẫn còn
mãi.
Rất ít người nghĩ đến chuyện gọi tất cả những người
này là "nhà bất
đồng chính kiến". Và dù thế, chẳng
phải những "nhà bất đồng chính kiến"
nổi tiếng cũng chỉ là người bình thường như họ
hay sao? Chằng phải tất
cả những hành động ấy chính là
cái mà những "nhà bất đồng
chính kiến"
đang thực hiện hay sao? Chẳng phải những người mà ta vừa kể
không tạo
ra các công trình học thuật
và đăng chúng trong
samizdat?
Chẳng
phải họ không viết kịch, viết tiểu thuyết và thơ?
Chẳng phải họ cũng
đang vật lộn chống lại đủ loại bất công và cố gắng
tìm hiểu và thể hiện
những quan tâm xã hội thực sự của vô số
bộ phận dân chúng?
Sau khi đã cố gắng chỉ ra các nguồn mạch, cấu
trúc bên trong và một
số mặt của thái độ "bất đồng chính kiến" như
trên, rõ ràng tôi
đã
chuyển góc nhìn từ bên ngoài
sang một cuộc điều tra về những gì mà
các
"nhà bất đồng chính kiến" đang
thực sự
làm, và làm thế nào
mà các đề
xướng của họ được thực hiện, và chúng sẽ dẫn tới
đâu.
Vì thế, kết luận thứ nhất được rút ra
là,
cái không gian hoạt động
căn bản và quan trọng nhất, cái quyết định mọi
không gian khác, chỉ đơn
giản là một cố gắng tạo ra và hỗ trợ "đời sống
độc lập
của xã hội" với
tư cách là một sự thể hiện cụ thể của "sống trong
sự
thật". Nói cách
khác, là hành động tôn vinh
sự thật một
cách kiên định, có mục đích
và
cẩn trọng, và tổ chức việc tôn vinh
này. Điều
này, rốt cuộc, là tự
nhiên thôi: nếu sống trong sự thật là
xuất
phát điểm cơ bản cho mọi nỗ
lực của con người chống lại sức ép tha hóa của hệ
thống,
nếu nó là cơ
sở duy nhất có ý nghĩa cho bất kì
hành động
có ý nghĩa chính trị nào,
và nếu, cuối cùng, nó cũng
là nguồn hiện
sinh sâu sắc nhất của thái độ
"bất đồng chính kiến", thì thật khó
tưởng tượng
được rằng thậm chí một
sự "bất đồng chính kiến" công khai còn
có cơ
sở nào khác ngoài tôn vinh
sự thật, tôn vinh một cuộc sống chân
thành và
cố gắng mở đường cho
những mục tiêu đích thực của cuộc sống.
Bản tiếng Việt © 2006 Duy Tân Trẻ (
duytantre@walla.com)
© 2006 talawas
[1]Tác
giả dùng chiết tự: đối lập - opposition với "kiến lập" -
position và tiếp đầu tố "đối" - op. (Biên dịch)
[2]Tại
đoạn này, Havel đã chính thức trả lời
một cách hiệu quả lời kết tội của
các báo chí Czechoslovakia, trong
đó “bất đồng chính kiến”
đôi khi được
hiểu là
odpadlik.
Nghĩa đen của từ này là “kẻ bị sa
ngã”, hay “kẻ phản bội” hoặc
“tái
phạm” (Biên dịch).
[3]Ủy
ban Bảo vệ Công nhân, một tổ chức của Ba Lan tồn
tại trước khi có sự ra
đời của Công đoàn Đoàn kết năm 1980.
Sau đó nó được đổi tên thành
KSS-KOR (Ủy ban Tự vệ Xã hội-KOR) để nhấn mạnh đến cam kết
bảo vệ các
quyền dân sự cũng như sự ủng hộ của nó đối với
các sáng kiến xã hội
chống lại các thể chế của nhà nước
toàn trị (Biên dịch).