XVI.
Hệ thống hậu toàn trị đồng nghĩa với cuộc tấn công
tổng lực vào con
người, và con người đứng lên chống lại
nó một cách cô độc, bị bỏ
quên
và cô lập. Cho nên, rất tự
nhiên là mọi "phong trào bất đồng
chính
kiến" đều là các phong trào tự vệ
rõ rệt: chúng tồn tại để bảo vệ con
người và những mục tiêu chân
chính của cuộc sống chống lại các mục
tiêu
của hệ thống.
Ngày nay, nhóm KOR Ba Lan được gọi là
"Ủy ban vì Tự vệ Xã hội". Từ
"tự vệ" xuất hiện trong những cái tên của
các tổ chức khác ở Ba Lan,
nhưng thậm chí Nhóm quan sát Helsinki
ở USSR (Liên bang Cộng hòa Xã hội
Chủ nghĩa Xô viết) và chính Hiến chương
77 của chúng ta cũng có tính tự
vệ trong bản chất.
Theo chính trị học truyền thống, cương lĩnh tự vệ
này
là dễ hiểu,
mặc dù nó có vẻ nhỏ bé, tạm
thời và
về bản chất là tiêu cực. Nó
không
đưa ra bất kì một khái niệm, mô
hình hay
ý thức hệ mới nào, và vì
thế,
không phải là chính trị theo nghĩa
thích hợp
của từ này, bởi chính trị
học luôn giả định một cương lĩnh "tích cực"
và hiếm
khi có thể tự giới
hạn mình vào việc bảo vệ ai đó khỏi
cái
gì đó.
Cái quan điểm như thế, tôi nghĩ, bộc lộ những
nhược điểm
trong cách
quan sát chính trị truyền thống về sự vật. Hệ
thống hậu
toàn trị, rốt
cuộc, không phải sự biểu hiện một đường lối chính
trị
nào đó được thực
thi bởi một chính quyền nào đó.
Nó
là một cái gì đó rất
khác: nó
là sự
xâm phạm lâu dài, nghiêm trọng
và phức
tạp vào xã hội, hơn là sự tự
xâm
phạm của xã hội. Nếu chống lại nó bằng
cách đơn
giản là vạch ra một
đường lối chính trị khác, và đấu tranh
cho một sự
thay đổi trong chính
quyền không những chỉ là không thực tế,
mà
nó còn hoàn toàn
không phù
hợp, bởi vì nó không bao giờ chạm tới
được gốc rễ
của vấn đề. Đã từ
lâu, nó không còn nằm gọn
trong các
đường lối chính trị hay cương lĩnh
nữa: nó là vấn đề của chính cuộc sống.
Do đó, bảo vệ các mục tiêu của cuộc
sống, bảo vệ nhân bản không chỉ
là cách tiếp cận thực tế hơn - do chỗ
nó có thể bắt đầu ngay lúc
này và
có tiềm năng trở nên đại chúng hơn
vì nó quan tâm đến đời sống thường
nhật của con người, mà đồng thời (và
có lẽ đúng hơn là vì
chính vì điều
này), nó còn là
cách tiếp cận triệt để hơn nhiều lần, bởi vì
nó nhắm
đúng vào bản chất của sự vật.
Có những lúc ta phải lặn xuống đáy
sâu của sự thống khổ của ta để
hiểu sự thật, cũng như chúng ta phải trồi lên từ
đáy giếng để nhìn
những ngôi sao trong ánh sáng ban
ngày quang đãng. Tôi cảm thấy rằng,
ngày nay, chính cái cương lĩnh "nhỏ
bé", "tạm thời" và "tiêu cực"
này,
chính sự bảo vệ con người "đơn thuần" này, theo
một nghĩa nhất định (và
không chỉ trong môi trường mà
chúng ta đang sống), là một chương
trình
tối ưu và tích cực nhất, bởi vì
nó buộc chính trị phải trở về cái xuất
phát điểm duy nhất phù hợp - nếu như ta muốn
tránh tất cả những sai lầm
cũ - đó là con người cá
nhân. Trong xã hội dân chủ, nơi
mà bạo lực với
loài người không rõ ràng
và tàn khốc bằng [trong xã hội của
chúng ta],
cuộc cách mạng cơ bản trong chính trị học
này vẫn còn chưa xảy ra, và
sự việc có lẽ phải trở nên tồi tệ trước khi nhu
cầu cấp thiết cho cuộc
cách mạng ấy được chính trị học nhận thức ra.
Trong thế giới của chúng
ta, chính bởi sự tồi tệ mà chúng ta
đang sống, có vẻ là chính trị
đã
trải qua sự hóa thân ấy rồi: quan tâm
chính của tư tưởng chính trị
không còn là những tầm nhìn
trừu tượng của một mô hình "positive"
và
self-redeeming (và tất nhiên cả những
hành vi chính trị cơ hội vốn là
mặt trái của tấm huy chương), mà là
con người - những người mà cho đến
này vẫn chỉ bị nô dịch bởi những mô
hình ấy và cuộc thực thi chúng.
Đương nhiên, mọi xã hội đòi hỏi một mức
độ tổ chức
nào đó. Tuy thế,
nếu sự tổ chức ấy là để phục vụ con người, chứ
không phải
ngược lại,
thì con người phải được giải phóng, và
không
gian phải được tạo ra để
họ có thể tự tổ chức theo những cách
có ý
nghĩa. Sự suy đồi của cách
tiếp cận đối ngược, trong đó con người phải được tổ chức
theo
cách này
hay cách khác (bởi ai đó, người
luôn hiểu
hơn ai hết "cái nhân dân
cần") để sau đó được báo cáo
là đã
được giải phóng, là cái
chúng ta đã
quá thấm thía.
Để tóm lại: hầu hết những người quá lệ thuộc
vào phương pháp tư duy
chính trị truyền thống đều thấy sự yếu ớt của "phong
trào bất đồng
chính kiến" trong đặc điểm tự vệ thuần túy của
chúng. Ngược lại, tôi
coi đó là sức mạnh to lớn nhất của
chúng. Tôi tin rằng đây chính
là chỗ
mà các phong trào này
đã thay thế kiểu chính trị cũ của những người vẫn
ôm những cương lĩnh lạc hậu.
XVII.
Trong các "phong trào bất đồng chính
kiến" của khối Xô viết, sự tự
vệ của con người thường dưới hình thức bảo bệ các
quyền dân sự và quyền
con người như chúng đã được khắc sâu
trong Tuyên ngôn Toàn cầu về
các
Quyền Con người, các Công ước Quốc tế về Quyền con
người, Luật cuối
cùng của Hội nghị Helsinki và các hiến
pháp của các quốc gia. Các phong
trào này được dựng nên để bảo vệ bất
kì ai đang bị kết án vì đã
hành
động theo tinh thần của những quyền này, và đến
lượt chúng lại hành
động theo đúng tin thần ấy, bằng cách nhất quyết
đòi chính quyền ghi
nhận và tôn trọng các quyền
dân sự và con người, và bằng
cách thu hút
sự chú ý tới những lĩnh vực của đời sống nơi
mà các quyền này vẫn chưa
được ghi nhận.
Công việc của chúng, do vậy, dựa trên
nguyên
tắc về tính hợp pháp:
chúng vận hành công khai, khăng khăng
không
những rằng các hoạt động
của chúng là phù hợp với
pháp luật,
mà còn rằng đòi hỏi tôn
trọng pháp
luật là một trong những mục đích chính
của
các phong trào ấy. Nguyên
tắc về tính hợp pháp này,
cái đã
cung cấp cả xuất phát điểm và khung
cho các hoạt động của chúng, là điểm
chung cho mọi
nhóm "bất đồng chính
kiến" trong khối Xô viết, mặc dù các
nhóm
riêng rẽ không bao giờ viết
ra một thỏa thuận chính thức về điểm này.
Hoàn
cảnh này gợi ra một câu
hỏi quan trọng: Tại sao, trong những điều kiện mà sự lạm
dụng
quyền lực
tràn lan và tùy tiện là
luật chơi, lại tồn
tại sự chấp nhận chung và
ngay lập tức nguyên tắc về tính hợp
pháp?
Ở tầm mức sơ đẳng, sự nhấn mạnh vào tính hợp
pháp
này là một biểu
hiện tự nhiên của các điều kiện đặc thù
tồn tại
trong các hệ thống hậu
toàn trị, và là kết quả của một sự
nhận thức sơ
đẳng về tính đặc thù
này. Nếu về cơ bản chỉ có hai cách đấu
tranh cho
một xã hội tự do - tức
là, qua những phương tiện hợp pháp, và
qua
cách mạng (có vũ trang hay
không có vũ trang) - thì ngay lập tức
sẽ rõ
là cách thứ hai là không
thích hợp chút nào trong hệ thống hậu
toàn
trị. Cách mạng chỉ thích hợp
khi các điều kiện đã có những chuyển
động
rõ ràng và công khai, chẳng
hạn, trong một cuộc chiến tranh, hay trong các
tình huống
mà xung đột
xã hội hay chính trị đã lên
tới đỉnh điểm.
Trong các nền độc tài cổ
điển thì tình huống thích hợp
chính
là lúc một nền độc tài vừa mới
thành hình, hoặc đang trong tình trạng
sụp đổ.
Nói cách khác, nó
phù
hợp ở nơi mà các lực lượng xã hội
có sức
mạnh tương đương (ví dụ như
một chính quyền chiếm đóng với một dân
tộc đấu
tranh cho độc lập) đang
đối đầu nhau trên bình diện sức mạnh thực tế, hay
nơi tồn
tại sự phân
định rạch ròi những kẻ bóp nặn quyền lực
và
dân chúng lầm than, hay khi
mà xã hội thấy mình đang trong
tình trạng
của một cuộc khủng hoảng công
khai. Đương nhiên, các điều kiện trong hệ thống
hậu
toàn trị - trừ
những tình huống quá bùng nổ như ở
Hungary năm
1956 - lại trái ngược
hẳn. Chúng tĩnh và ổn định, và
các cuộc
khủng hoảng xã hội, hầu hết,
đều tồn tại ngấm ngầm (mặc dù chúng chạy xuống
sâu
hơn). Xã hội không
bị phân cực hóa quá mức trên
bình diện
sức mạnh thực tế, nhưng, như ta
đã thấy, lằn ranh cơ bản của xung đột chạy xuyên
qua mỗi
con người.
Trong tình huống này, không một nỗ lực
cách
mạng nào có hi vọng tạo nên
dù chỉ một sự cộng hưởng tối thiểu trong phần còn
lại của
xã hội, bởi
vì xã hội này bị "ru ngủ",
chìm sâu
trong một cuộc ganh đua tiêu thụ và
hoàn toàn dính líu
vào hệ thống hậu
toàn trị (tức là, tham gia vào
đó
và hành xử như là các
nhân viên
của "sự vận hành tự động" của nó), và
nó sẽ nhận ra rằng những gì đại loại như
cách mạng
đều không chấp nhận
được. Xã hội ấy sẽ giải thích cách
mạng như
là sự tấn công vào nó,
và
thay vì ủng hộ cách mạng, rất có thể
nó sẽ
phản ứng bằng việc làm tăng
cường độ thiên vị về phía chính quyền,
bởi
vì, trong mắt nó, ít nhất
thì hệ thống cũng có thể cho nó một sự
nửa-hợp
pháp nào đó. Nếu cộng
thêm thực tế là hệ thống hậu toàn trị
có
trong tầm tay một cơ chế theo
dõi trực tiếp và gián tiếp rất phức
tạp, có
một không hai trong lịch
sử, thì hiển nhiên là không
những bất
kì cố gắng cách mạng nào đều sẽ
dẫn tới ngõ cụt về mặt chính trị, mà
còn
bất khả thi về mặt kĩ thuật.
Hầu như chắc chắn là nó sẽ bị phong tỏa ngay
trước khi
nó có cơ hội
chuyển các dự định thành hàng động.
Thậm
chí nếu cách mạng là có
thể,
thì nó cũng chỉ là cái
khoát tay lẻ
loi của vài cá nhân riêng lẻ,
và họ
sẽ bị đàn áp không chỉ bởi bộ
máy khổng lồ
của quyền lực quốc gia (và
siêu quốc gia), và còn bởi
chính cái
xã hội mà dưới cái tên của
nó, họ
đã thúc đẩy cuộc cách mạng của
mình từ ban
đầu. (Tuy nhiên, điều này
cũng là một lí do khác giải
thích tại sao
chính quyền và bộ máy tuyên
truyền của nó vẫn thường gán các mục
tiêu
khủng bố cho các "phong trào
bất đồng chính kiến" và buộc tội chúng
dùng
các thủ đoạn đen tối và phi
pháp).
Tuy nhiên, tất cả những điều này đều
không phải là lí do chính
tại
sao các "phong trào bất đồng chính
kiến" ủng hộ nguyên tắc về tính hợp
pháp. Lí do chính ẩn sâu
hơn, ở cấu trúc sâu xa nhất của thái độ
"bất
đồng chính kiến". Thái độ này
chính là và phải là
thù địch với quan
niệm thay đổi bằng bạo lực như thế đối với hệ thống - trong khi mọi
cuộc cách mạng, về cơ bản, đều hướng tới sự thay đổi
thông qua bạo lực
- đơn giản vì chúng đặt niềm tin vào
bạo lực. (Nói chung, thái độ "bất
đồng chính kiến" chỉ có thể chấp nhận bạo lực như
là cái xấu cần thiết
trong những tình huống cực đoan, khi mà bạo lực
trực tiếp chỉ có thể
được đáp lại bằng bạo lực và nơi mà
thụ động đồng nghĩa với ủng hộ bạo
lực: cho phép chúng tôi nhắc lại sự
mù quáng của chủ nghĩa hòa
bình
châu Âu như là một trong những yếu tố
chuẩn bị chiến trường cho Thế
chiến II. Như tôi đã đề cập, "nhà bất
đồng chính kiến" có khuynh hướng
nghi ngờ về tư tưởng chính trị dựa trên niềm tin
rằng các thay đổi xã
hội cơ bản chỉ có thể đạt được thông qua sự thay
đổi (bất kể bằng cách
nào) trong hệ thống hay trong chính quyền,
và niềm tin rằng những thay
đổi như thế - vì chúng được coi là
"căn bản" - có thể biện minh cho sự
hi sinh những thứ "không cơ bản bằng", hay nói
cách khác, sinh mạng con
người. Ở đây, sự tôn trọng các
khái niệm lý thuyết nặng hơn sự tôn
trọng cuộc sống con người. Và đây chính
là điều đe dọa sẽ biến nhân
loại thành nô lệ một lần nữa.
"Các phong trào bất đồng chính kiến",
như
tôi đã cố gắng chỉ ra,
chia sẻ quan điểm hoàn toàn ngược chiều. Họ hiểu
các thay đổi hệ thống
như là cái hời hợt, thứ yếu, cái
gì
đó mà tự thân nó
thì chằng đảm bảo
cho cái gì hết. Do đó, thái
độ ngoảnh mặt
với các tầm nhìn chính trị
trừu tượng của tương lai để nhìn về những con người cụ thể,
và những
cách bảo vệ họ một cách hiệu quả, ở đây
và
ngay lúc này, là đồng hành
tự nhiên với một sự thù ghét mọi
hình thức
bạo lực được thực hiện dưới
cái tên "một tương lai tốt đẹp hơn", và
bởi một
niềm tin sâu sắc rằng
một tương lai nếu được đảm bảo bằng bạo lực có thể sẽ
còn
tồi tệ hơn
cái hiện tại; nói cách
khác, tương lai
có thể bị nguyền rủa đến chết
bởi chính các phương tiện vốn để bảo vệ
nó. Đồng
thời, không nên nhầm
lẫn thái độ này với chủ nghĩa bảo thủ
chính trị
hay ôn hòa chính trị.
Các "phong trào bất đồng chính kiến"
không
lẩn trốn ý tưởng lật đổ
chính trị thông qua bạo lực bởi vì
ý tưởng
này quá cấp tiến, mà ngược
lại, chính vì nó không đủ
cấp tiến. Với họ,
vấn đề nằm quá sâu để có
thể giải quyết qua sự thay đổi hệ thống đơn thuần, về chính
quyền hay
về công nghệ. Một số người, trung thành với
các học
thuyết Marxist cổ
điển của thế kỉ 19, hiểu hệ thống của chúng ta như
là sự
thống trị của
giai cấp bóc lột trên đầu giai cấp bị
bóc lột,
và từ phỏng đoán rằng,
bọn bóc lột sẽ không bao giờ tự nguyện từ bỏ quyền
lực của
mình, họ tìm
thấy giải pháp duy nhất ở cách mạng để
đánh đổ bọn
bóc lột. Tự nhiên
là, họ coi việc đấu tranh cho các quyền con người
như thể
là cái gì đó
hợp pháp tới mức tuyệt vọng, lòe bịp, cơ hội
và
rốt cuộc là sai lầm bởi
vì nó dựa trên một giả định
đáng ngờ rằng
có thể đối thoại chân thành
với những người bóc lột anh trên cơ sở một
tính hợp
pháp giả tạo. Vấn
đề là họ đã không thể tìm ra
ai đủ quyết
tâm thực hiện cuộc cách mạng
này, và kết quả là họ trở
nên yếm thế,
hoài nghi, thụ động và cuối cùng
là vô cảm - nói cách
khác, họ kết
thúc đúng vào nơi mà hệ
thống muốn
đặt họ vào. Đây là một ví dụ
của việc con
người có thể lầm lạc đến mức
nào nếu cứ áp dụng máy móc,
trong
các điều kiện hậu toàn trị, những mô
hình ý thức hệ đến từ thế giới khác
và từ
thời đại khác.
Đương nhiên, người ta không cần phải là
người biện
hộ cho cách mạng
bạo lực thì mới có thể chất vấn rằng liệu
đòi hỏi
về tính hợp pháp có
chút ý nghĩa nào không trong
khi luật
pháp - đặc biệt là các luật chung
liên quan đến quyền con người - không hơn
là mặt
tiền, một khía cạnh
của thế giới vỏ hình thức, một trò chơi đơn thuần
mà đằng sau nó chỉ
chứa đựng sự giật dây thuần túy. "Họ có
thể
phê chuẩn mọi thứ bởi vì
đằng nào họ cũng sẽ tiếp tục làm bất
kì cái
gì họ thích" - đây là một
ý
kiến mà ta thường phải đối mặt. Chẳng phải là
mãi
"tin những gì họ
nói", kháng nghị cái luật
pháp mà
mọi đứa trẻ đều biết là chỉ có hiệu
lực chừng nào chính quyền còn
thích, rốt
cuộc cũng chỉ là một thứ đạo
đức giả, một kiểu chủ nghĩa cản trở Svejkia và, cuối
cùng, chỉ là một
cách khác chơi trò chơi, một kiểu tự
dối
mình khác mà thôi?
Nói cách
khác, liệu cách tiếp cận hợp pháp
có tương
thích với nguyên tắc "sống
trong sự thật" không?
Câu hỏi này chỉ có thể được trả lời
bằng việc đầu tiên là xem xét
các ẩn dụ rộng hơn về cách mà
các đạo luật vận hành trong hệ thống hậu
toàn trị.
Trong nền độc tài cổ điển, ý chí của
nhà
thống trị được thực hiện
trực tiếp, theo một phương cách không được kiểm
soát, với một mức độ
lớn hơn nhiều so với hệ thống hậu toàn trị. Nền độc
tài
không có lí do
gì để che giấu nền tảng của nó, hay che giấu sự
vận
hành thực sự của
quyền lực, và do vậy chẳng cần khuôn
mình một
cách quá đáng vào
các đạo
luật. Mặt khác, hệ thống hậu toàn trị,
hoàn
toàn bị ám ảnh với nhu cầu
kết nối mọi thứ trong một trật tự duy nhất: cuộc sống trong một trạng
thái như vậy bị xuyên thấu bởi một mạng lưới
dày
đặc các quy định,
tuyên bố, chỉ thị, quy tắc ứng xử, trật tự và quy
tắc
(nó đã chẳng bị
gọi là hệ thống quan liêu nếu không
có một
lí do tốt cho cái tên ấy).
Một phần lớn của những quy tắc ứng xử ấy hoạt động như là
các công cụ
trực tiếp để thao túng đời sống - vốn là một phần
hữu cơ
của hệ thống
hậu toàn trị. Các cá nhân bị
rút
xuống không hơn các bánh răng nhỏ
xíu
trong một cơ chế khổng lồ, và tầm quan trọng của họ bị giới
hạn
ở chức
năng của họ trong cơ chế này. Nghề nghiệp, nhà
cửa,
các hoạt động, sự
thể hiện về văn hóa xã hội, nói
tóm lại,
là mọi thứ của họ đều phải
được đặt cùng với nhau chặt tới mức có thể, được
định
sẵn, được quản lí
và kiểm soát. Mọi sự khác thường với
lối sống được
quy định trước đều
được coi là lỗi lầm, phóng đãng
và vô
chính phủ. Từ người nấu bếp trong
cửa hàng ăn, người mà nếu không
có giấy
phép vốn ngặt nghèo của của bộ
máy quan liêu, thì không thể
nấu cái
gì đó đặc biệt cho khách
hàng, đến
người ca sĩ vốn không thể diễn bài hát
mới của anh
ở một buổi hòa nhạc
nếu không có sự chấp thuận quan liêu.
Mọi người,
trong mọi mặt của đời
sống của họ, bị trói chặt trong mớ quy tắc của quan
liêu,
sản phẩm tất
yếu của hệ thống hậu toàn trị. Với sự nhất quán
ngày càng tăng, nó trói
tất cả mọi biểu hiện và mục tiêu của cuộc sống
vào
tinh thần của những
mục tiêu của nó: lợi ích thiết
thân của sự
vận hành trơn tru và tự động
của nó.
Theo nghĩa hẹp hơn, một bộ luật cũng phục vụ cho hệ thống hậu
toàn
trị theo cách trực tiếp này, tức là,
nó cũng tạo nên một phần của thế
giới các quy phạm và cấm đoán. Tuy
nhiên, cùng lúc, nó cũng
thực hiện
nghĩa vụ ấy theo một cách khác gián
tiếp, cách mà tùy theo tầng mức
mà
bộ luật đó dính líu vào sẽ
làm cho nó gần gũi hơn với ý thức hệ,
và
trong một số trường hợp, làm cho nó trở
thành một bộ phận trực tiếp của
ý thức hệ.
- Giống như ý thức hệ, bộ luật vận hành
như là
lời biện minh.
Nó gói ghém sự thực thi quyền lực
trong trang phục
sang trọng của ngôn
từ luật pháp; nó tạo ra ảo tưởng dễ chịu rằng
công
lí đã được thực
hiện, xã hội được bảo vệ và việc thực thi quyền
lực được
kiểm soát
khách quan. Những điều này được làm để
che giấu
bản chất thật của thực
tiễn pháp lí hậu toàn trị: sự giật
dây
hoàn toàn cả xã hội. Nếu một
người quan sát bên ngoài, người
không hiểu
gì về đời sống ở
Czechoslovakia mà chỉ nghiên cứu luật của
nó
thôi, anh ta sẽ hoàn toàn
không thể hiểu được chúng ta đang than phiền về
cái
gì. Sựu giật dây
chính trị ngầm của tòa án
và các
công tố viên, các giới hạn áp
đặt lên
khả năng của luật sư bảo vệ cho thân chủ của mình,
bản
chất kín de facto
(trên thực tế) của các phiên
tòa, và
các hành vi tùy tiện của lực lượng
an ninh, vị trí của quyền lực bên trên
pháp
quyền, và cách áp dụng rộng
đến mức kì quặc của vô số phần mù mờ
có chủ
ý của bộ luật, và tất nhiên
là sự lờ tịt các phần tích cực của bộ
luật ấy
(các quyền của các công
dân): tất cả những điều này còn bị che
giấu với
nhà quan sát bên ngoài
của chúng ta. Điều duy nhất mà anh ta
có thể mang
đi là ấn tượng rằng
pháp luật ta cũng không tệ lắm so với
các nước văn
minh khác, và cũng
không khác lắm, trừ một vài thắc mắc
nhỏ, như
là sự xác nhận trong hiến
pháp về sự thống trị mãi mãi của một
chính
đảng, và tình yêu của quốc
gia đối với siêu cường lân bang. Nhưng
đó vẫn chưa
phải là tất cả: nếu
nhà quan sát của chúng ta
có cơ hội
nghiên cứu mặt chính thức của các
quá trình và sự thực hành
cảnh sát
và tố tụng, và nó "trông"
như thế
nào trên giấy tờ, anh ta sẽ phát hiện
ra rằng hầu
hết các nguyên tắc
chung của tố tụng hình sự đều có: bản
án được
tuyên trong thời hạn được
định trước kể từ khi bị bắt, và các lệnh tạm giữ
cũng
vậy. Cáo trạng
được tống đạt hợp lệ, bị cáo có luật sư
và
vân vân. Nói cách
khác, ai
cũng có biện minh: bọn họ đều tuân thủ
luật pháp. Tuy nhiên,
trên thực tế, chúng tước đoạt vô cớ
và không thương xót tuổi thanh
xuân
của một người chỉ vì anh ta làm các
bản copy samizdat
của một
tiểu thuyết của một nhà văn bị cấm, hoặc cảnh sát
đã xuyên tạc lời khai
của anh (và mọi người đều biết thế, kể từ ông quan
tòa cho đến bị cáo).
Dù thế, những điều này vẫn nằm ở phần nền. Lời
khai bị
xuyên tạc không
nhất thiết là hiển nhiên trong các
tài liệu
phiên tòa, và điều khoản
trong bộ luật hình sự quy định về tội khích động
không loại trừ việc áp
dụng tội này với hành vi sao lại một tiểu thuyết
bị cấm.
Nói cách khác,
các bộ luật - ít nhất trong nhiều lĩnh vực,
không
hơn là một mặt tiền,
một khía cạnh của thế giới giả hình. Nhưng tại
sao
nó lại ở đó kia chứ?
Là vì chính cái
lí do đã
khiến ý thức hệ phải có mặt: nó cung
cấp một
cây cầu biện minh giữa hệ thống và các
cá
nhân, tạo thuận lơi cho họ đi
vào cấu trúc quyền lực và phục vụ
những đòi
hỏi ngẫu nhiên của quyền
lực. Lời biện minh cho phép các cá
nhân tự
lừa mình bằng ý nghĩ là họ
chỉ giữ gìn luật pháp và bảo vệ
xã hội khỏi
bọn tội phạm. (Không có lời
biện minh này, để tuyển một thế hệ quan tòa,
công
tố và thẩm vấn viên
sẽ khó hơn biết bao nhiêu!) Như là một
khía
cạnh của thế giới giả hình,
các bộ luật đánh lừa không chỉ nhận
thức của những
người đi buộc tội,
mà còn lừa dối công chúng,
bịt mắt
các nhà quan sát quốc tế,
và đánh
lừa cả lịch sử.
- Cũng như ý thức hệ, luật lệ là một
công cụ cơ bản để
truyền đạt giáo điều ra ngoài cấu trúc
quyền lực. Chính luật lệ đem đến
cho việc thực hành quyền lực một hình
thù, một khung khổ và một tập hợp
các nguyên tắc. Chính là
luật lệ đã cho phép các
thành tố của hệ thống
liên lạc được với nhau, đặt mình dưới một
ánh sáng, và thiết lập tính
chính đáng của chính bản
thân chúng. Nó cung cấp "luật chơi" cho
toàn
bộ trò chơi của các thành tố ấy,
và vận hành trò chơi với
công nghệ của
chúng. Liệu có thể tưởng tượng ra được việc thực
thi quyền lực hậu toàn
trị sẽ như thế nào không nếu thiếu cái
tín điều phổ quát biến mọi thứ
trở thành có thể này?, cái
phụng sự như là một ngôn ngữ chung để kết
nối các phần thích hợp trong cấu trúc
quyền lực lại với nhau? Bộ phận
đàn áp mà càng chiếm vị
trí quan trọng trong cấu trúc quyền lực,
thì
việc nó vận hành theo một đạo luật nào
đó lại càng quan trọng. Không
như thế, thì làm sao [bộ máy]
có thể khóa chặt người ta khỏi việc sao
chép các sách bị cấm, nếu
không có quan tòa, công tố,
điều tra viên,
luật sư, người tốc kí cho tòa án
và những hồ sơ dày cộm, và nếu tất cả
những món này không được xâu
chuỗi với nhau bằng một trật tự vững chắc?
Và hơn hết, nếu không có điều khoản
có vẻ lương thiện, Phần 100 về tội
khích động? Tất nhiên, những việc này
có thể được làm mà không cần
tới
một bộ luật và những phụ kiện đi kèm của
nó, nhưng chỉ trong các nền
độc tài tạm thời của các băng nhóm
Uganda, chứ không thể trong một hệ
thống bao gồm một phần to lớn đến chừng ấy của nhân loại văn
minh, và
là một phần thống nhất, ổn định và
đáng trọng nể của thế giới hiện đại.
Điều đó không chỉ là không
tưởng tượng nổi, mà còn là
không khả thi về
mặt kĩ thuật. Thiếu các luật lệ vận hành như
là lực cố kết về tín điều,
hệ thống hậu toàn trị không thể tồn tại.
Tất nhiên, toàn bộ vai trò của
tín điều, mặt
tiền, và biện minh xuất
hiện một cách hùng biện nhất, không
phải ở những
phần cấm đoán của
chúng - cái vạch ra cái gì
công
dân không được làm, và nền
tảng nào
mà
sự buộc tội dựa vào, mà ở phần tuyên bố
cái
gì anh có thể làm, và
cái
gì là quyền của anh. Ở đây,
hoàn toàn
không có gì khác
ngoài "từ, từ
và
từ". Dù thế, phần này của bộ luật cũng rất quan
trọng với
hệ thống, bởi
vì chính ở đây hệ thống xác
lập tính
chính đáng của nó như là
một chỉnh
thể, trước các công dân của
nó, trước những
đứa trẻ đang trên ghế nhà
trường, trước cộng đồng quốc tế và trước lịch sử. Cai hệ
thống
không
thể coi thường điều này vì nó
không thể cho
phép nó gây nghi ngờ về
những định đề cơ bản cuả ý thức hệ của nó,
cái vốn
thiết yếu với sự
sống còn của nó. (Ta đã thấy cấu
trúc quyền
lực đã bị nô dịch bởi chính
ý thức hệ và danh tiếng về ý thức hệ
của nó
như thế nào). Làm việc này
có nghĩa là chối bỏ mọi thứ mà
nó đang cố
chứng tỏ mình là, và do vậy,
một trụ cột chính mà hệ thống đang dựa
vào sẽ sụp
đổ: sự tích hợp của
thế giới giả hình.
Nếu sự thực thi quyền lực luân chuyển trong toàn
cấu trúc quyền lực
như là máu tuần hoàn trong mạch,
thì các bộ luật có thể được coi như
là
cái củng cố thành mạch. Thiếu nó,
máu của quyền lực không thể tuần hoàn
theo cách được tổ chức và cơ thể xã
hội sẽ bị chảy máu lung tung. Trật
tự sẽ sụp đổ.
Kêu gọi pháp luật kiên định
và liên
diễn - không chỉ các luật liên
quan đến quyền con người, mà tất cả các luật -
không hề có nghĩa là
những người đang làm việc ấy đã quỳ gối trước ảo
tưởng
rằng trong hệ
thống của chúng ta luật pháp là
cái
gì có giá hơn thế. Họ thừa biết vai
trò mà nó đang đóng. Nhưng
chính
là vì họ hiểu hệ thống phụ thuộc một
cách tuyệt vọng đến mức nào vào
nó -
vào phiên bản "cao quý" của
pháp
luật, tức là - họ cũng biết ý nghĩa của những
đòi
hỏi như thế to lớn
đến nhường nào. Vì hệ thống không thể
vận
hành nếu thiếu luật pháp, bởi
vì nó bị trói chặt đến mức tuyệt vọng
bởi sự cần
thiết phải giả bộ là
luật pháp vẫn đang được tuân thủ, nó bị
buộc phải
phản ứng với những
đòi hỏi ấy theo một cách nào
đó. Do
đó, đòi hỏi rằng pháp luật phải
được tôn trọng chính là một
hành động của
sống trong sự thật, cái đe
dọa toàn bộ cấu trúc dối trá ở
chính
cái cực điểm giả dối của nó. Cứ
lặp đi lặp lại, những đòi hỏi như vậy vạch trần bản chất
giáo điều
thuần túy của luật pháp cho toàn
xã hội,
và cho những người sống trong
các cấu trúc quyền lực của nó. Họ thu
hút
sự chú ý tới cái căn bản vật
chất thực sự của nó, và vì thế, một
cách
gián tiếp đã buộc những người
lẩn tránh sau luật pháp phải xác nhận
và
làm cho cái công cụ biện minh
này, cái phương tiện giao tiếp này,
cái
củng cố động mạch xã hội này
(thiếu nó, ý nguyện của họ sẽ không thể
lưu chuyển
trong xã hội) trở
nên khả tín, Họ buộc phải làm thế
vì lợi
ích trong chính lương tâm họ,
vì cái ấn tượng mà họ muốn tạo ra
trong con mắt
của người quan sát
ngoài cuộc, để duy trì quyền lực của
chính họ (với
tư cách là một phần
của của bộ máy tự bảo tồn của hệ thống và
các
nguyên tắc kết dính của
nó), hoặc đơn giản vì họ sợ bị kết tội
là
“vụng về” trong việc vận dụng
tín điều. Họ chẳng có lựa chọn nào
khác:
vì họ không thể vứt bỏ luật
chơi của chính trò chơi của mình, họ
chỉ có
thể cẩn thận hơn với những
luật này mà thôi. Không phản
ứng với những
thách thức có nghĩa là làm
xói mòn chính biện minh của họ
và
đánh mất quyền kiểm soát hệ thống
thông tin hai chiều của họ. Giả sử rằng luật pháp
chỉ
là cái hình thức,
rằng nó chẳng có tý hiệu lực
nào (và
rằng vì thế chẳng có lý do
gì phải
kháng nghị tới nó) sẽ có nghĩa
là tiếp tục
củng cố những mặt này của
luật (những mặt hình thức và mang tính
nghi thức).
Nó cũng có nghĩa là
xác nhận luật pháp là một mặt của thế
giới
hình thức và cho phép những
kẻ khai thác nó thản nhiên dựa
vào những
hình thức biện minh rẻ rúng
nhất (và vì thế, giả dối nhất).
Tôi thường xuyên thấy những người cảnh
sát, công tố viên hay quan
tòa - nếu họ đang phải đương đầu với một nhà Hiến
chương dày dạn hay
một luật sư dũng cảm, và nếu họ bị phơi ra trước
công luận (như là các
cá nhân với tên tuổi rõ
ràng, không còn được bao che bởi
tính vô danh
của bộ máy) - bỗng chốc trở nên rất cẩn thận
và rất lo lắng để khỏi lộ
ra những vết nứt của giáo điều. Điều này
không thể thay đổi được sự
thật là một quyền lực chuyên chế đang ẩn đằng sau
giáo điều ấy, nhưng
chính sự lúng túng của các
viên chức đã cản trở, làm chậm lại sự
vận
hành của nền chuyên chế ấy.
Tất nhiên, điều này là chưa đủ. Nhưng
một phần cơ
bản của thái độ
"bất đồng chính kiến" là nó xuất
phát từ
hiện thực của "bây giờ và ở
đây" của con người. Nó nhấn mạnh vào
những
hành động cụ thể, kiên quyết
và lặp đi lặp lại - mặc dù nó
có thể
không thích hợp và dù cho
nó
có
thể chỉ giảm bớt chút ít nỗi đau của một
công
dân bình thường nào đó -
hơn là vào các "giải pháp
căn bản" trừu
tượng trong tương lai mù mịt.
Dù sao đi nữa, chẳng phải là, trên thực
tế điều
này không chỉ là một
hình thức của "những việc nhỏ" theo kiểu Masarykia,
cái
mà với nó thái
độ "bất đồng chính kiến" lúc đầu có vẻ
đối ngược
rõ ràng?
Phần này sẽ không đầy đủ nếu không nhấn
mạnh một số
hạn chế bên
trong của chính sách "buộc họ phải giữ lời". Vấn
đề
là: thậm chí trong
trường hợp lí tưởng nhất, luật pháp cũng chỉ
là
một trong nhiều phương
cách đầy khiếm khuyết, và ít nhiều
ngoại sinh
(external) để bảo vệ cái
tốt hơn trong cuộc sống khỏi cái xấu hơn. Tự nó,
luật
pháp không bao
giờ có thể tạo nên cái gì
tốt hơn. Mục
đích của nó là cung cấp một dịch
vụ, và ý nghĩa của nó không
nằm trong bản
thân luật pháp. Xác lập sự
tôn trọng luật pháp không lập tức bảo
đảm một đời
sống, bởi vì rốt
cuộc, đó là công việc dành
cho con người,
chứ không phải dành cho luật
pháp hay các thể chế. Thật khó tưởng
tượng ra một
xã hội với những luật
lệ tốt và được hoàn toàn tôn
trọng mà
vẫn không thể sống được trong đó.
Ngược lại, người ta có thể tưởng tượng cuộc sống vẫn chịu
đựng
được
thậm chí ở những nơi mà luật pháp
không
hoàn thiện và không được thực
thi thật nghiêm chỉnh. Điều quan trọng nhất vẫn
luôn
là chất lượng cuộc
sống, và liệu pháp luật hỗ trợ hay đè
nén
nó, chứ không chỉ đơn thuần
nó được tôn trọng hay không. (Thường
thì sự
phục tùng luật pháp nghiêm
ngặt có thể gây ra các tác
động bi thảm tới
nhân phẩm con người). Chìa
khóa của một cuộc sống phong phú, hạnh
phúc,
nhân bản và được trân
trọng hơn không nằm ở thể chế hay luật hình sự.
Những thứ
ấy chỉ quy
định về cái gì được làm và
cái
gì không được làm, và
vì thế,
chúng chỉ
có thể làm cuộc sống dễ dàng đi hay
khó
khăn hơn mà thôi. Chúng ngăn
cấm hay cho phép, chúng trừng phạt, khoan thứ hay
bảo vệ,
nhưng chúng
không bao giờ có thể cho cuộc sống một bản chất
hay một
ý nghĩa. Cuộc
đấu tranh cho cái gọi là "tính hợp
pháp"
phải luôn đặt tính hợp pháp
này trên cái nền cuộc sống như
nó vốn
có. Nếu không giữ cho mắt mình
rộng mở với những chiều kích của sự tươi đẹp cũng như tồi tệ
của
cuộc
sống, và nếu không có mối
liên hệ đạo đức với
cuộc đời, cuộc đấu tranh
ấy sớm muộn cũng sẽ dẫn tới sự than khóc trên
những bia mộ
của của một
hệ thống các nhà kinh viện tự biện. Thiếu ước
muốn thực
sự, người ta sẽ
dần trở nên giống như người quan sát, đi đến kết
luận về
hệ thống của
chúng ta chỉ dựa trên các văn bản
phiên
tòa và lấy làm thỏa mãn nếu
đã
đếm đủ các quy định phù hợp.
XVIII.
Nếu như sự nghiệp chính của các "phong
trào bất đồng chính kiến" là
phụng sự sự thật, tức là, phục vụ những mục tiêu
chân chính của sự
sống, và nếu nó nhất thiết phải phát
triển thành sự bảo vệ cá nhân
và
quyền sống tự do và chân thực của anh ta
(có nghĩa là, một sự bảo vệ
các quyền con người và đấu tranh để thấy
pháp luật được tôn trọng) thì
một giai đoạn khác của cách tiếp cận
này, có thể là giai đoạn trưởng
thành nhất cho đến nay, là cái
mà Václav Benda gọi là sự
phát triển của
các cấu trúc song song.
Khi những người quyết sống trong sự thật đã từ chối mọi
tác động
trực tiếp lên các cấu trúc
xã hội hiện tại,
không kể đến các cơ hội
tham gia vào chúng, và khi những người
này
bắt đầu tạo ra cái tôi từng
gọi là cuộc sống độc lập của xã hội,
thì cuộc sống
độc lập này bắt đầu
tự kiến trúc theo phương thức nhất định. Có
lúc,
chỉ có vài biểu hiện
trứng nước của quá trình kiến tạo; những
lúc
khác, các cấu trúc đã định
hình khá rõ nét. Sự ra đời
và tiến
hóa của chúng không thể tách
rời
khỏi hiện tượng "bất đồng chính kiến", mặc dù
chúng vượt xa hơn rất
nhiều cái lĩnh vực vốn được phân định một
cách mơ
hồ của các hoạt động
thường được ám chỉ bằng từ này.
Những cấu trúc này là gì?
Ivan Jirous là người đầu tiên ở
Czechoslovak xây dựng và áp dụng
trên thực tế khái niệm về "nền văn hóa
thứ hai". Mặc dù lúc đầu ông quan
tâm chủ yếu đến nhạc rock bất phục
tùng và một số hãn hữu các
sự kiện văn học, nghệ thuật hay trình diễn
ít nhiều gần gũi với cảm nhận của những nhóm nhạc
bất phục tùng này,
thuật ngữ "văn hóa thứ hai" rất nhanh chóng được
sử dụng cho toàn bộ
mảng văn hóa độc lập và bị đè
nén, tức là, không chỉ cho nghệ thuật
và
những trào lưu đa dạng của nó, mà
còn cho các ngành khoa học
xã hội,
nhân văn và triết học. "Văn hóa thứ
hai" này, rất tự nhiên, đã tạo ra
những hình thức tổ chức giản đơn: các bản
samizdat của sách và tạp chí,
các buổi trình diễn, hội thảo, hòa
nhạc, triển lãm tư nhân và v.v. (ở
Ba Lan tất cả những thứ này đều phát triển hơn
nhiều lần: có các nhà
xuất bản độc lập và có rất nhiều các
tạp chí độc lập, thậm chí tạp chí
chính trị; họ có các phương tiện phổ
biến khác hơn là các bản
các-bon
và còn nhiều nữa. Ở Liên Xô,
samizdat
có truyền thống lâu đời
hơn và rõ ràng là
các hình
thức của nó cũng khác). Văn hóa, do
đó,
là
một bầu khí quyển mà ở đó, ta
có thể quan
sát được các "cấu trúc song
song" trong hình thức phát triển cao của
chúng.
Tất nhiên, Benda cũng
nghĩ đến các hình thức tiềm tàng hay
trứng nước
của các cấu trúc này
trong các không gian khác nữa: từ hệ
thống
thông tin song song, cho đến
các hình thức giáo dục song song
(các
trường đại học tư), công đoàn
song song, quan hệ quốc tế song song, đến một giả định về nền kinh tế
song song. Trên cơ sở các cấu trúc song
song
này, ông phát triển ý
tưởng về "
polis song song" hay nhà nước
song song, hay,
như ông thấy những mầm mống của một polis như thế trong những
cấu
trúc này.
Đến một giai đoạn phát triển nhất định, cuộc sống độc lập
của xã
hội và các phong trào bất đồng
chính kiến sẽ không thể không được tổ
chức và thể chế hóa ở một mức độ nhất định.
Đó là sự phát triển tự
nhiên và trừ phi cuộc sống độc lập của
xã hội này bị đàn áp
tàn bạo và
bị xóa bỏ tận gốc rễ, xu hướng này luôn
mạnh dần lên. Cùng với nó,
không thể khác được là một đời sống
polis song song cũng hình thành, và
ở mức độ nào đó, nó đã tồn
tại ở Czechoslovakia rồi. Nhiều nhóm có bản
chất chính trị ít hay nhiều sẽ tiếp tục
lên tiếng xác định lập trường
chính trị của họ, hành động và đương
đầu với nhau.
Có thể nói rằng, những cấu trúc song
song này là biểu hiện cụ thể
nhất của "sống trong sự thật" kể từ trước đến nay. Một trong những
nhiệm vụ quan trọng nhất mà các "phong
trào bất đồng chính kiến" tự đặt
cho mình là ủng hộ và phát
triển chúng. Một lần nữa, nó khẳng định sự
thật là mọi cố gắng của xã hội nhằm chống lại sức
ép từ hệ thống phải
có nguồn gốc căn bản từ khu vực tiền-chính trị.
Bởi vì các cấu trúc
song song còn là gì khác
ngoài một không gian mà người ta
có thể sống
một đời sống khác, một đời sống hòa hợp với những
mục tiêu của nó, và
chính nó, đến lượt mình lại tự kiến
trúc để hài hòa với các mục
tiêu
ấy. Các nỗ lực ban đầu hướng tới tự tổ chức xã
hội ấy là gì khác ngoài
các cố gắng của một phần xã hội để sống - với tư
cách là xã hội - trong
sự thật, để gỡ bỏ cho mình các yếu tố tự bảo tồn
của chủ nghĩa toàn
trị, và vì thế, giải thoát triệt để
bản thân nó khỏi sự dính líu
trong
hệ thống hậu toàn trị? Nó còn
là cái gì khác
ngoài một nỗ lực bất bạo
động của nhân dân để phủ nhận hệ thống trong
chính bản thân mình và
thiết lập cuộc sống của họ trên một nền tảng mới, nền tảng
của bản sắc
của chính họ? Và chẳng phải xu hướng
này khẳng định một lần nữa nguyên
tắc trả lại sự quan tâm tới từng cá nhân
cụ thể? Rốt cuộc, cấu trúc
song song không lớn dậy
a priori (một
cách tiên nghiệm) từ một
tầm nhìn lí thuyết về thay đổi hệ thống
(không có những giáo phái
chính
trị nào ở đây), mà từ những mục
tiêu của cuộc sống và từ nhu cầu chân
chính của con người hiện thực. Trên thực tế, mọi
thay đổi cuối cùng
trong hệ thống, những thay đổi mà ta có thể quan
sát thấy ở đây trong
những hình thức thô sơ của chúng,
đã
de facto (trên thực tế)
đến từ "bên dưới", bởi vì cuộc sống buộc
chúng phải thế, không phải bởi
chúng đến trước cuộc sống, bằng cách
nào đó mà điều khiển nó hay
thúc
bách một sự thay đổi nào đó trong
nó.
Kinh nghiệm lịch sử dạy ta rằng bất kì điểm xuất
phát
thực sự có ý
nghĩa nào trong đời một con người thường chứa đựng yếu tố
phổ
quát
trong đó. Nói cách khác,
đó
không phải là cái gì bộ
phận, chỉ có
thể
tiếp cận được bởi một cộng đồng hạn hẹp nào đó,
và
không thể chuyển
giao tới người khác. Ngược lại, nó phải
có khả
năng đến với tất cả mọi
người; nó phải báo hiệu một giải pháp
chung,
và do vậy, nó không phải
chỉ là sự thể hiện của một trách nhiệm của
các
cá nhân, hướng nội, buộc
phải làm và làm chỉ cho
riêng mình,
mà còn có trách nhiệm tới
và với
thế giới. Do đó, thật
sai lầm nếu hiểu cấu trúc song song và
polis
song song như
là sự rút lui vào ghetto (khu Do
Thái
cách li - ND) và là hành
động tự
cô lập, chỉ đại diện cho phúc lợi của những người
đã chọn cách đi ấy,
và là những người hoàn toàn
thờ ơ với số
phận những kẻ còn lại bên
ngoài. Nói ngắn gọn, sẽ sai lầm nếu coi
đó về cơ
bản chỉ là một giải
pháp nhóm, hoàn toàn
không liên
quan gì tới tình cảnh chung. Một quan
niệm như thế, ngay từ đầu, xa lạ hóa ý tưởng về
sống
trong sự thật,
biến nó cuối cùng thành một
phiên bản tế nhị
hơn của "sống trong dối
trá". Tất nhiên, nếu vậy, nó
không còn
là một điểm xuất phát chân
chính
cho các cá nhân và
các nhóm
nữa, và ta có thể nhắc lại quan niệm sai
lầm về "nhà bất đồng chính kiến" như
là một
nhóm tách biệt với những
lợi ích riêng biệt, thực hiện những cuộc đối thoại
riêng biệt với các
quyền lực tối cao. Dù gì đi nữa, thậm
chí những
hình thức phát triển
nhất của đời sống trong cấu trúc song song, thậm
chí
những hình thức
già dặn nhất của polis song song chỉ có thể tồn
tại -
ít nhất là trong
các hoàn cảnh hậu toàn trị - khi
mà
cá nhân cùng lúc sống trong
cấu
trúc chính thức "thứ nhất" bằng hàng
ngàn
quan hệ khác nhau, thậm chí
nó có thể chỉ đơn giản là người ta mua
cái
người ta cần trong những cửa
hàng của nó (cấu trúc thứ nhất),
dùng tiền
của nó và tuân theo luật
pháp của nó. Tất nhiên, người ta
có thể
tưởng tượng cuộc sống với những
mặt "cơ bản hơn" bừng nở trong
chính trị
song song; nhưng một
cuộc sống như thế, được sống chỉnh chu theo cách ấy, như
là một chương
trình máy tính, chẳng phải
là một phiên bản khác của cuộc sống
tâm thần
phân liệt "trong giả dối" mà mọi người
khác đều phải sống, bằng cách
này hay cách khác hay sao? Chẳng phải
nó chỉ là một bằng chứng nữa cho
thấy rằng nếu một điểm xuất phát không phải
là một giải pháp "mẫu mực",
không áp dụng được cho những người
khác, thì cũng không thể có
ý nghĩa
với người khác? Patocka từng nói rằng điểm
thú vị nhất về trách nhiệm
là chúng ta mang nó theo
mình ở khắp mọi nơi. Điều này có nghĩa
rằng
trách nhiệm là của chúng ta, rằng
chúng ta phải chấp nhận nó và giật
lấy nó
ở đây, bây giờ ,
tại nơi này trong thời gian và không
gian mà Thượng đế đã đặt chúng ta
vào,
và chúng ta không thể tìm
cách
quanh co trốn tránh bằng cách chuyển tới chỗ
khác,
bất kể nó là thánh
địa Ấn độ hay là một
không gian polis
song song.
Nếu những
người trẻ tuổi phương Tây rất hay khám
phá ra rằng
cách rút lui vào một
thánh đường Ấn độ hóa ra không phải
là một
giải pháp cá nhân hay giải
pháp nhóm, thì điều này
thật là hiển
nhiên, vì, và cũng chỉ vì
nó thiếu
yếu tố phổ quát, bởi vì không phải ai
cũng
có thể rút lui vào một
thánh
đường. Thiên chúa giáo là
một ví dụ
về một lối thoát ngược lại: nó là
điểm xuất phát cho tôi tại đây
và lúc
này - nhưng chỉ vì bất kì ai, bất
kì đâu, bất kì lúc
nào cũng có
thể có nó.
Bản tiếng Việt © 2006 Duy Tân Trẻ (
duytantre@walla.com)
© 2006 talawas