XIX.
Tôi đã nói về tiềm năng
chính trị của việc sống trong sự thật và
của những hạn chế khi phỏng đoán rằng một biểu hiện của sống
trong sự
thật ấy có thể dẫn tới những thay đổi thật sự
không, [và nếu có thì]
như thế nào và bao giờ? Tôi cũng
đã trình bày rằng việc tính
toán rủi
ro cho các hoạt động này là khập
khiễng vì một đặc điểm cơ bản của
những đề xướng độc lập là chúng luôn
luôn mà một canh bạc được ăn cả
ngã về không, ít nhất là
lúc đầu.
Tuy thế, sự phác họa về một số công việc
mà các "phong trào bất
đồng chính kiến" đã thực hiện sẽ thiếu
sót nếu không xem xét, ít
nhất
là khái lược, về một số cách thức
những việc này có thể tác động tới
xã
hội trên thực tế; nói cách
khác, về những con đường mà tinh thần
trách
nhiệm đối với và vì tất cả [toàn
xã hội] có thể được hiện thực hóa
trong thực tế (không có cái
ý nghĩa cần thiết rằng nó buộc phải thế).
Ngay từ đầu, phải nhấn mạnh rằng toàn bộ không
gian bao
gồm đời
sống độc lập của xã hội và cả "phong
trào bất đồng
chính kiến", tất
nhiên còn lâu mới là yếu tố
tiềm tàng
duy nhất có thể ghi dấu ấn lên
lịch sử của các nước đang sống trong hệ thống hậu
toàn
trị. Khủng hoảng
xã hội ngầm trong những xã hội như vậy
có thể bất
chợt, độc lập với
những phong trào này, khởi phát
hàng loạt
những thay đổi chính trị rộng
khắp. Nó có thể làm rối loạn cấu
trúc quyền
lực và châm ngòi hay tăng
cường độ vô số các hành vi đối đầu ngấm
ngầm,
gây ra những thay đổi về
nhân sự, quan niệm, hoặc ít nhất là
"bầu
không khí". Nó có thể ảnh
hưởng nghiêm trọng đến bầu không khí
chung của cuộc
sống, thổi bùng các
bất ổn xã hội bất ngờ và không lường
trước được
và sự bùng nổ những bất
bình trong dân. Chuyển giao quyền lực ở trung
tâm
của khối (Liên Xô) có
thể ảnh hưởng đến điều kiện ở nhiều nước khác nhau theo rất
nhiều cách.
Các yếu tố kinh tế hiển nhiên có ảnh
hưởng quan
trọng, cũng như những
khuynh hướng rộng lớn hơn của văn minh hóa toàn
cầu. Một
lĩnh vực vô
cùng quan trọng, cái có thể
là nguồn của
những thay đổi tận gốc và các
biến động chính trị, chính là
các diễn biến
chính trị quốc tế, các
chính sách của siêu cường kia (Mỹ)
và tất cả
các quốc gia khác, cấu
trúc đang thay đổi của lợi ích quốc tế
và
các vị trí mà khối chúng ta
đang chiếm giữ. Thậm chí những người lên đến địa
vị cao
nhất cũng không
phải là hoàn toàn chẳng có
ý nghĩa
gì, mặc dù như tôi đã
nói,
không nên
phóng đại tầm quan trọng các lãnh đạo
[đối với
những thay đổi chính
trị] trong hệ thống hậu toàn trị. Có nhiều ảnh
hưởng
và cộng hưởng, và
tác động chính trị sau rốt của "phong
trào đối
lập" chỉ có thể được xem
xét trên cái nền chung này
và trong
bối cảnh mà cái nền ấy quy định.
Tác động này chỉ là một trong nhiều
yếu tố
(và còn xa mới là yếu tố
quan trọng nhất) đang ảnh hưởng đến sự phát triển
chính
trị, và nó khác
các yếu tố khác có thể chỉ trong
cái
tiêu điểm cơ bản của nó là việc
nhìn nhận sự phát triển chính trị
đó từ
góc độ bảo vệ con người và tìm
kiếm một ứng dụng trực tiếp của việc nhìn nhận ấy.
Như ta đã thấy, mục đích cơ bản của khuynh hướng
hướng ngoại của
những phong trào này là gây
tác động lên xã hội, chứ
không nhằm ảnh
hưởng lên cấu trúc quyền lực, chí
ít là không ảnh hưởng trực tiếp
và
ngay lập tức. Những đề xướng độc lập hướng tới không gian
bí mật; chúng
chứng tỏ rằng sống trong sự thật là một lựa chọn
khác của xã hội và con
người; và chúng đấu tranh để mở rộng
không gian cho cuộc sống ấy; chúng
giúp - mặc dù tất nhiên chỉ
là gián tiếp - nâng cao lòng
tự tin của các
công dân; đập nát thế giới giả
hình và lột mặt nạ để lộ ra bản chất
thực của quyền lực. Chúng không chiếm lấy vai
trò cứu thế; chúng không
phải là "người tiên phong" hay "tinh hoa" một
mình thông tỏ mọi chuyện,
chẳng phải những người mà nhiệm vụ của họ là
"thức tỉnh lí trí" của
những đám đông "vô tri" (cái
hình ảnh tự phóng chiếu ngạo mạn này,
một
lần nữa, lại thiết thân với một lối suy nghĩ hoàn
toàn khác, cái kiểu
tưởng rằng mình có một bản quyền về "dự
án lí tưởng" nào đó,
và do thế
mà có quyền áp đặt nó
lên xã hội). Chúng cũng không
muốn dẫn dắt ai.
Chúng để cho các cá nhân tự
định đoạt sẽ tiếp nhận gì và không tiếp
nhận gì từ kinh nghiệm và công
trình của chúng. (Nếu như tuyên truyền
chính thức của Czechoslovak mô tả những
nhà Hiến chương như là "những
kẻ tự phong", thì không phải là để
tô đậm những tham vọng "tiên phong"
về phần họ, mà chỉ là sự thể hiện khá
tự nhiên những gì mà chính
quyền
nghĩ, xu hướng của nó phán xét người
khác theo thước đo của riêng nó,
bởi vì đằng sau bất kì một biểu hiện
phê phán nào, nó ngay lập
tức nhìn
thấy sự thèm khát được đóng vai quảng
đại từ cái ghế của họ, và thống
trị trên ngai của họ "nhân danh nhân
dân", vẫn cái cớ cũ mà chế độ
đã
dùng trong bao năm).
Những phong trào này, do đó,
luôn tác động cấu trúc quyền lực theo
cách gián tiếp như thế, như thể là một
phần thống nhất của xã hội,
chúng chủ yếu hướng tới không gian bí
mật của xã hội, vì vấn đề không
phải là đối đầu với chế độ trên bình
diện quyền lực thực.
Tôi đã chỉ ra một phương thức mà
nó
có thể tác động: nó đã củng
cố
sự nhận thức về pháp luật và cảm giác
trách
nhiệm phải chứng kiến luật
pháp được tôn trọng. Đương nhiên, điều
này
chỉ là một ví dụ cụ thể của
một ảnh hưởng rộng lớn hơn nhiều: những sức ép
gián tiếp
từ sống trong
sự thật: sức ép tạo thành bởi tư tưởng tự do,
các
giá trị thay thế, và
các "hành vi thay thế", và bởi sự tự
hiện thực
hóa một cách độc lập của
xã hội. Cấu trúc quyền lực, bất kể muốn hay
không,
luôn phải đáp lại
với sức ép này tới một mức độ nào
đó. Tuy
thế, phản ứng của nó luôn bị
giới hạn vào hai chiều: đàn áp
và
thích nghi. Có lúc cái
này thắng
thế,
có lúc cái kia thắng thế.
Ví dụ, "Trường
Đại học bay" của Ba Lan chịu
sự khủng bố ngày càng tăng, còn
các
"giáo viên bay" thì bị cảnh
sát cầm
tù. Tuy thế, cùng lúc ấy,
các giáo
sư trong các trường đại học công lại
cố gắng làm giàu giáo án
với hàng
loạt chủ đề mà cho đến lúc đó vẫn
còn
là cấm kị, và điều này là
kết quả của sức
ép gián tiếp do "Trường Đại
học bay" gây ra. Những động cơ của sự thích nghi
này trải từ "lí tưởng"
(không gian bí mật đã nhận được
thông điệp,
và lương tâm cùng với tinh
thần sẵn sàng sống theo sự thật đã được thức
tỉnh) đến
thuần túy vị
lợi: bản năng sinh tồn của chế độ buộc nó phải nhận ra
các ý tưởng đang
thay đổi và bầu không khí xã
hội và
tinh thần đang biến chuyển, và phải
phản ứng linh hoạt với chúng. Động cơ nào trong
số ấy
thắng thế tại một
thời điểm nào đó không quan trọng lắm
đối với
tác động cuối cùng.
Thích nghi là chiều hướng tích cực
trong sự phản
ứng của chính
quyền, và nó có thể, và
thường là,
bao gồm một một dải quang phổ rộng
với nhiều hình thức các giai đoạn khác
nhau. Một
số nhóm có thể cố gắng
tích hợp các giá trị hay con người từ
"thế giới
song song" vào các cấu
trúc chính thức để tận dụng và để trở
thành
giống như họ, và do đó để
điều chỉnh sự mất cân bằng hiển nhiên và
không
bao biện được. Trong
những năm 60, những người cộng sản tiến bộ bắt đầu "khám
phá" các giá
trị và hiện tượng văn hóa chưa được nhận diện.
Đây
là một bước tiến
tích cực, mặt dù không phải
không nguy hiểm,
vì các giá trị khi bị
"tích hợp" hay "phù hợp hóa" sẽ mất đi
phần
nào sự độc lập và tính
nguyên bản của nó, và khi được phủ
lên một
lớp áo choàng về tính hợp
pháp và phục tùng, thì độ
tin cậy của
nó cũng suy yếu đi ít nhiều.
Trong giai đoạn tiếp theo, sự thích nghi này
có
thể dẫn tới vô số nỗ
lực về phía cấu trúc chính thức nhằm
thực hiện
các cải cách, trong cả
tính mục đích và cấu trúc
của nó.
Những cải cách như vậy thường là nửa
vời; chúng là những cố gắng tích hợp
và
phối hợp một cách thực tế giữa
phục vụ cuộc sống và phục vụ sự tự vận hành hậu
toàn trị. Nhưng chúng
không thể khác hơn được. Chúng
đánh lộn
sòng cái trước đây vốn là
ranh
giới rõ ràng giữa sống trong sự thật
và sống trong
dối trá. Chúng phủ
lên một màn sương khói lên
hoàn cảnh,
thần bí hóa xã hội và
gây khó
khăn cho con người trong việc duy trì phương hướng
cá
nhân của họ. Tất
nhiên, điều này không thay đổi được sự
thật rằng sự
thích nghi này về
cơ bản là tích cực vì nó mở
đường
vào những không gian mới. Nhưng nó
cũng làm cho việc phân biệt giữa những nhượng bộ
"chấp
nhận được" và
“không chấp nhận được" trở nên
khó khăn hơn.
Một giai đoạn khác, cao hơn của thích nghi
là một quá trình phân
biệt hóa nội tại xảy ra trong các cấu
trúc chính thức. Những cấu trúc
này tự mở ra cho những hình thức đa
nguyên ít nhiều được thể chế hóa,
bởi vì các mục tiêu đích
thực của cuộc sống đòi hỏi như vậy. (Một ví
dụ: nếu thiếu sự thay đổi cái nền tảng vốn bị tập trung
hóa và thể chế
hóa của đời sống văn hóa, các
nhà xuất bản, tập san nội bộ, các nhóm
nghệ sỹ, các viện nghiên cứu song song,
và v.v., có thể xuất hiện dưới
sức ép từ "bên dưới". Hay một ví dụ
khác: một đoàn thanh niên duy nhất
và đồng nhất vốn do chính quyền điều khiển như
là một "dây chuyền
chuyển động" điển hình của nhà nước hậu
toàn trị, dưới sức ép của các
nhu cầu đích thực, đã bị phân
rã thành một loạt các tổ chức
ít nhiều
độc lập như Hội Sinh viên, Hội Học sinh Trung học, Hội
Công nhân Trẻ
v.v.). Có một mối liên hệ trực tiếp giữa sự đa
dạng hóa, cái cho phép
những đề xướng từ bên dưới được cảm nhận, và sự
xuất hiện và thể chế
hóa các cấu trúc mới vốn đã
tồn tại song song, hay ít nhất là được
các
thiết chế chính thức tôn trọng hoặc ít
ra là khoan nhượng ở các mức độ
khác nhau. Những thiết chế mới này
không chỉ gồm các cấu trúc
chính
thức đã được tự do hóa để thích ứng
với những đòi hỏi chân chính của
cuộc sống; chúng là sự thể hiện trực tiếp của
các nhu cầu ấy, đòi hỏi
một vị trí trong bối cảnh những gì hiện
đã tồn tại. Nói cách khác,
chúng là những biểu hiện chân
chính của xu hướng tự tổ chức của xã hội.
(Ở Czechoslovak, năm 1968, các tổ chức nổi tiếng nhất theo
kiểu này là
KAN, Câu lạc bộ những người không cộng sản nhiệt
tâm, và K123, một tổ
chức của các cựu tù chính trị).
Giai đoạn tột cùng của quá trình
này là tình huống trong đó
các cấu
trúc chính thức - như là
các đại diện của hệ thống, tồn tại chỉ để phục
vụ sự tự vận hành của nó, và được kiến
trúc trên tinh thần ấy - đơn
giản là bắt đầu suy tàn và chết dần,
để bị thay thể bởi những cấu trúc
mới đã tiến hóa từ "bên dưới"
và được sắp đặt với nhau theo cách
hoàn
toàn khác.
Tất nhiên, có thể hình dung ra nhiều
con đường khác trong đó những
mục tiêu của cuộc sống có thể đem lại những chuyển
biến về chính trị
trong cách tổ chức chung của sự vật và
làm suy yếu trên mọi tầng mức
sức ảnh hưởng của các kĩ xảo giật dây [của
nhà nước hậu toàn trị] lên
xã hội. Ở đây, tôi mới chỉ
nói đến con đường mà cách tổ chức
chung của
sự vật đã thay đổi trên thực tế, như
chính chúng ta đã trải nghiệm ở
Czechoslovak vào khoảng 1968. Phải nói
thêm là tất cả những ví dụ cụ
thể trên là một phần của một quá
trình lịch sử đặc thù, và
không nên
coi đó là con đường duy nhất, hay nhất thiết phải
lặp lại (đặc biệt là
không ở nước ta), một thực tế mà, tất
nhiên, không làm giảm sút tầm
quan trọng của những bài học chung, cái vẫn đang
được tìm kiếm và rút
ra từ quá trình ấy cho đến tận ngày
nay.
Trong khi bàn về chủ đề 1968 ở Czechoslovak, có
thể sẽ
thích hợp
nếu chỉ ra một số các lĩnh vực phát triển điển
hình trong giai đoạn
này. Mọi sự chuyển dạng, trước hết là ở
"tâm trạng"
chung, sau đó là
nhận thức, và cuối cùng là cấu
trúc,
không xảy ra dưới sức ép từ các
kiểu cấu trúc song song vốn đang định hình
ngày
nay. Những cấu trúc ấy
- vốn xác lập một phản đề sắc nét cho
các cấu
trúc chính thức - đơn
giản là không tồn tại trong thời gian ấy,
mà cũng
chẳng có "nhà bất
đồng chính kiến" nào tồn tại theo nghĩa hiện nay
của từ
này. Những thay
đổi diễn ra chỉ đơn giản là hậu quả của các sức
ép
đủ loại, cái triệt
để, cái nửa vời. Đã có những cố gắng
nhất thời
hướng vào các hình thức
tư duy, sáng tạo độc lập và biểu đạt
chính trị dự
do hơn. Đã có những
nỗ lực ngay lập tức, dài hạn và kín
đáo
nhằm làm cho đời sống xã hội
độc lập thẩm thấu được vào các cấu
trúc đang tồn
tại, thường bắt đầu
bằng sự thể chế hóa âm thầm của đời sống
này trong
và xung quanh ngoại
vi của các cấu trúc cấu trúc.
Nói
cách khác, nó là một
quá
trình tiệm
tiến của sự thức tỉnh xã hội, một kiểu quá
trình
"xâm thực", theo đó
các không gian bí mật dần dần
hé lộ ra.
(Có một phần sự thật trong
tuyên truyền chính thức về một cuộc "phản
cách mạng
xâm thực" ở
Czechoslovakia, là khái niệm được họ
dùng để
nói về cách mà các mục
tiêu của cuộc sống đã tiến lên). Động
lực đằng sau
sự thức tỉnh này
không phải đến trực tiếp từ đời sống độc lập của
xã hội,
cái được coi
như là một môi trường xã hội được định
rõ
(mặc dù đương nhiên nó cũng
xuất phát từ đây -một thực tế vẫn còn
chưa được coi
trọng đúng mức). Nó
cũng có thể đơn giản đã xuất phát từ
thực tế rằng
con người làm việc
trong những cấu trúc chính thức, vốn
ít nhiều đồng
hóa họ với ý thức hệ
chính thống, [bỗng thức tỉnh] và nhận ra hiện
thực như
nó vốn có, và sự
thức tỉnh ấy dần dần trở nên rõ ràng
với họ, qua
những cuộc khủng hoảng
xã hội ngấm ngầm và những kinh nghiệm cay đắng
của
chính bản thân họ về
bản chất thực sự và sự vận hành của hệ thống.
(Tôi
đang nghĩ đến chủ
yếu là những người cộng sản cải cách "chống
giáo
điều", những người,
qua năm tháng, đã trở thành một lực
lượng
bên trong các cấu trúc chính
thức). Các điều kiện thích hợp và
raison
d'être
[lí do tồn tại]
cho những đề xướng độc lập "tự cấu trúc" vốn quen thuộc với
chúng ta
trong thời đại của các "phong trào bất đồng
chính
kiến" - những phong
trào hoàn toàn biệt lập với
các cấu
trúc chính thức và bị các
cấu trúc
ấy phủ nhận
en bloc [hoàn
toàn]. Vào thời gian đó, hệ thống hậu
toàn trị ở Czechoslovakia chưa bị xơ cứng hóa đến
mức thành các dạng
thức cố định, cằn cỗi và trì đọng như
ngày nay, các dạng thức đã buộc
con người phải quay lại tìm về khả năng tổ chức của
chính họ. Vì nhiều
lí do xã hội và lịch sử,
chính quyền 1968 cởi mở hơn. Cấu trúc quyền
lực, bị kiệt quệ bởi chủ nghĩa chuyên chế Stalin
và sự tìm kiếm tuyệt
vọng một cuộc cải cách không đau đớn,
đã không thể tránh khỏi thối rữa
từ bên trong, hầu như bất lực trong việc đưa ra một sự chống
đối thông
minh nào để phản lại sự thay đổi trong tâm trạng,
phản lại cách mà
những thành viên trẻ tuổi nhìn sự vật,
và để chống lại hàng nghìn biểu
hiện chân chính của cuộc sống trên
bình diện "tiền chính trị" bừng nở
trong vùng đất chính trị bao la nằm giữa
chính thức và không chính
thức.
Từ góc nhìn tổng quát hơn, một
tình huống điển hình nữa lại tỏ ra
quan trọng: sự sôi sục trong xã hội đã
lên tới đỉnh điểm vào năm 1968
chưa bao giờ - theo nghĩa những thay đổi cấu trúc thực sự -
đi xa hơn
là cải cách, hoặc đa dạng hóa hay thay
thế các cấu trúc, vốn chỉ đóng
vai trò thứ yếu. Nó không động đến
cái cơ bản của cấu trúc quyền lực
trong hệ thống hậu toàn trị, những nguyên tắc nền
tảng về tổ chức xã
hội, thậm chí không chạm đến cái
mô hình kinh tế mà trong đó
mọi quyền
lực kinh tế đều phục tùng quyền lực chính trị.
Cũng không có sự thay
đổi cấu trúc cơ bản nào trong những
công cụ trực tiếp của quyền lực
(quân đội, cảnh sát, tư pháp, v.v.). Ở
tầng mức này, vấn đề chưa bao
giờ vượt quá một sự thay đổi trong tâm trạng,
nhân sự, đường lối chính
trị và hơn hết, thay đổi trong cách mà
quyền lực được thực thi. Mọi thứ
khác đều còn ở bước thảo luận và
lên kế hoạch. Hai cương lĩnh được chấp
nhận chính thức đã tiến xa nhất về mặt
này là Cương lĩnh Hành động
Tháng Tư 1968 của Đảng Cộng sản Czechoslovakia,
và một đề xuất các cải
cách kinh tế. Cương lĩnh Hành động
không thể khác hơn là đầy những
mâu
thuẫn và giải pháp nửa vời, để mặc cho
các khía cạnh vật lý của quyền
lực không được động chạm tới. Và các đề
xuất kinh tế, trong khi đi một
đoạn đường dài nhằm đáp ứng các mục
tiêu của cuộc sống trong lĩnh vực
kinh tế (chúng chấp nhận những ý tưởng như
là sự đa dạng về lợi ích và
sáng kiến, các động lực động, các hạn
chế của hệ thống kinh tế chỉ
huy), cũng không động tới trụ cột chính của quyền
lực kinh tế, tức là
nguyên tắc sở hữu nhà nước, thay vì sở
hữu xã hội thực sự đối với các
công cụ sản xuất. Vì thế, có một khoảng
trống ở đây mà không một phong
trào xã hội nào trong hệ thống hậu
toàn trị có thể làm cầu nối, với một
ngoại lệ khả dĩ của những ngày ít ỏi trong cuộc
nổi dậy ở Hungary.
Những phương án phát triển nào
khác
có thể xuất hiện trong tương
lai? Đáp lại câu hỏi này sẽ
có nghĩa
là bước vào địa hạt của phỏng đoán
thuần túy. Hiện tại, có thể nói được
rằng cuộc
khủng hoảng xã hội âm ỉ
trong hệ thống sẽ luôn luôn gây ra
(và
không có lý do gì để tin
rằng nó
sẽ ngừng lại) các rối loạn xã hội và
chính
trị (Đức năm 1953, Hungary,
Liên Xô và Ba Lan năm 1956,
Czechoslovakia và
Ba Lan 1968, Ba Lan năm
1970 và 1976), tất cả đều rất khác biệt về bối
cảnh, con
đường tiến hóa
và hậu quả cuối cùng. Nếu ta nhìn
vào phức
hợp to lớn của các yếu tố
khác nhau đã dẫn đến những rối loạn như vậy,
và
vào sự bất khả thi
trong dự đoán sự tích tụ ngẫu nhiên
nào của
các sự kiện sẽ gây ra sự
sôi sục đó trong không gian
bí mật để rồi lộ
ra dưới ánh sáng ban ngày
(vấn đề của "giọt nước cuối cùng"); và nếu ta xem
xét liệu việc đoán
trước cái mà tương lai đang che giấu từ những xu
hướng
đối nghịch nhau:
một mặt là sự hội nhập ngày càng
sâu sắc của
"khối" và sự mở rộng quyền
lực trong nó, và mặt khác
là nhận thức
dân tộc đang thức tỉnh trong các
khu vực ngoài Nga (về mặt này Liên
Xô
không thể hi vọng sẽ vĩnh viễn ở
ngoài cuộc đấu tranh toàn cầu cho giải
phóng
dân tộc), thì ta phải thấy
sự vô vọng của việc cố gắng đưa ra các phỏng
đoán
dài hạn.
Dù sao đi nữa, tôi không tin rằng kiểu
tiên tri này có một ý nghĩa
trực tiếp nào cho các "phong trào bất
đồng chính kiến" vì những phong
trào này, rốt cuộc, không
phát sinh từ những tư tưởng tiên tri,
và do
đó, nếu chúng tự đặt mình
vào cái nền ấy có nghĩa là
đang xa lạ hóa
chính mình với cái nguồn cội bản sắc.
Như thế, về các triển vọng của các "phong
trào bất đồng chính
kiến", dường như rất ít khả năng là sự
phát triển trong tương lai sẽ
dẫn đến sự cùng tồn tại lâu bền giữa hai cơ thể
tách biệt, không tương
tác và khác nhau -
polis
chính thống và
polis song song.
Chừng nào mà nó vẫn còn
là
nó, thực hành sống trong sự thật không
thể
không đe dọa hệ thống. Thật không thể tưởng tượng
được
nó có thể tiếp
tục cùng tồn tại với sống trong dối trá
mà
không có những mâu thuẫn đầy
kịch tính. Quan hệ của hệ thống hậu toàn trị -
chừng
nào mà nó vẫn còn
là nó - và đời sống độc lập của
xã hội -
chừng nào mà nó còn
là nơi
dành cho tinh thần trách nhiệm vì mọi
người
và cho mọi người - sẽ luôn
luôn hoặc là xung đột ngấm ngầm, hoặc xung đột
công
khai.
Trong tình huống này, chỉ có hai khả
năng: hoặc
là hệ thống hậu toàn trị sẽ tiếp tục
phát triển
(tức là, sẽ có
khả năng
để tiếp tục sự phát triển), và do đó
mà không thể tránh khỏi sẽ tiến
gần hơn đến viễn cảnh đáng sợ của Orwell về một thế giới của
sự giật
dây triệt để, trong khi mọi biểu hiện của sống trong sự thật
sẽ bị hút
kiệt khỏi hệ thống; hoặc là đời sống độc lập của
xã hội (
polis song song),
bao gồm các "phong trào bất đồng chính
kiến", sẽ từ từ nhưng chắc chắn
trở thành một hiện tượng xã hội ngày
càng quan trọng, đóng vai trò thực
tế trong đời sống xã hội, sự tồn tại và bản chất
của nó ngày càng trở
nên rõ ràng và nó
ngày càng có ảnh hưởng tới
hoàn cảnh chung. Tất
nhiên, điều này luôn chỉ là
một trong nhiều yếu tố tác động đến hoàn
cảnh và nó chỉ vận hành trên
phông nền, trong sự hòa quyện với những
yếu tố khác và theo cách
phù hợp với cái nền ấy.
Liệu nó có thể tập trung vào cải
cách các cấu trúc chính
thức hay
khuyến khích [các cấu trúc
này] phân hóa, hoặc thay thế
chúng với những
cấu trúc mới; liệu chủ đích là "cải
thiện" hệ thống hay, ngược lại, đạp
đổ nó: những câu hỏi đại loại như thế
này, trong chừng mực mà chúng
không phải các giả-vấn đề, có thể được
nêu ra bởi các "phong trào đối
lập" chỉ trong những hoàn cảnh cụ thể, khi phong
trào ấy đối mặt với
một nhiệm vụ cụ thể. Nói cách khác,
nó phải đặt ra các câu hỏi, cũng
như chính sự xuất hiện của bản thân nó,
ad hoc [mang tính sự
vụ], từ việc cân nhắc cụ thể những nhu cầu đích
thực của cuộc sống. Tôi
tin rằng, trả lời những câu hỏi như vậy một cách
trừu tượng, và vẽ ra
cương lĩnh chính trị theo một tương lai giả định
nào đó có nghĩa là trở
lại tinh thần và các phương pháp của
chính trị truyền thống, và nó sẽ
hạn chế và tha hóa thành quả của "bất
đồng chính kiến" ở nơi mà nó
là
chính nó, và có triển vọng
đích thực nhất cho tương lai.Tôi đã
nhấn
mạnh nhiều lần rằng những "phong trào đối lập"
này không xuất phát từ
việc sáng tạo ra những thay đổi hệ thống, mà từ
một cuộc đấu tranh
thực, hàng ngày hàng giờ, cho một cuộc
sống tốt đẹp hơn, "ở đây và lúc
này". Các hệ thống cấu trúc
và chính trị mà cuộc sống
khám phá ra cho
chính mình sẽ luôn là -
ít nhất trong thời gian sắp tới - hạn chế, nửa
vời, không thỏa đáng và bị ô
nhiễm bởi những tiểu xảo gây suy yếu. Nó
tất yếu phải thế, và chúng ta phải lường trước
điều này và không bị nó
làm nhụt chí. Điều vô cùng
quan trọng là cái nội dung chính -
cuộc đấu
tranh hàng ngày, tẻ nhạt và
không bao giờ dứt của nhân loại để sống tự
do hơn, trung thực hơn và trong danh dự thầm lặng -
không áp đặt bất cứ
một giới hạn nào lên nó,
không bao giờ thiếu nhiệt tình, không
nhất
quán, không bao giờ bẫy mình
vào những thủ thuật chính trị, đầu cơ
trên
những kết quả của hành động của mình, hay thỏa
mãn những mơ ước hão
huyền về tương lai. Sự thuần khiết của cuộc đấu tranh này sẽ
là sự đảm
bảo tốt nhất cho những kết quả tối ưu khi nó đi đến những
tương tác
thực sự với các cấu trúc hậu toàn trị.
XX.
Bản chất đặc thù của các điều kiện hậu
toàn trị - với sự thiếu vắng
đời sống chính trị bình thường và thực
tế là bất cứ những thay đổi
chính trị sâu sắc nào đều
hoàn toàn không thể tiên
lượng được -có một
mặt tích cực: nó buộc chúng ta phải
rà xét hoàn cảnh của mình
một cách
mạch lạc hơn, và xem xét tương lai của
chúng ta trong bối cảnh của các
triển vọng toàn cầu và dài hạn của thế
giới mà chúng ta là một phần.
Thực tế là sự đối đầu thực chất nhất và căn bản
nhất giữa con người và
hệ thống diễn ra ở một mức độ sâu đậm hơn nhiều so với những
gì ở nền
chính trị truyền thống, và đồng thời, thực tế ấy
quyết định hướng đi
của những cân nhắc như thế.
Vì thế, sự chú ý của chúng
ta không
thể tránh khỏi phải hướng tới
vấn đề căn bản nhất: sự khủng hoảng của toàn bộ
xã hội
công nghệ đương
đại nói chung, cuộc khủng hoảng mà Heidegger
mô tả
là sự bất lực của
nhân loại đối mặt với quyền lực toàn cầu của
công
nghệ. Công nghệ - đứa
con của khoa học hiện đại, cái mà đến lượt
nó lại
là con đẻ của siêu
hình học hiện đại - đã vượt ra ngoài
tầm kiểm
soát của con người, đã
không còn phục vụ chúng ta,
đã nô dịch
chúng ta và buộc ta phải tham
gia vào sự chuẩn bị cho sự hủy diệt của chính
mình. Và nhân loại không
thể tìm ra lối thoát: chúng ta
không
có ý tưởng và không
có đức tin,
và
lại càng có ít hơn những
khái niệm
chính trị để giúp mình đưa sự vật
trở về dưới sự kiểm soát của con người. Chúng ta
nhìn một cách tuyệt
vọng trong khi cỗ máy vận hành lạnh
lùng mà
ta tạo ra đang nhận chìm
chúng ta, xé chúng ta khỏi những gắn
kết tự
nhiên (ví dụ từ môi trường
sống của chúng ta, theo nghĩa rộng nhất của từ
này, gồm
môi trường sống
của ta trong sinh quyển) cũng hệt như chúng loại
chúng ta
khỏi "đời
sống" và ném chúng ta vào
thế giới của
"sinh tồn". Tình huống này đã
được mô tả từ nhiều góc độ khác nhau
và
nhiều cá nhân và các
nhóm xã
hội đã cố gắng, thường là rất đau đớn,
tìm đường
ra (như từ tư tưởng
phương Đông hay bằng hình thành
các
công xã). Nỗ lực xã hội (hay thực
ra là chính trị) duy nhất đang cố gắng
làm một
cái gì đó [trước nguy cơ
này], cái nỗ lực mang trong mình
thành tố
cần thiết là tính phổ quát
(trách nhiệm với và cho toàn thể),
chính
là nỗ lực tuyệt vọng của các
phong trào sinh thái, và với việc thế
giới đang ở
trong một tình trạng
hỗn loạn như hiện nay, tiếng nói của nó cũng đang
yếu
dần. Và thậm chí
ở đây thì cố gắng cũng chỉ giới hạn ở một
ý tưởng
nhất định trong việc
làm sao sử dụng công nghệ để chống lại nền độc
tài
của công nghệ.
"Chỉ có Thượng đế mới có thể cứu vớt
chúng ta",
Heideger nói, và
ông nhấn mạnh sự cần thiết của "một lối tư duy
khác", tức
là, phải chia
tay với những dòng triết học trong nhiều thế kỷ gần
đây,
và phải tạo ra
một thay đổi tận gốc rễ trong cách con người nhận thức về
mình, về thế
giới và vị trí của nó trong
đó. Ông
không biết lối thoát nào và
tất cả
những gì ông có thể khuyến nghị
là "chuẩn bị
các kì vọng".
Vô số những nhà tư tưởng và phong
trào cảm thấy cái lối thoát vẫn
còn chưa tìm ra này có thể
nhận dạng theo cách chung nhất là một "cuộc
cách mạng hiện sinh" rộng lớn. Tôi chia sẻ quan
điểm này, và tôi cũng
chia sẻ ý kiến cho rằng một giải pháp [triệt để]
không thể tìm thấy
trong một thủ thuật công nghệ nào đó,
tức là, trong đề xuất thay đổi từ
bên ngoài, hay trong một cuộc cách mạng
thuần túy triết học, thuần túy
xã hội hay thuần túy công nghệ, hay
thậm chí thuần túy chính trị. Tất
cả chúng đều là những lãnh địa
mà tác động của một cuộc "cách mạng
hiện
sinh" sẽ phải động chạm tới; nhưng cái lãnh địa
căn bản nhất [mà cuộc
cách mạng hiện sinh này phải tác động
tới] chỉ có thể là sự tồn tại của
con người theo nghĩa sâu sắc nhất của từ này. Chỉ
có thể từ nền tảng ấy
nó mới có thể trở thành một cuộc
tái cấu trúc xã hội về đạo đức tổng
quát - và, đương nhiên, rốt cuộc
là chính trị.
Cái mà chúng ta gọi là
xã hội tiêu thụ và công
nghiệp (hay hậu công
nghiệp), và Ortea y Gasset từng hiểu là "cuộc
cách mạng của những đám
đông", cũng như những sự tồi tề về trí thức, đạo
đức, chính trị và xã
hội trên thế giới ngày nay: tất cả
chúng có thể chỉ đơn thuần là những
khía cạnh của một cuộc khủng hoảng sâu sắc, trong
đó nhân loại, bị lôi
đi một cách tuyệt vọng bởi sự tự vận hành của văn
minh công nghệ toàn
cầu, nhận ra mình.
Hệ thống hậu toàn trị chỉ là một khía
cạnh - một khía cạnh đặc biệt
nghiệt ngã và vì thế mà lộ
rõ những nguồn gốc thực của nó - của sự bất
lực chung của nhân loại hiện đại trong việc làm
chủ tình cảnh của nó.
Sự tự vận hành của hệ thống hậu toàn trị chỉ đơn
thuần là một phiên bản
cực đoan của sự tự vận hành toàn cầu của văn minh
công nghệ. Thất bại
con người mà nó phản chiếu chỉ là một
biến thể của thất bại chung của
nhân loại hiện đại.
Đương nhiên, thách thức toàn cầu
này đối với
vị trí của loài người
trên thế giới cũng xảy ra trong thế giới phương
Tây, chỉ
khác chăng ở
các hình thái chính trị
và xã
hội của nó. Heideger nói đến nó như
là
khủng hoảng của nền dân chủ. Chẳng có bằng chứng
thực sự
nào chứng tỏ
rằng nền dân chủ phương tây, tức là nền
dân
chủ của hình thái nghị viện
truyền thống, có thể cho ra một giải pháp căn bản
hơn
chút nào. Thậm
chí có thể nói rằng, càng
nhiều không
gian cho những mục tiêu đích thực
của cuộc sống trong các nền dân chủ phương
Tây,
thì cuộc khủng hoảng
càng bị giấu diếm tốt hơn khỏi con người và họ
lại
càng bị vây bọc
trong đó.
Có vẻ như các nền dân chủ nghị viện
truyền thống
không thể đưa ra
sự chống đối căn bản nào trước sự tự vận hành của
văn
minh công nghệ và
xã hội tiêu thụ-công nghiệp, bởi
ví
chúng cũng đang bị cuốn đi một cách
tuyệt vọng theo nó. Con người bị giật dây theo
những
cách tinh tế và
nhẹ nhàng hơn ngàn lần những phương
pháp bạo
tàn được dùng trong các xã
hội hậu toàn trị. Nhưng cái phức hợp
tính của
những chính đảng khổng
lồ, vô trật tự về nhận thức, thực dụng về chính
trị
và cứng nhắc, được
điều khiển bởi những bộ máy chuyên nghiệp
và
tháo tung con người khỏi
mọi hình thức của trách nhiệm cá
nhân
và cụ thể; và những điểm hội tụ
phức tạp của tích lũy tư bản liên quan tới sự thao
túng bí mật và mở
rộng; nền độc tài có quyền lực tuyệt đối của
tiêu
thụ, sản xuất, quảng
cáo, thương mại, văn hóa tiêu thụ,
và tất cả
những cơn lũ về thông tin
ấy - tất cả chúng, vẫn rất thường được phân
tích
và mô tả, khó có thể
tưởng tượng được lại là suối nguồn nơi con người
có thể
tìm lại chính
mình. Trong bài giảng ở Harvard tháng
5 năm 1978
của ông, Solzhenitsyn
mô tả bản chất ảo tưởng của tự do không dựa
trên
trách nhiệm cá nhân và
sự bất lực kinh niên của các nền dân chủ
truyền
thống trong việc chống
lại bạo lực và chủ nghĩa toàn trị với tư
cách
là kết quả của nó. Trong
một nền dân chủ, nhân loại có thể hưởng
nhiều tự do
và an ninh cá nhân
mà chúng ta không biết, nhưng rốt cuộc
chúng
cũng chẳng tốt đẹp gì, bởi
chúng cũng rốt cục chỉ là những nạn
nhân của
cùng một sự tự vận hành,
và không thể bảo vệ được các quan
tâm của họ
về bản sắc của mình hay
ngăn chặn sự hời hợt hóa, không thể vượt qua những
quan
tâm về sự sinh
tồn cá nhân và trở thành một
thành
viên có trách nhiệm và tự
hào của
polis, không thể
đóng góp thực sự vào việc tạo
thành số phận của nó.
Bởi vì mọi viễn cảnh của chúng ta về một sự thay
đổi tốt lên là rất
dài hạn, ta buộc phải ghi nhớ sự khủng hoảng sâu
sắc này của nền dân
chủ truyền thống. Chắc chắn là, nếu các điều kiện
được tạo ra cho nền
dân chủ trong một vài nước thuộc khối Xô
viết (mặc dù điều này ngày
càng trở nên xa vời), nó có
thể là một giải pháp trung chuyển tạm thời
có thể giúp phục hồi cảm nhận về nhận thức
dân sự vốn bị kiệt quệ, giúp
hồi sinh tranh luận dân chủ, cho phép củng cố một
đa nguyên chính trị
căn bản, và sự biểu đạt giản đơn các mục
tiêu của cuộc sống. Nhưng bám
víu lấy ý tưởng về nền dân chủ truyền
thống như là một lí tưởng chính
trị và quỳ gối trước ảo ảnh rằng chỉ có
hình thức "thử và đúng" này
là
có thể đảm bảo cho nhân loại một nhân
phẩm lâu dài và một vai trò
độc
lập trong xã hội, theo tôi, ít nhất
cũng là thiển cận.
Tôi coi
quan tâm mới hồi sinh của
chính trị vào con người thực
như là cái gì đó căn bản
hơn nhiều so với việc đơn thuần trở về những
cơ chế thường nhật của nền dân chủ phương Tây (hay
nếu bạn thích, nền
dân chủ tư sản). Trong năm 1968, tôi cảm thấy rằng
vấn đề của chúng ta
có thể được giải quyết bằng việc hình
thành một đảng đối lập có thể
cạnh tranh công khai giành quyền lực với đảng Cộng
sản. Nhưng đã từ
lâu, tôi nhận ra rằng, điều đó
không đơn giản đến thế, và không một
đảng đối lập nào, tự thân nó, cũng như
không luật bầu cử mới nào, tự
thân nó, có thể làm cho
xã hội miễn nhiễm với những hình thức bạo lực
mới. Không có chuẩn mực tổ chức "khô
khan" nào tự nó có thể đem lại bảo
đảm ấy, và ta chắc chắn sẽ nhận ra từ những tổ chức
này rằng, không có
ai khác ngoài Thượng Đế ấy có thể cứu
giúp được mình.
XXI.
Và giờ đây tôi có thể đặt
câu hỏi: "Vậy thì cần làm
gì?"
Tất nhiên, sự nghi ngờ của tôi với những
mô hình chính trị thay thế
và khả năng những cuộc cải cách hay thay đổi hệ
thống có thể cưu mang
đến cho chúng ta không có nghĩa
là tôi nghi ngờ mọi tư tưởng chính trị.
Hay sự nhấn mạnh của tôi về tầm quan trọng của mối quan
tâm tập trung
vào con người thực đã loại trừ tôi khỏi
những cân nhắc về những hậu quả
mang tính hệ thống xuất phát từ đó.
Ngược lại, nếu đã nói ra A thì cũng
phải nói nốt B. Tuy nhiên, tôi cũng chỉ
đưa ra một vài nhận xét rất
chung.
Hơn hết, bất kì cuộc cách mạng hiện sinh
nào cũng đem đến một hi
vọng tái thiết đạo đức xã hội - có
nghĩa là một hi vọng canh tân triệt
để mối quan hệ của con người với cái mà
tôi gọi là "trật tự con người",
mà không trật tự chính trị
nào có thể thay thế được. Một kinh nghiệm
mới của tồn tại, một sự cắm rễ mới vào tổng thể, một cảm
nhận mới giành
được về "trách nhiệm cao hơn", một quan hệ nội tại mới được
tìm ra với
những người khác và với cộng đồng người - những
yếu tố này vạch rõ
hướng ta phải đi.
Còn những hậu quả chính trị? Có vẻ như
chúng sẽ được phản ánh trong
hiến pháp của các cấu trúc sẽ nảy sinh
trên "tinh thần mới" này, từ các
yếu tố con người hơn là từ việc chính thức
hóa các quan hệ chính trị
và
các bảo đảm chính trị. Nói
cách khác, vấn đề là sự hồi sinh của
các giá
trị như niềm tin, sự cởi mở, trách nhiệm, đoàn
kết, yêu thương. Tôi đặt
niềm tin vào những cấu trúc không nhắm
tới khía cạnh "kĩ thuật" của
việc thực thi quyền lực, mà tới tầm quan trọng của sự thực
thi ấy trong
các cấu trúc được gắn với nhau bởi các
cảm nhận chung về tầm quan trọng
của những cộng đồng nhất định, hơn là bởi những tham vọng
bành trướng
"hướng ngoại". Có thể và nhất định phải tồn tại
những cấu trúc mở, động
và nhỏ; vượt qua một mức nào đó, những
ràng buộc nhân văn như niềm tin
cá nhân hay trách nhiệm cá
nhân không còn hiệu lực nữa. Nhất định
phải
tồn tại những cấu trúc mà trên
nguyên tắc không áp đặt bất cứ một giới
hạn nào về nguồn gốc của các cấu trúc
khác. Bất cứ sự tích tụ quyền lực
nào (vốn là một đặc trưng của sự tự vận
hành) sẽ hoàn toàn xa lạ với
nó. Chúng có thể là những
cấu trúc không theo nghĩa tổ chức hay thiết
chế, mà như là một cộng đồng. Quyền năng của
nó chắc chắn là không dựa
trên những truyền thống đã trống rỗng từ
lâu, như truyền thống của các
chính đảng khổng lồ, mà theo nghĩa thực tế, dựa
vào cách chúng tiếp cận
một tình huống cho trước. Thay vì là
một khối liên kết chiến lược của
các tổ chức chính thức hóa, tốt hơn
hết, nó nên có các tổ chức
bừng nở
ad hoc,
tràn ngập nhiệt tình cho một mục đích
cụ thể nào đó, và biến mất khi
mục tiêu ấy đã đạt được. Thẩm quyền của
các lãnh tụ nên bắt nguồn từ
cá
tính của họ và được thử thách từng
người trong môi trường cụ thể của
họ, chứ không phải từ vị trí của họ trong bất
kì
nomenklatura (bảng kê nhân
sự)
nào. Họ nên hưởng niềm tự tin cá
nhân to lớn và thậm chí hưởng những
quyền lực lập pháp to lớn dựa trên niềm tự tin ấy.
Có vẻ như đây là lối
duy nhất thoát khỏi sự bất lực kinh điển của các
tổ chức dân chủ truyền
thống, vốn thường xuyên có vẻ dựa trên
sự nghi ngờ hơn là tin tưởng lẫn
nhau, và dựa vào sự vô trách
nhiệm tập thể hơn là trách nhiệm. Chỉ với
sự hậu thuẫn toàn lực mang tính hiện sinh của mọi
thành viên trong cộng
đồng, thì mới có thể dựng nên một bức
tường thành bền vững chống "chủ
nghĩa toàn trị lấn dần”. Những cấu trúc
này nên lớn dậy một cách tự
nhiên từ
bên dưới như
là kết quả của sự tự tổ chức chân chính
của xã hội; chúng nên lấy năng lượng
sống từ đối thoại sinh động với
những nhu cầu đích thực mà từ đó
chúng xuất hiện, và khi những nhu cầu
này biến mất, các cấu trúc cũng
nên tan biến theo. Những nguyên tắc tổ
chức nội bộ của chúng nên rất đa dạng, với
các quy định từ bên ngoài
giữ ở mức tối thiểu. Tiêu chí quyết định của sự
"tự thiết chế" này nên
là ý nghĩa thực tế của hệ thống, chứ
không phải chỉ là một quy tắc hoàn
hoàn trừu tượng.
Cả đời sống chính trị và kinh tế cần dựa
trên sự hợp tác đa dạng và
phong phú của những tổ chức hợp -tan một cách
năng động như thế. Đối
với đời sống kinh tế, tôi tin vào những
nguyên tắc tự quản lý, cái
có
lẽ là cách duy nhất để đạt tới cái
mà mọi nhà lý thuyết của chủ nghĩa
xã hội mơ ước, tức là sự tham gia thực sự (cụ thể
là không chính thức)
của người lao động vào việc ra quyết định kinh tế, dẫn đến
cảm giác về
trách nhiệm chân chính cho
công việc hợp tác của họ. Nguyên
lý kiểm
soát và kỉ luật phải được từ bỏ để
dành chỗ cho nguyên tắc tự kiểm soát
và tự kỉ luật.
Thậm chí từ những phác thảo rất chung
này,
có vẻ như đã rõ rằng
những hậu quả về mặt hệ thống của một cuộc "cách mạng hiện
sinh"
thuộc
loại này sẽ vượt lên rất xa khuôn khổ
của nền
dân chủ nghị viện cổ
điển. Vì đã giới thiệu thuật ngữ "hậu
toàn trị" để
phục vụ cuộc thảo
luận này, có lẽ tôi nên gọi
khái niệm
mà tôi vừa phác ra - hoàn
toàn
tạm thời - như là những triển vọng cho một hệ thống "hậu
dân chủ".
Không nghi ngờ gì là khái
niệm này có thể được phát triển xa hơn
nữa, nhưng tôi nghĩ, nhẹ nhất thì cũng thật ngu
ngốc bởi vì chậm rãi
nhưng chắc chắn, toàn bộ khái niệm sẽ trở
nên tha hóa, tách biệt khỏi
chính nó. Sau rốt, căn bản của một nền "hậu
dân chủ" như thế cũng là vì
nó có chỉ có thể phát triển
qua hiện thực, như là một tiến
trình xuất phát trực tiếp
từ cuộc sống,
từ một bầu khí quyển mới và một "tinh thần" mới
(tất nhiên, tư tưởng
chính trị sẽ đóng vai trò ở
đây, dù không phải đạo diễn,
mà chỉ là một
chỉ dẫn). Tuy nhiên, sẽ viển vông nếu cố gắng
đoán trước hình dạng về
mặt cấu trúc của "tinh thần mới" ấy khi chưa thấy tinh thần
ấy tồn tại
thực sự và không hiểu diện mạo cụ thể của
nó.
XXII.
Tôi đã có thể bỏ đi toàn bộ
phần trước như
thể một chủ đề thích hợp
hơn cho sự suy nghiệm cá nhân nếu nó
không
nhằm một cảm giác ám ảnh.
Nói thì có vẻ hơi viển vông,
và
vì thế tôi sẽ trình bày dưới
dạng câu
hỏi: Chẳng phải tầm nhìn về các cấu
trúc "hậu
dân chủ" này, trên phương
diện nào đó, đã nhắc tới một trong
những
nhóm "bất đồng chính kiến" hay
một vài các đề xướng độc lập của công
dân như
ta đã biết từ chính môi
trường chúng ta? Chẳng phải những cộng đồng nhỏ
này,
ràng buộc với nhau
bởi hàng ngàn nỗi khổ cực được sẻ chia,
đã
làm sống dậy vài mối quan hệ
và ràng buộc chính trị "có
ý nghĩa
nhân văn" đặc biệt mà ta đang nói
tới? Chẳng phải những cộng đồng này (và
chúng
là các cộng
đồng
hơn là các tổ chức) - gợi hứng chủ yếu bởi một
niềm tin chung vào tầm
quan trọng quyết định của cái mà họ đang
làm, bởi vì họ không có cơ
hội
thành công trực tiếp và bề
ngoài nào- được nối với nhau chính bởi
cái không khí
mà trong đó những ràng buộc bị
chính thức
hóa và tín điều hóa trong
các
cấu trúc chính thức bị thay thế bởi cảm
giác sống
động về đoàn kết và
đồng chí? Chẳng phải những nhóm này
sinh ra,
trưởng thành rồi tiêu vong
dưới sức ép của những nhu cầu đích thực
và cụ thể,
không chịu gánh nặng
của những truyền thống trống rỗng? Chẳng phải là những cố
gắng
của họ
nhằm sáng tạo một hình thức cụ thể của "sống
trong sự
thật" và làm mới
cảm giác về trách nhiệm cao hơn trong một
xã hội
lãnh đạm thực sự là
một dấu hiệu của sự tái cấu trúc sơ khai về đạo
đức?
Nói cách khác, chẳng phải những cộng
đồng mở, năng
động, phi quan liêu và không
chính thức
đã gộp thành "
polis
song song" là một kiểu phác họa sơ khai, một
mô hình mang tính biểu
tượng của những cấu trúc chính trị "hậu
dân chủ" có ý nghĩa hơn ấy,
cái
có thể trở thành nền tảng của một xã
hội tốt đẹp hơn?
Từ hàng ngàn kinh nghiệm cá
nhân, tôi biết cái hoàn cảnh
đơn thuần
là kí vào Hiến chương 77 đã
ngay lập tức tạo ra mối liên hệ sâu sắc hơn
và cởi mở hơn, và khơi dậy những cảm
giác mạnh mẽ và đột ngột về một
cộng đồng thực sự giữa những người trước đây xa lạ. Điều
này, nếu có,
cũng rất hiếm khi xảy ra thậm chí giữa những người
đã từng làm việc
cùng nhau trong thời gian dài trong một cấu
trúc chính thức lãnh đạm
nào đó. Cứ như thể sự nhận thức đơn thuần
và chấp nhận một nhiệm vụ
chung và một kinh nghiệm được chia sẻ là
đã đủ biến chuyển con người và
môi trường mà họ sống, như thể nó tạo
cho những công việc cộng đồng của
họ một chiều kích nhân bản hơn, ít thấy
ở nơi khác.
Có thể mọi điều trên chỉ là
hậu quả gây ra bởi một mối đe dọa chung.
Có thể vào thời khắc mà sự đe dọa ấy
chấm dứt hay bị xóa bỏ, tâm trạng
mà nó tạo ra cũng tan biến theo. (Mục
tiêu của những kẻ đang dọa nạt
chúng ta ngược hẳn lại. Lần này qua lần
khác, người ta vẫn bị sốc bởi
năng lượng mà chúng đã dành
ra để đầu độc, bằng nhiều cách hèn hạ
khác
nhau, mọi quan hệ người với người bên trong cái
cộng đồng bị đe dọa)
Dù có thế, nó không
làm thay đổi được
gì đối với câu hỏi mà tôi vừa
nêu ra.
Chúng ta không biết lối thoát khỏi sự
suy nhược trầm trọng của thế
giới, và sẽ là một sự ngạo mạn không
thể tha thứ được nếu chúng ta coi
những việc nhỏ bé mà ta đang làm như
là một giải pháp cơ bản, hay diễn
giải rằng chúng ta, cộng đồng của chúng ta
và các giải pháp của ta cho
các vấn đề sống còn nêu trên
là việc duy nhất đáng làm.
Dù vậy, tôi nghĩ rằng với những suy nghĩ
trên về các điều kiện hậu
toàn trị, và với những hoàn cảnh
và sự thiết chế nội bộ của những nỗ
lực đang lớn dậy nhằm bảo vệ nhân loại và bản sắc
của họ trong những
điều kiện như thế, những câu hỏi mà tôi
đặt ra là thích hợp. Chí
ít,
chúng là một lời dẫn để suy nghĩ cụ thể về kinh
nghiệm của chính chúng
ta và nêu ra vài suy nghĩ về việc liệu
những yếu tố nhất định của kinh
nghiệm ấy sẽ không - nếu thiếu sự nhận thức rõ của
ta về nó - chỉ dẫn
tới nơi nào đó xa hơn, vượt lên những
giới hạn hiển nhiên, và liệu ngay
ở đây, ngay trong đời sống thường nhật của ta, những
thách thức nhất
định vẫn chưa được giải mã, đang âm thầm chờ đợi
thời khắc chúng được
nhận ra và nắm bắt.
Câu hỏi liệu có "tương lai tươi sáng
hơn"
thì luôn luôn xa vời.
Nhưng nếu ngược lại, nó đã luôn ở
đây từ
lâu, và chỉ có sự mù
lòa và
yếu đuối của chúng ta ngăn cản ta không
nhìn thấy
nó xung quanh và
trong mình, và ngăn ta không vun trồng
nó?
Bản tiếng Việt © 2006 Duy Tân Trẻ (
duytantre@walla.com)
© 2006 talawas