Quanh
vấn đề nhân quyền, nội dung của cái gọi là
“giá trị châu Á” không còn
giống xưa.
Khi Chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào đón chào tổng
thống Bush đến Bắc
Kinh cuối tuần này, chắc chắn ông hy vọng tránh
có thêm một bài giảng
về nhân quyền như bài ông Bush đã đọc
hôm thứ Tư ở Kyoto, Nhật Bản. Hối
thúc Trung Quốc “tiếp tục con đường cải cách
và cởi mở”, ông Bush nêu
bật một ví dụ chói sáng về “một xã
hội Trung Hoa dân chủ và tự do” – đó
là Đài Loan. Dĩ nhiên các lãnh đạo
Trung Quốc không thấy viễn kiến này
có gì mời gọi.
Đầu tháng này, ông Hồ Cẩm Đào đến thăm một
thủ đô, nơi ông không
phải lo về những bình luận khó nghe tương tự: Hà
Nội. “Các nền văn minh
và hệ thống xã hội khác nhau trên thế
giới”, ông Hồ nói trong bài diễn
văn hôm 1-11 trước Quốc hội Việt Nam, “cần theo đuổi sự
phát triển
chung bằng cách tìm kiếm những điểm chung và đồng
thời duy trì các khác
biệt”. Nói cách khác, người Mỹ hãy
tiếp tục mua giày của chúng tôi và
thôi than thở về những tù nhân chính trị
mà chúng tôi giam giữ.
Tuy vậy, những ngày này, không chỉ Mỹ hay cộng đồng quốc tế đang
buộc Trung Quốc và Việt Nam tôn trọng nhân quyền nhiều hơn. Còn có
những công dân của các nước này. Tại Hồng Kông mấy năm gần đây, các
buổi tuần hành dân chủ thu hút hàng trăm ngàn người xuống đường; tại
đại lục, các cuộc biểu tình chống tham nhũng và huỷ hoại môi trường
cũng tăng. “Những gì ta chứng kiến ở Trung Quốc là sự phát triển của
một ý thức về nhân quyền,” John Kamm, người sáng lập tổ chức phi chính
phủ Dui Hua ở San Francisco nhằm gây sức ép với chính phủ Trung Quốc về
việc thả tù nhân chính trị, nhận xét. Còn ở Việt Nam, những cải thiện
đều đặn của chính phủ trong vấn đề tự do thờ phụng và quyền sở hữu
không chỉ do sức ép nước ngoài mà còn do mức độ tín ngưỡng và việc sở
hữu đất tư gia tăng tại Việt Nam.
Nếu người ta thấy có điểm quen thuộc trong ngụ ý của
ông Hồ rằng
các hạn chế nhân quyền của Trung Quốc là vấn đề
khác biệt văn hoá, thì
lý do vì đây là một phiên bản
khác của luận thuyết “Giá trị châu
Á”.
Được cổ vũ ở các xã hội châu Á trong đầu
thập niên 1990, luận thuyết
này nhấn mạnh nhiều hơn đến sự hoà thuận cộng đồng
và phát triển kinh
tế, thay vì coi trọng các quyền cá nhân kiểu
phương Tây. Nhưng nếu nhân
quyền là hàng nhập khẩu từ phương Tây, thì
món hàng này cũng đã bắt rễ
ở Nhật Bản, Nam Hàn, Đài Loan và nhiều nơi
khác ở châu Á.
Khi ông Hồ Cẩm Đào và Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh bước vào trụ sở của
Đảng Cộng sản Việt Nam hôm 31-10, thì cách đó vài trăm thước là một
nhóm dân oan, cầm các áp phích kêu than việc đền bù đất đai không thoả
đáng của chính quyền. Những vụ phản đối liên quan đất đai như vậy, từng
không thể nghĩ đến ở Việt Nam, thì nay diễn ra thường xuyên. Quyền sở
hữu bất động sản, tự do tụ họp và phê phán chính phủ, và sự mong chờ
nhà nước bị ràng buộc bởi luật pháp, đang dần dần trở nên “các giá trị
châu Á” – ngay cả ở Hà Nội.
Tháng Tám năm nay, Bộ Ngoại giao Việt Nam lần đầu tiên công bố
Sách trắng về nhân quyền,
điều mà Trung Quốc đã làm từ gần một thập
niên nay. Và trong tháng Mười, Trung Quốc
công bố
Sách trắng về dân chủ hoá.
Hai tài liệu này có vẻ được viết theo cùng một kim chỉ nam. Cả hai đều
nói rằng những định nghĩa khác nhau về nhân quyền là phù hợp cho các
nước với văn hoá khác biệt, và cả hai cùng lên án mọi nỗ lực áp đặt
chuẩn giá trị của nước ngoài.
Cả hai cuốn
Sách trắng đều vụng về bảo vệ thành tựu thúc đẩy
tự do chính trị của nước mình. (Phần nói đến tự do thông tin ở Trung
Quốc chỉ liệt kê số lượng các tờ báo và kênh truyền hình ở nước này.)
Nhưng hai cuốn tỏ ra khá hơn khi nói đến các quyền kinh tế và xã hội;
cả hai nước có thể tự hào là đã giúp nhiều người dân thoát cảnh đói
nghèo trong hai thập niên qua. Thực tế, hai tài liệu này xem các quyền
kinh tế và xã hội – “quyền sinh nhai và phát triển”, như cách gọi của
Trung Quốc, hay như Việt Nam gọi là “quyền có cơm ăn, áo mặc, nhà ở,
được học hành, nhân phẩm được tôn trọng” - mang tính thiết thân hơn các
quyền dân sự.
Hiến chương nhân quyền Liên Hiệp Quốc 1948 – được hầu hết mọi thành
viên Liên Hiệp Quốc, trong đó có Mỹ, ký kết – quả thực bao gồm các
quyền kinh tế và xã hội. Nhưng Hiến pháp Hoa Kỳ thì không bao gồm các
quyền này, và đa số người Mỹ không thật sự nghĩ về chúng như những
quyền mang tính phổ quát. Quan niệm của người Mỹ về các quyền chịu ảnh
hưởng của phong trào Khai sáng, bắt rễ trong công thức về cuộc sống, tự
do và tài sản mà triết gia thế kỷ 17 John Locke đề xuất (hay như sau
này Thomas Jefferson, một người nghiêng về tinh thần hơn vật chất, đã
diễn giải thành “quyền mưu cầu hạnh phúc”). Với người Mỹ, những quyền
“tiêu cực” – tự do suy nghĩ và hành động mà không bị chính phủ can
thiệp – mới là các quyền căn bản, chứ không phải là các quyền kinh tế
và xã hội “tích cực”.
Trong đầu thập niên 1990, nhiều trí thức Á
châu, đặc biệt là
Kishore Mahbubani ở Singapore và các chính trị
gia, gồm Lý Quang Diệu
của Singapore và Mahathir Mohamad của Malaysia, biện luận rằng
các nền
văn minh châu Á dựa trên nguyên tắc xử thế
cộng đồng, không nên bị buộc
chấp nhận những chuẩn Tây phương về các quyền cá
nhân. Những người cổ
võ cho “các Giá trị châu
Á” này – nguồn cảm hứng chủ yếu của những
lý
luận Việt, Trung hiện nay – thấy các giá trị
đó có nguồn gốc từ học
thuyết chính trị châu Á, mà phổ biến nhất
là từ sự phát triển Nho giáo
ở Trung Quốc từ thế kỷ thứ Năm trước Công nguyên.
Một số triết gia đồng ý rằng có những khác biệt căn bản giữa truyền
thống xử thế ở Đông Á và Tây phương. Trong một cuộc phỏng vấn gần đây,
giáo sư triết học ở đại học Duke, David Wong, thừa nhận, “Truyền thống
chính trị và đạo đức của châu Á nhấn mạnh nhiều hơn đến việc cung cấp
sự phồn thịnh vật chất và trật tự. Và các quyền dân sự thì không được
đảm bảo”.
Wong đồng chủ biên cuốn
Confucian Ethics, một tuyển tập tiểu
luận do nhà xuất bản đại học Cambridge ấn hành năm ngoái. Ông đồng ý
rằng văn hoá công xã của Đông Á một phần bắt nguồn từ Nho giáo, ý thức
hệ cầm quyền tại Trung Hoa từ thế kỷ thứ Hai trước Công nguyên (và tại
Việt Nam từ thế kỷ 11). Nó có ảnh hưởng trong mọi lĩnh vực, từ chương
trình học ở trường, đến kỳ thi tuyển viên chức và quan hệ phụ tử. Wong
nghĩ rằng có thể thấy một ít hơi hướm về quyền cá nhân trong Nho giáo,
nhưng “anh phải rút tỉa thì mới thấy; chúng không hiện rõ mồn một trong
sách”.
Một số tác giả trong cuốn
Confucian Ethics không nghĩ rằng
rút tỉa quyền cá nhân từ Nho giáo là một ý hay. Henry Rosemont Jr.,
giáo sư danh dự ở trường St. Mary tại Maryland, nói Nho giáo tốt hơn lý
thuyết về quyền của Tây phương trong việc làm nền tảng cho những quyền
kinh tế và xã hội tích cực. Rosemont cảm thấy thật khó đi từ quyền có
tự do (nói theo cách của John Locke là quyền được để yên) đến trách
nhiệm cho người khác thụ hưởng giáo dục và y tế. Nho giáo, với sự nhấn
mạnh đến thúc đẩy hoà hợp và thịnh vượng cộng đồng và đến việc hoàn
thiện vai trò và trách nhiệm xã hội của bản thân, không hề có khó khăn
như thế. Rosemont viết, “Với tôi, việc nghiên cứu Nho giáo cổ điển
chứng tỏ rằng những lý thuyết chính trị và luân lý hướng đến quyền có
sai lầm”.
Nhưng các tác giả khác trong cuốn
Confucian Ethics phản bác
luận điểm rằng Nho giáo không tương thích với luân lý dựa trên quyền
kiểu phương Tây, và cũng không khiến luân lý phương Tây trở nên vô ích.
Giáo sư triết học ở đại học Hồng Kông, Chad Hansen, thấy một giá trị
trong sự ưu tiên của Nho giáo đối với nhu cầu tu tâm dưỡng tánh và cảm
thức hổ thẹn trước việc thực hành pháp luật.
“Lời bình mà tôi ưa thích nhất về vấn đề này là trong
Luận ngữ,
đoạn 2:3”, Hansen nói trong một cuộc phỏng vấn, dẫn ra đoạn đối thoại
giữa Khổng Tử và các đồ đệ: “Đạo chi dĩ chính, tề chi dĩ hình, dân miễn
nhi vô sỉ. Đạo chi dĩ đức, tề chi dĩ lễ, hữu sỉ thả cách”.
[1]
Hansen cho rằng triết lý này không phải không liên quan đến tỉ lệ
tội phạm rất thấp ở Đông Á. Nhưng ông không thấy có gì chính đáng khi
các chính thể chuyên chế dùng di sản Nho giáo để biện minh cho việc bỏ
qua các quyền cá nhân hay nguyên tắc pháp trị.
Hansen cũng chỉ ra rằng Nho giáo chỉ là một trong nhiều triết
thuyết đua tranh với nhau tại Trung Quốc, chứ chưa nói đến phần còn lại
của châu Á. Nho giáo nguyên thuỷ, được Nho Tử, Mạnh Tử và Tuân Tử xây
dựng từ thế kỷ thứ Năm đến thứ Ba trước Công nguyên, đã đối diện sự đua
tranh gay gắt của Mặc gia, một thuyết đề cao tư tưởng kiêm ái, và Pháp
gia, tập trung vào luật pháp và hình phạt để thay thế trách nhiệm và
nhân tâm. Khi Pháp gia, trong một giai đoạn ngắn ngủi, trở thành ý thức
hệ chính thống của nhà Tần (221-206 trước CN), Nho giáo gần như bị dẹp
tan, tuy rằng sau đó nó được phục hồi dưới triều Hán.
Phật giáo và Lão giáo cũng vô
cùng quan trọng trong việc định hình
văn hoá và luân lý Trung Quốc.
“Lão giáo là triết lý về sự
không gò bó,
đa nguyên, dung thứ sự khác biệt”, Hansen chỉ ra
trong một cuộc phỏng
vấn. “Định hướng căn bản của Nho giáo cho rằng mục
tiêu của chính quyền
là đưa con người vào một khuôn tư duy. Lão
giáo nói, ‘Thật là một ý
tưởng nhạt nhẽo – tại sao anh lại muốn như thế?’”.
Ngoài ra, trong phần lớn giai đoạn cộng sản, Nho giáo là một danh
từ xấu ở cả Trung Quốc và Việt Nam, là tàn tích của thời phong kiến mà
mục tiêu hoà hợp xã hội của nó đi ngược lại học thuyết đấu tranh giai
cấp vĩnh viễn của Mao. Chỉ đến bây giờ, khi chủ nghĩa cộng sản đã yên
vị là học thuyết chính thống, ông Hồ Cẩm Đào mới có thể cho Đảng một
khẩu hiệu mới, với phong vị Nho giáo không lẫn vào đâu được: “Xã hội
Đại đồng”.
Cuộc khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997
– khi đồng tiền của
Indonesia, Thái Lan, Philippines, và Nam Hàn lần
lượt sụp đổ – đã giáng
mạnh vào lý thuyết Giá trị châu Á.
Mặc dù các phân tích gần đây đổ
nhiều lỗi cho việc các nhà đầu tư Tây phương
hãi sợ và việc thiếu kiểm
soát dòng lưu chuyển vốn, nhưng vào thời điểm bấy
giờ, dư luận chung là
các chính phủ và ngân hàng châu
Á đã che giấu khiếm khuyết tài chính
thông qua chủ nghĩa bằng hữu, tham nhũng và thiếu minh
bạch. Các nhà
phê bình phương Tây bắt đầu mạnh mẽ phản ứng lại
trước các tuyên bố về
tính ngoại lệ văn hoá của châu Á; họ
nói cuộc khủng hoảng chứng tỏ nhu
cầu cần có pháp trị, tự do thông tin và sự
hồ nghi với chính quyền
trong các nền kinh tế hiện đại.
Trong hoàn cảnh này, ngay cả Trung Quốc cũng bắt đầu nhận ra là
chống lại các tuyên ngôn về nhân quyền phổ quát thì không có lợi bằng
việc thừa nhận chúng.
“Về nguyên tắc, do họ muốn tìm bạn bè và quan hệ quốc tế, nên họ
thừa nhận tính phổ quát của nhân quyền”, Bruce Van Voorhis, từ Uỷ ban
Nhân quyền châu Á đặt ở Hồng Kông, nói. “Nhưng họ không thật sự thực
thi nguyên tắc này”.
Dĩ nhiên, ngày hôm nay, càng khó hơn cho Trung Quốc nếu họ khăng
khăng rằng lo ngại nhân quyền chỉ do bên ngoài áp đặt, khi mà nhiều
người cổ võ cho nhân quyền cũng là người Trung Quốc.
“Một công dân bình thường hiện nay nhận thức
rõ hơn về quyền của
mình”, John Kamm từ tổ chức Dui Hua khẳng định. “Họ
đã thực thi quyền
phản đối của mình. Mức độ xảy ra các vụ biểu tình
tại địa phương rất
đáng kinh ngạc” – chỉ trong năm ngoái
đã có 74.000 vụ. Kamm cũng nhắc
đến việc loan báo của Trung Quốc hồi tháng Mười rằng mọi
án tử hình sẽ
được Toà án Tối cao xem lại. Điều này theo sau
thái độ chống án tử hình
trong dư luận được một hội nghị ở Hồ Nam hồi tháng Giêng
nhắc tới. “Đó
là một cải cách về nhân quyền được lòng
dân. Như thế nó không còn là sự
áp đặt từ ngoài nữa”.
Tổ chức Dui Hua thâu thập danh sách khoảng 400 tù nhân chính trị
được cho là bị chính phủ Trung Quốc giam giữ. Ông Kamm ước tính con số
đầy đủ còn cao hơn gấp 10 lần. Và mặc dù nhiều nhà hoạt động chính trị
là trí thức có trình độ đại học, nhưng một số lượng nhiều hơn lại là
các công dân bình thường tiếp xúc với các ý tưởng dân chủ nhờ những
sáng kiến dân chủ làng xã được chính quyền đưa vào cuối thập niên 1980.
Tất cả những điều này không có ý nói rằng Trung Quốc hay Việt Nam
sẽ trở thành mảnh đất màu mỡ của chủ nghĩa tự do cá nhân. Nhưng sau hơn
một thế kỷ hiện đại hoá nhanh chóng, và sau những thập niên phát triển
chủ nghĩa tư bản và tự do chính trị, các học thuyết chính trị phát
triển ở phương Tây trong Cách mạng Công nghiệp cũng đã bắt rễ tại nơi
này. Ông Hồ Cẩm Đào là một ví dụ: lãnh đạo của một đảng chính trị dựa
trên những tư tưởng sinh ra ở Áo thế kỷ 19, và nay đang thích nghi với
các học thuyết thị trường tự do đã phát triển ở Washington thế kỷ 20.
Những dấu vết của luân lý Nho giáo tại Trung Quốc và Việt Nam vẫn
sâu sắc, trên bàn thờ gia tiên, trong gia đình, trong quan hệ thân tộc
gắn bó đến kinh ngạc, trong sự tôn kính dành cho người lớn tuổi hơn.
Nhưng luân lý của các quyền cá nhân cũng lại tồn tại nơi này. Thực tế,
chúng đứng ở trung tâm của nhà nước châu Á hiện đại.
Việt Nam chính thức xác định ngày độc lập là 2-9-1945 khi ông Hồ
Chí Minh bước lên lễ đài ở quảng trường Ba Đình tại Hà Nội và tuyên bố
đất nước đã lấy lại độc lập từ tay Pháp. “Hỡi đồng bào cả nước” ông Hồ
nói, lấy cảm hứng từ một kim chỉ nam có lẽ khá khác biệt với những Sách
trắng gần đây. “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo
hoá cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền
ấy có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc".
Chính những người châu Á, chứ không phải
người Mỹ, đang bắt đầu buộc chính phủ của họ phải thực thi những
lời hứa ấy.
Matt Steinglass sống ở Hà Nội và viết báo cho tờ
Boston Globe cùng một số ấn phẩm khác.
© 2005 talawas
[1]Tiết
3, chương “Vi chính đệ nhị”, bản dịch của
Đoàn Trung Còn (Sài Gòn,
1950): Nếu nhà cầm quyền chuyên dùng pháp
chế, cấm lệnh mà dắt dẫn dân
chúng; chuyên dùng hình phạt mà trị
dân, thì dân sợ mà chẳng phạm pháp
đó thôi, chớ họ chẳng biết hổ ngươi. Vậy muốn dắt dẫn
dân chúng, nhà
cầm quyền phải dùng đức hạnh; muốn trị dân, nhà cầm
quyền phải dùng lễ
tiết, thì chẳng những dân biết hổ ngươi, họ lại còn
cảm hoá mà trở nên
tốt lành.